Đặc điểm nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN HÀ THỊ ANH ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT THƠ HỮU THỈNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số : 60220120

Nsgười hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Khánh Thành


2.2. Hệ thống hình tượng tiêu biểu trong thơ Hữu Thỉnh 35
2.2.1. Hình tượng con đường 35
2.2.2. Hình tượng biển đảo 40
2.2.3. Hình tượng đoàn quân và người lính 45
CHƯƠNG 3. CÁCH TỔ CHỨC TÁC PHẨM THƠ HỮU THỈNH 58 Đặc điểm nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh
Hà Thị Anh – Cao học Văn K54
2
3.1. Tưởng tượng và liên tưởng 58
3.2. Tổ chức không gian, thời gian 64
3.2.1. Không gian nghệ thuật. 64
3.2.1.Thời gian nghệ thuật 70
3.3. Tổ chức câu thơ, lời thơ 77
3.4. Nghệ thuật tu từ 88
3.4.1. Nghệ thuật so sánh 89
3.4.2. Nghệ thuật ẩn dụ 93
3.4.3. Nghệ thuật nhân hoá 96
KẾT LUẬN 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

với con người Việt Nam. Đặc điểm nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh
Hà Thị Anh – Cao học Văn K54
4
Hữu Thỉnh được bạn đọc biết đến lần đầu qua những vần thơ đăng báo
Giáo dục thời đại năm 1962 nhưng đến năm 1973 với giải ba cuộc thi thơ trên
báo Văn nghệ ông đã ghi được dấu ấn thơ mình vào tâm trí bạn đọc với bài
Mùa xuân đi đón. Đó là ghi nhận thành công bước đầu của một tiếng thơ trữ
tình, đằm thắm đang trên con đường tìm kiếm và khai thác những vẻ đẹp bình
dị mà cao quý của cuộc sống, con người và thiên nhiên. Năm 1975 – 1976,
Hữu Thỉnh lại đạt giải A cuộc thi trên báo Văn nghệ với tác phẩm Chuyến đò
đêm giáp ranh và Trường ca Sức bền của đất. Sự già dặn về nghệ thuật và tài
năng càng được khẳng định khi ông liên tiếp nhận được các giải thưởng: Giải
thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1980 cho trường ca Đường tới thành
phố, giải Nhất cuộc thi thơ do Bộ Đại học – Trung học chuyên nghiệp và
Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh tổ chức năm 1991 với
bài Thưa thầy, giải thưởng xuất sắc của Bộ Quốc phòng năm 1994 với
Trường ca Biển. Đặc biệt tập thơ Thư mùa đông đã đem lại cho Hữu Thỉnh
nhiều vinh dự: giải A của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1995 và giải thơ
ASEAN của Hoàng gia Thái Lan năm 1999.
Những giải thưởng lớn về thơ đã ghi nhận sức sáng tạo bền bỉ không
mệt mỏi, những thành công và đóng góp đáng kể của Hữu Thỉnh trong thơ ca
chống Mỹ cũng như thơ ca hiện đại Việt Nam. Nhưng điều quan trọng hơn
mọi giải thưởng, mọi cuộc thi thơ là “sức bền” của những tác phẩm, những
câu thơ trong lòng bạn đọc. Lưu Khánh Thơ đã từng nhận xét: “Hữu Thỉnh có
cái may mắn là khá nhiều bài thơ và trường ca của anh qua sự thẩm định của
thời gian vẫn có giá trị tương đối ổn định”[80,75]. Không những thế có
những vần thơ mới mẻ, độc đáo của ông đã bén duyên ca nhạc. Bài thơ Năm

