MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 3
I. Lý do chọn đề tài 3
II. Lịch sử vấn đề 4
III. Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu 6
IV. Phương pháp nghiên cứu 7
V. Đóng góp của đề tài 7
VI. Cấu trúc của đề tài 7
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 8
1.1. Khái niệm thơ và ngôn ngữ thơ 8
1.1.1. Khái niệm thơ 8
1.1.2. Khái niệm ngôn ngữ thơ 10
1.1.3. Đặc trưng ngôn ngữ thơ 12
1.1.4. Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức trong thơ 19
1.2. Phạm Tiến Duật – cuộc đời và thơ văn 20
1.2.1. Cuộc đời Phạm Tiến Duật 20
1.2.2. Thơ và sáng tác của Phạm Tiến Duật 22
CHƯƠNG II: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THƠ PHẠM TIẾN DUẬT
XÉT VỀ PHƯƠNG DIỆN HÌNH THỨC 24
2.1. Đặc điểm về các thể thơ 24
2.1.1. Thể thơ 5 chữ 25
2.1.2. Thể thơ 7, 8 chữ 27
2.1.3. Thể thơ lục bát 31
2.1.4. Thể thơ tự do 33
2.2. Đặc điểm về ngữ âm trong thơ Phạm Tiến Duật 37
2.2.1. Âm điệu 37
2.2.2. Vần điệu 40
2.2.3. Nhịp điệu 48
2.3. Đặc điểm về cách tổ chức bài thơ trong thơ Phạm Tiến Duật 53
2.3.1. Đặc điểm về tiêu đề 53
nhiều nhà thơ, nhà văn thuộc các tầng lớp, các thế hệ khác nhau, trong và ngoài
quân đội đã viết về cuộc sống của con người trong chiến tranh.
Mỗi nhà thơ, bằng nỗ lực của mình, đã đem đến một cách nhìn, một cách
viết, một phong cách riêng. Nhiều nhà thơ (của thế hệ đi trước) đã tập trung khám
phá đề tài về Tổ quốc trong bề rộng của không gian, trong chiều dài của thời gian.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ được cảm nhận như một cuộc ra quân hùng hậu “Bốn
mươi thế kỷ cùng ra trận”, mang sức mạnh, khí thế của “Bốn nghìn năm dồn lại
hôm nay”. Có người đã bình luận rất thông minh, sắc sảo về chiến tranh, nói tới tầm
vóc thời đại, ý nghĩa nhân loại của nó, Tuy vậy, bức tranh toàn cảnh về cuộc
kháng chiến chống Mỹ vẫn còn khuyết đi một mảng hiện thực rất cần được bổ sung.
Người đọc chờ đợi sự xuất hiện của các nhà thơ “trực tiếp” cầm súng, “thật sự”
xông vào nơi đạn bom, để tự nói về mình, nói về những đồng đội của mình, qua đó
có thể thấy được gương mặt tinh thần chung của cả thế hệ trẻ cầm súng thời chống
Mỹ. Giữa lúc đó, Phạm Tiến Duật xuất hiện, đem đến cho nền thơ hiện đại Việt
Nam một tiếng nói mới.
Ta đi hôm nay đã không là sớm
Đất nước hành quân mấy chục năm rồi
Ta đến hôm nay cũng không là muộn
Đất nước, còn đánh giá chưa thôi
Vì vậy, nghiên cứu thơ chống Mỹ luôn là một đòi hỏi của bạn đọc, và đặc
biệt là nhà thơ chiến sĩ như Phạm Tiến Duật, chắc chắn sẽ thu hút được nhiều sự
quan tâm.
3
2. Cho đến nay đã có một số bài viết về tác phẩm và tác giả Phạm Tiến Duật
đăng trên các tuần báo văn nghệ, văn học, tạp chí văn học hoặc các bài viết trong
một số giáo trình, sách tham khảo về văn học giai đoạn 45 – 75. Nhiều bài viết đã đi
vào tìm hiểu thơ Phạm Tiến Duật trên phương diện nội dung, nghệ thuật, Tuy
nhiên ngôn ngữ thơ Phạm Tiến Duật đặc biệt là phong cách ngôn ngữ của thơ ông
chưa được khảo sát miêu tả, khái quát một cách cụ thể.
3. Thơ Phạm Tiến Duật đã được chọn vào giảng dạy trong nhà trường (“Bài
Mã Giang Lân (NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000) lại nhận định: “Các nhà thơ trẻ, từ
thực tế chiến tranh đã có nhiều tứ thơ độc đáo: Phạm Tiến Duật có “ Vầng trăng
và những quầng lửa” ” [27; tr 342]
“ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, đáng yêu, có cái say sưa, khinh
nhường nguy hiểm mà không có chút gì là phiêu lưu mạo hiểm” [27; tr 293]
“Lửa đèn đã mở rộng trí tưởng tượng, đã đào sâu, nhào nặn hiện thực, làm
nên tương lai” [27; tr 325].