được do Bộ Quốc phòng, Hội Nhà văn trao tặng. Đặc biệt với tập thơ “Thư
mùa đông” Hữu Thỉnh đã nhận được giải thưởng thơ ASEAN 1999.
Với nhiều giải thưởng văn học có giá trị, Hữu Thỉnh là nhà thơ có sức
tìm tòi sáng tạo nghệ thuật bền bỉ. Ông luôn có những khám phá mới, thú vị Đặc điểm nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh
Hà Thị Anh – Cao học Văn K54
6
trên con đường nghệ thuật. Thơ ông có chiều sâu về nội dung, giàu chất thơ
và tính nhạc nên đã tạo sự lôi cuốn và thu hút đối với bạn đọc. Trong bài viết
“Đọc đường tới thành phố” của Vũ Quần Phương in trên Tạp chí Văn nghệ
số 43, năm 1997 đã phát hiện “Hữu Thỉnh không xây dựng những tính cách
hoàn chỉnh, anh chỉ dừng lại đi sâu vào một vài tâm trạng, một vài mẫu
người. Phần xúc động nhất và tạo nên tầm khái quát của trường ca chính là
những người mẫu đó … Câu thơ Hữu Thỉnh chỗ này là những câu hay nhất
của trường ca ”[53,12]. Thiếu Mai cũng có những nhận xét khá tinh tế về
nhiều phương diện trong bài viết “Đọc Đường tới thành phố” của Hữu Thỉnh
“Cảm xúc dạt dào, phong phú và mạnh mẽ là chỗ mạnh của Hữu Thỉnh …
Trong lòng cuộc chiến đấu chống Mỹ vĩ đại của nhân dân, Hữu Thỉnh thường
nghĩ về những vấn đề lớn lao của đất nước, của thời đại. Anh khao khát thơ
mình phản ánh và lý giải được những điều đó Thành công chủ yếu nhất của
Hữu Thỉnh cũng chính là thể hiện vừa sâu, vừa tinh, vừa khái quát, vừa tỉ mỉ
chi li những tình cảm, những suy ngẫm của người chiến sĩ trong cuộc chiến
đấu chống Mỹ. Cái vững của ngòi bút Hữu Thỉnh là miêu tả trực diện những
tổn thất mà tác phẩm vẫn không chìm xuống trong không khí bi đát, trái lại
vẫn thấy được xu thế tiến lên của cuộc chiến đấu…”[38,12].
Qua sự sàng lọc của thời gian, các tác phẩm của ông vẫn tìm được chỗ
đứng trong lòng độc giả và lọt vào “con mắt xanh” của những nhà nghiên
cứu. Trần Mạnh Hảo viết về tập thơ “Thư mùa đông” với bài viết “Thư mùa

thơ đồng thời chỉ ra “sự đằm thắm, đôn hậu” và “chìm lắng yêu thương”
trong hồn thơ Hữu Thỉnh. Nguyễn Đăng Điệp với bài “Hữu Thỉnh và quá
trình tự đổi mới thơ” đăng trên Tạp chí Văn học số 9, năm 2003 đã đi sâu vào
những quan niệm và ý thức đổi mới thơ ca của Hữu Thỉnh đã “đưa thơ về với
cuộc sống thường nhật”, khám phá bí ẩn thẳm sâu trong tâm hồn con người
bằng những suy tư chân thật tự đáy lòng mình. Hữu Thỉnh là thi sĩ của những
câu thơ đầy ma lực, nó như lôi dắt người đọc thôi miên trên các thi liệu dân
gian. Hành trình đổi mới thơ ông còn thể hiện ở việc đào sâu hơn nữa chất suy
tư trước đây để tạo nên một kiểu kết tinh mới. Đặc điểm nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh
Hà Thị Anh – Cao học Văn K54
8
Ngoài ra còn có nhiều bài viết khác như “Đồng cảm và sáng tạo”,
“Thực và ảo trong thơ Hữu Thỉnh”(Lý Hoài Thu),“Mấy ghi nhận về thơ
người lính của Hữu Thỉnh” (Trường Lưu), “Hữu Thỉnh gửi Thư mùa đông”
(Thanh Thảo), “Đọc Thư mùa đông ấm áp cõi lòng” (Mai Trang), “Quan
niệm thơ Hữu Thỉnh” (Phạm Quang Trung), “Hữu Thỉnh – nhà thơ và phía
khuất lấp cuộc đời” (Hoài Anh)… Đó là những ý kiến quý báu mang tới cho
chúng tôi cái nhìn khách quan và sâu sắc về thơ Hữu Thỉnh.
Tiếp nối những công trình đã có, luận văn đi vào nghiên cứu, tìm hiểu
“Đặc điểm nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh” để có một cái nhìn toàn diện về quá
trình sáng tạo nghệ thuật của Hữu Thỉnh. Trên cơ sở đó người viết mong góp
tiếng nói nhỏ bé của mình cùng với các bài viết, các công trình nghiên cứu đã
có để khẳng định đầy đủ, sâu sắc hơn sự nghiệp thơ Hữu Thỉnh.
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu “Đặc điểm nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh” nhằm phát hiện ra
những tìm tòi, đổi mới trong sáng tạo nghệ thuật của Hữu Thỉnh và tính khu

4.4. Phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp.
5. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Hành trình sáng tạo thơ Hữu Thỉnh và hướng tiếp cận.
Chương 2: Cách tiếp cận đời sống và hệ thống hình tượng tiêu biểu
trong thơ Hữu Thỉnh.
Chương 3: Cách tổ chức tác phẩm thơ Hữu Thỉnh. Đặc điểm nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh
Hà Thị Anh – Cao học Văn K54
10
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO
THƠ HỮU THỈNH VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN
1.1. Hành trình sáng tạo thơ Hữu Thỉnh
1.1.1. Thơ Hữu Thỉnh những năm tháng chống Mỹ và thời kỳ hậu
chiến
Năm 1964 khi đế quốc Mỹ mở rộng cuộc chiến tranh ra miền Bắc, cuộc
kháng chiến chống Mỹ bước vào thời kỳ mới, gay go, căng thẳng, khốc liệt và
dữ dội. “Chiến tranh càng mở rộng, càng ác liệt, thơ càng mở rộng kích
thước phát triển” [44,117]. Thời kỳ này thơ được coi là một mũi nhọn, có
tính xung kích nhất, lên tiếng kịp thời trước mọi biến cố lịch sử. Mặt khác thơ
nối liền tình cảm suy nghĩ của mỗi người thành tiếng nói cảm thông chung,
trở thành nhịp đập chung của trái tim toàn dân tộc. Thơ có mặt khắp mọi nơi
trong cuộc chiến tranh đầy đạn bom, khói lửa. Thơ hoà theo dòng người, theo
những đoàn quân “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, trong ba lô hành quân ra
trận, trong những đêm liên hoan văn nghệ, trên các tờ báo liếp “lịch sử thơ ca
dân tộc chưa từng biết đến thời kỳ nào mà thơ lại có được một cuộc sống
phong phú và sôi nổi đến thế” [44,117]. Chỉ trong vòng 10 năm (1965 - 1975)

Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình
(Đường tới thành phố)
Và mỗi nhà thơ bằng phong cách riêng của mình đã đem đến một cái
nhìn, một cách cảm nhận riêng về cuộc chiến tranh, con người, cuộc đời, nói
lên được một phần hiện thực lớn lao của đất nước. Cái nhìn của Phạm Tiến
Duật hướng về cái sôi động, xô bồ, lãng mạn như chính nhà thơ đã từng tâm
sự: “Nếu không có cuộc sống với những con người đa dạng, ồn ào, bao
quanh với xô bồ với chi tiết trôi chảy từng phút, từng giờ, thì hình như tôi
không có thơ” [64,141]. Đặc điểm nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh
Hà Thị Anh – Cao học Văn K54
12
Với Hữu Thỉnh ngày 29/6/1963 là ngày đáng ghi nhớ. Đó là ngày
chàng trai tuổi 21 vào bộ đội và được học lái xe tăng. Cuộc đời người lính
tưởng ngắn ngủi, chóng vánh ai ngờ nó đã gắn bó với Hữu Thỉnh gần 27 năm.
Từ người lính Hữu Thỉnh đã bước vào thi ca bằng sự trong trẻo và tràn đầy
nhiệt huyết. Bàn chân người lính – nhà thơ Hữu Thỉnh đã trải qua “chiến
trường đường 9 Nam Lào, Khe Sanh, Quảng Trị, Tây Nguyên, chiến dịch Hồ
Chí Minh với tư cách là phóng viên mặt trận …”[90,3]. Được sống chiến đấu
và cầm bút trong những năm tháng cam go, khốc liệt và bão lửa nhất của cuộc
chiến tranh thơ Hữu Thỉnh đã chạm vào luồng xiết của đời sống dân tộc và
thể hiện một cách sống động qua hồn thơ nhạy cảm của người lính lái xe tăng.
Bằng con mắt của người trực tiếp chiến đấu ngoài mặt trận, Hữu Thỉnh chú ý
nhiều đến sự kiện đời sống chiến tranh, không khí chiến tranh, cảm nhận và
cách nhìn về chiến tranh. Những sự kiện này luôn mang sức nặng biểu cảm và
có giá trị thuyết phục bởi tính chân xác của nó qua những trải nghiệm thực sự,
hết mình của người lính. Cái nhìn đối với hiện thực ấy gọi là “thi pháp xác
thực” “thi pháp của người trong cuộc” [51,37].

Khi hãng Phương Tây đưa tin nhớn nhác…
(Sau trận đánh)
Tập thơ Tiếng hát trong rừng chủ yếu ghi lại cảm xúc của nhà thơ khi
chiến đấu ở Trường Sơn. Những bài thơ ngắn trong tập thơ này có ý nghĩa
như sự chuẩn bị, tạo đà cho các cảm xúc dài hơi của trường ca. Có thể coi Sức
bền của đất là bước trung chuyển từ những bài thơ ngắn sang trường ca dài
hơi và hoành tráng, bao quát một phạm vi rộng lớn đời sống và tâm hồn con
người – trường ca Đường tới thành phố. Trường ca Sức bền của đất có quy
mô nhỏ gồm 118 câu thơ với ba khúc: Mẹ chiến hào; Đất đai truyền thuyết;
Những đứa con và những bài hát mới đã ghi lại tâm tình của người lính cách
mạng đang giữ chốt. Ở nơi tiền tiêu hàng ngày giáp mặt với quân thù, nhà thơ
suy tư về nguồn gốc sức mạnh của bản thân và đồng đội, sức mạnh nhận từ
lòng mẹ, từ đất đai, từ các thế hệ đi trước, từ cội nguồn văn hóa của dân tộc. Đặc điểm nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh
Hà Thị Anh – Cao học Văn K54
14
Đường tới thành phố là cột mốc đánh dấu sự trưởng thành và nở rộ tài năng
về thể loại trường ca, tập trung đầy đủ, hoàn thiện nhất những đòi hỏi mà thể
loại trường ca cần phải có. Đây là trường ca dài nhất của Hữu Thỉnh gồm 5
chương và 1539 câu thơ, là bản tổng kết chiến tranh bằng thơ ca, cho ta hình
dung chặng cuối cùng đi tới đích toàn thắng của dân tộc trong cuộc kháng
chiến chống Mỹ. Nó là bản “tổng phổ” của biết bao cảnh ngộ, cùng những hy
sinh chịu đựng và suy tư trăn trở của nhân dân. Tất cả mọi mảng khối của
hiện thực rộng lớn đó không tồn tại trong trường ca này một cách rời rạc,
chắp vá mà được liên kết gắn bó keo sơn bằng sợi dây cảm xúc và mạch suy
nghĩ, liên tưởng của nhà thơ. Biểu hiện lên bề mặt là chương này gọi chương
kia, khúc này gọi khúc kia; hình tượng này gợi ra để mở ra một hình tượng
khác. Hữu Thỉnh như một người nghệ sĩ tài ba điều khiển một dàn nhạc giao

Khi anh hiểu nhân dân, nhân dân đang chia cắt
Yêu Tổ quốc mình, Tổ quốc bị chia đôi
Nỗi đau ấy, góp đời mình để xoá
(Đường tới thành phố)
Thơ Hữu Thỉnh luôn biểu hiện được một cách tự nhiên về cuộc sống,
điều này tạo nên sức sống cho hồn thơ ông. Trong thơ ông luôn hoà quyện
giữa hiện thực và lãng mạn qua hình ảnh người lính nơi chiến trường:
Nhạc làm trong rừng em hát giữa trường Sơn
Người sốt rét hát cho người sốt rét
(Tiếng hát trong rừng)
Những người lính đã hát với tất cả tâm hồn của tuổi trẻ, đầy nhiệt huyết
và ngập tràn tình yêu thương. Họ hát để truyền đến cho nhau những niềm vui
trong cuộc sống, để cùng nhau vượt lên những khó khăn gian khổ. Những Đặc điểm nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh
Hà Thị Anh – Cao học Văn K54
16
năm tháng đó khiến nhà thơ phải thốt lên “Những năm Trường Sơn bạn bè
trong trẻo quá”. Tình đồng đội được thể hiện ở mọi lúc, mọi nơi, trong sinh
hoạt của cuộc sống thường ngày cũng như trong chiến đấu. Tâm hồn của họ
luôn nhạy cảm với thế giới xung quanh. Đó là những gian khổ đã trở thành ký
ức. Đó là những cảnh vật quê hương từ giọt gianh đến chiếc chõng tre, cái dây
phơi… Đó là tình quê hương, làng xóm, tình quân dân, đó là hình ảnh người
mẹ, người vợ, người chị… tất cả đều hiện lên rất đỗi thân quen và cũng vô
cùng xúc động.
Thơ viết về chiến tranh và thời kỳ hậu chiến của Hữu Thỉnh thấm
nhuần chất sử thi và cái cao cả, nằm trong giới hạn kiểu nhà thơ trữ tình công
dân, thể hiện cái tôi của thi ca cách mạng hiện đại. Mang đặc điểm của một
hồn thơ hồn hậu, giầu suy tư, thơ viết về chiến tranh của Hữu Thỉnh có kết

thơ thế sự rất thật và rất mới so với văn học trước đó. Cái tôi trở thành trung
tâm phản ánh của thơ ca. Nhận xét về cảm hứng chủ đạo của thơ trữ tình sau
năm 1975, Vũ Văn Sĩ viết: “Nó hướng tới các mối quan hệ thế sự, hướng tới
số phận riêng lẻ. Các nhà thơ đã đặt lên hàng đầu cái thế giới nội cảm và
những kinh nghiệm sống của mình như một kiểu tư duy và đạt tới sức mạnh
cảm hứng”[32,121].
Bước sang một chặng đường phát triển mới của đất nước, giờ đây cuộc
sống lại trôi theo một dòng chảy đầy biến động, thơ Hữu Thỉnh lại mang đến
cho bạn đọc một nguồn cảm hứng và phong cách sáng tạo mới. Đó chính là
nguồn cảm xúc phong phú trong cuộc sống đã thổi vào thơ ông nhưng vẫn
Hữu Thỉnh ấy, chân thành và đa cảm, giản dị mà tinh tế. Gần mười lăm năm
tìm đoạn đường phát triển tiếp theo cho thơ mình để cùng một lúc ông đã cho
ra mắt hai tập thơ “Trường ca Biển” và “Thư mùa đông” và tiếp theo là tập
thơ “Thương lượng với thời gian” đã đánh dấu và khẳng định thơ Hữu Thỉnh
trong nền thơ đương đại Việt Nam. Những sáng tác của Hữu Thỉnh trong thời
kỳ này đã thể hiện cách nhìn nhận đánh giá cuộc đời với những suy ngẫm của
một con người đang trăn trở trước cuộc sống đầy những thử thách khó khăn. Đặc điểm nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh
Hà Thị Anh – Cao học Văn K54
18
Ở những tập thơ này hồn thơ Hữu Thỉnh đi vào những cuộc đối thoại
với cái vô cùng, với cõi trần thế và chứa đựng cả trong đó nỗi cô đơn. Thơ
ông đã mang nét của sự từng trải trong cuộc sống nên đã mất đi sự hồn nhiên
nhưng đạt tới triết lý nhân sinh sâu sắc. Trong cái tôi trữ tình của Hữu Thỉnh
vẫn có cái tôi người lính và có cả cái tôi cá nhân cô đơn, xót xa, nhiều lo âu
và dự cảm đau buồn trước cuộc sống đô thị hiện đại nhưng đậm nét hơn cả là
một cái tôi hòa vào cái chung của dân tộc. Đó chính là phẩm chất đầu tiên của
nhà thơ chân chính. Tiếp nối đề tài về vận mệnh Tổ quốc, hình tượng người

Trường ca Biển là hành trình đi tới biển cùng với những gian lao của
người lính thì Thư mùa đông và Thương lượng với thời gian là hành trình đi
“tìm người”, tìm trong thất vọng rồi hy vọng những giá trị nhân bản mà cuộc
sống xô bồ trước mắt làm mờ đi, chìm lấp đi. Những giá trị ấy là hạnh phúc,
là sự đồng cảm, là tình yêu thương giữa con người với con người. Cảm hứng
chủ đạo ở mảng thơ viết về chiến tranh là cảm hứng sử thi, cảm hứng trước
cái cao cả, trong niềm say mê khẳng định tình yêu lớn, lẽ sống lớn thì cảm
hứng chủ đạo trong thơ viết về cuộc sống thời bình là cảm hứng đời tư – thế
sự, mang theo nỗi đắng cay của thế sự, niềm bâng khuâng trước sự đổi thay,
nỗi cô đơn trăn trở trước số phận con người mà chưa tìm thấy tri âm, tri kỷ.
Thơ Hữu thỉnh thời kỳ này phản chiếu cuộc sống thường nhật, trở về
cuộc sống đời thường, những nhìn nhận về tình đời, về lẽ sống, về thân phận
cá nhân trong cõi nhân gian đôi lúc phải tìm về nương tựa vào những giá trị
truyền thống. Với một loạt các bài: Nghe tiếng cuốc kêu, Hạnh phúc, Tự thú,
Người bộ hành lặng lẽ, Năm tháng trên vai…đã thể hiện rõ xu hướng hiện
thực, đời thường hóa. Cái tôi của nhà thơ luôn trăn trở, nghĩ suy, tự vấn về
nhân tình thế thái và về bản thân. Dường như cùng với thời gian và sự trải
nghiệm của cuộc đời cái tôi ấy càng trở nên tỉnh táo và duy lý hơn trong cách Đặc điểm nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh
Hà Thị Anh – Cao học Văn K54
20
nhìn đời, nhìn người. Hữu Thỉnh luôn thường đặt ra nhiều câu hỏi, nhiều giả
thiết để tự mình chất vấn, ngẫm ngợi và nhiều khi bỏ ngỏ để bạn đọc cùng suy
ngẫm:
Nguyễn Du viết Kiều hơn hai trăm năm
Gió vẫn lạnh trên vai người phận bạc
Chèo Quan Âm trẻ già đều thuộc
Nỗi oan khuất ở đời nào đã chịu vơi đâu

hoá, tính cách dân tộc, là “nếp cảm, nếp nghĩ của anh cũng gần gũi với diễn
biến tình cảm, sức chịu đựng và ứng xử của con người Việt Nam”[26,56].
Cách thể hiện vừa tinh tế, vừa chân thành. Lời thơ vừa êm dịu vừa như lời
tâm sự, bộc bạch nỗi lòng mình. Ông lấy cái mênh mông của biển cả với mây
trời, sóng nước và gió trăng để thi vị hoá những cảm xúc, thể hiện những khát
vọng của tình yêu. Trước biển nhà thơ cảm nhận sự trống vắng, cô đơn vô tận
của lòng mình và đưa ra triết lý tình yêu của riêng mình:
Anh xa em
Trăng cũng lẻ
Mặt trời cũng lẻ
Biển vẫn cậy mình dài rộng thế
Vắng cánh buồm một chút cũng cô đơn
Gió không phải là roi mà vách núi phải mòn
Anh không phải là chiều mà nhuộm anh đến tím
(Thơ viết ở biển)
Tâm hồn ấy đã đưa cả trời biển để nói hộ tâm tư tình cảm của mình.
Cảm xúc của Hữu Thỉnh như nước vỡ bờ tràn cả ra ngoài trang giấy bằng lối Đặc điểm nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh
Hà Thị Anh – Cao học Văn K54
22
suy tưởng lãng mạn, lấy mơ mộng mà nghĩ ngợi, lấy cái hư diễn đạt cái thực.
Hữu Thỉnh đã đưa đến cho bạn đọc những khám phá mới, những luồng rung
cảm xúc động sâu thẳm trong tâm hồn, một khía cạnh hoàn toàn mới mẻ trong
tình yêu và đã cảm hóa được lòng người. Ngòi bút của Hữu Thỉnh tinh tế và
thanh thoát, phong phú mà nhẹ nhõm, bộc lộ khả năng tự phân tích cảm giác,
cảm xúc của mình một cách tỉ mỉ, tinh tường. Chất trí tuệ trong thơ ông không
chỉ quy tụ ở vẻ đẹp của những suy tưởng mà còn bộc lộ trong cảm xúc và hình
ảnh thơ. Thơ Hữu Thỉnh tiêu biểu cho một hướng đi nhiều triển vọng, giầu sức

tác phẩm đích thực”[36,38].
Arixtốt trong Nghệ thuật thi ca cũng khẳng định: “Có say mê nồng
nhiệt mới có khả năng rơi vào sự đắm đuối ngây ngất” và “chỉ có người nào
xúc động thật sự mới làm người khác xúc động, chỉ có người nào phẫn nộ mới
làm người khác phẫn nộ mà thôi” [1,22]. Là bộ phận quan trọng hình
thành nên nội dung tác phẩm, cảm hứng biểu hiện cao độ mãnh liệt của sự đánh
giá đối tượng nhận thức, phản ánh. Cảm hứng được coi là linh hồn của bài thơ.
“Cảm hứng chính là thời điểm mà sự sống bên trong đã tích tụ, ấp ủ, lên men
sáng tạo, thời điểm mà ngọn lửa thơ ca bùng cháy”[64,49].
Cảm hứng bắt nguồn từ cuộc sống. “Cuộc sống sẽ nuôi dưỡng và bồi
đắp cảm xúc của người nghệ sĩ luôn tươi mát càng thêm phong phú”[61,51].
“Đó là trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm, xuyên suốt tác phẩm nghệ
thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác
động đến cảm xúc của người tiếp nhận tác phẩm”[36,38]. Như vậy cốt lõi của
nguồn cảm hứng sáng tạo là tư tưởng, là quan niệm của nhà thơ về thế giới.
Nhưng nguồn cảm hứng sáng tạo và tư tưởng của một tác giả không phải là
những khái niệm chung chung trừu tượng hay những cảm xúc vụn vặt mà hoá
thân trong thế giới hình tượng nghệ thuật của nhà thơ. Đặc điểm nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh
Hà Thị Anh – Cao học Văn K54
24
1.2.2. Hệ thống hình tượng tiêu biểu
Con người sống trong tự nhiên và trong xã hội bao giờ cũng phải tiếp
xúc với thế giới xung quanh. Quá trình tiếp xúc với thế giới là khởi nguồn của
nhận thức. Nhận thức là một quá trình gồm nhiều giai đoạn mà giai đoạn đầu
tiên là trực quan sinh động, là sự cảm thụ trực tiếp thế giới bằng các giác
quan. Cảm thụ là hoạt động tâm lý tiếp nhận trực tiếp sự tác động của thế
giới. Đầu tiên là những tác động vật lý, ánh sáng, âm thanh, hình khối, màu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status