Giáo trình “Văn học Việt Nam hiện đại” (Tập 2), Nguyễn Văn Long chủ
biên (NXB Đại học Sư Phạm) cho rằng: “thơ của Phạm Tiến Duật được coi như
“một bảo tàng tươi sống” về Trường Sơn (Đồ Trung Lai) trong những năm chống
Mỹ”. [44; tr 103]
“ cái giọng thơ như lời nói thường, tài hoa thông minh, tinh nghịch, pha
chút ngất ngưỡng, ngang tàng của Phạm Tiến Duật” [44; tr 120]
Trong cuốn “thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại”, tác giả Hà
Minh Đức (NXB Giáo dục, 1998) lại viết: “Phạm Tiến Duật đã giữ lại cách nghĩ,
cách nói “văn xuôi” mộc mạc, nhưng lại chân thực, sinh động và sát đúng với đối
tượng miêu tả”. [45; tr 31]
Tạp chí “Quân đội nhân dân”, tháng 12 năm 2007, nhà văn Nguyễn Văn Thọ
đã đánh giá về Phạm Tiến Duật: “đọc thơ Phạm Tiến Duật , người ta thấy rõ chân
dung đa diện của con người Trường Sơn, từ những người coi kho đến công binh,
thanh niên xung phong, chiến sĩ cao xạ, những chiến sĩ lái xe, mọi thành phần có
5
mặt trên đường đều được Phạm Tiến Duật khắc họa bằng thơ, chính điều đó đã làm
tăng thêm sự lan tỏa của thơ anh. Những người lính, đủ mọi thành phần, nhận ra
chính họ trong đó và đấy là điều cốt tử để thơ Phạm Tiến Duật mau chóng trở
thành một sinh thể có sức sống rất lâu trong tâm hồn của nhiều người. Cho mãi tới
sau này, khi cuộc chiến đã ngưng, thơ Phạm Tiến Duật vẫn khôn nguôi ám ảnh,
giành biết bao nhiêu tình sâu nghĩa nặng cho đồng đội của anh một thời”.
[51; tr27]
Với “thơ ca cách mạng Việt Nam – giai đoạn 1945 – 1975” (Những tác giả,
Đề tài sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp thống kê – phân loại: dùng khi khảo sát nguồn tư liệu theo
từng vấn đề cụ thể.
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: làm sáng tỏ từng luận điểm, khái quát
thành các đặc điểm cơ bản.
- Phương pháp so sánh – đối chiếu: so sánh đối chiếu với các nhà văn khác
về sử dụng ngôn ngữ để làm rõ những đặc điểm riêng về phong cách ngôn ngữ
Phạm Tiến Duật.
2. Phạm vi tư liệu
Tư liệu chúng tôi chọn để khảo sát là tập thơ “Vầng trăng và những
quầng lửa” gồm 57 bài (Nhà xuất bản văn học Hà Nội – 1983).
V. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Có thể nói đây là đề tài đầu tiên đi vào tìm hiểu, nghiên cứu đặc điểm ngôn
ngữ thơ Phạm Tiến Duật một cách toàn diện cả phương diện nội dung lẫn phương
diện hình thức.
VI. CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của đề tài gồm 3 chương:
- Chương I: Những vấn đề chung
7
- Chương II: Đặc điểm ngôn ngữ thơ Phạm Tiến Duật xét về phương diện
hình thức
- Chương III: Đặc điểm ngôn ngữ thơ Phạm Tiến Duật xét về phương diện
ngữ nghĩa.
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Khái niệm thơ và ngôn ngữ thơ
1.1.1. Khái niệm thơ
Trong sự phát triển của văn học nhân loại, thơ là loại thể ra đời sớm hơn cả
và liên tục phát triển mãi cho tới ngày nay. Ở nhiều dân tộc trong một thời gian
tương đối dài, các tác phẩm văn học đều được viết bằng thơ. Vì thế trong lịch sử
tiếp, lời nói của thi nhân phải là hình ảnh”. Cực đoan hơn là ý kiến của Hàn Mạc
Tử “Làm thơ tức là điên”. Có thể thấy trong thời kỳ này, các định nghĩa về thơ
phần nào đó có những yếu tố rất cơ bản từ những quan niệm của trường phái thơ
tượng trưng và siêu thực ở Pháp vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Họ thường lý
tưởng hóa hoặc đối lập một cách cực đoan giữa thơ ca và hiện thực cuộc sống. Kiểu
như: “thơ là sự hiện thân cho những gì thầm kín nhất và cho những hình ảnh tươi
đẹp nhất, âm thanh huyền diệu nhất trong tự nhiên” (La Martin).
Sau cách mạng tháng Tám nhất là sau năm 1954 chúng ta lại có điều kiện
tiếp xúc với nhiều ý kiến và quan niệm về thơ. Trước hết thơ là tiếng nói tâm hồn, là
sợi dây tình cảm ràng buộc con người với con người, là hành trình ngắn nhất đi đến
con tim. Quan niệm này được thể hiện rõ trong các định nghĩa sau: “Thơ là một tâm
hồn đi tìm những tâm hồn đồng điệu”, “Thơ là tiếng nói tri âm” (Tố Hữu). Hoặc
quan niệm thơ cải thiện cuộc sống, hoàn thiện con người. “Thơ biểu hiện cuộc sống
một cách cao đẹp” (Sóng Hồng), “Thơ là sự sống tập trung cao độ, là cốt lõi của
cuộc sống” (Lưu Trọng Lư).
Tiêu biểu cho các định nghĩa về thơ trong giai đoạn này có thể thấy là định
nghĩa của giáo sư Phan Ngọc. Trong bài viết “Thơ là gì” tác giả đã nêu lên: “Thơ là
một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ phải
9
cảm xúc do hình thức ngôn ngữ này” [33; tr 23]. Đây là cách định nghĩa khá lạ so
với thông thường, một cách định nghĩa theo hướng cấu trúc ngôn ngữ. Ý kiến này
đối lập hẳn thơ với cuộc sống hằng ngày và với cả văn xuôi.
Nói rằng hình thức ngôn ngữ thơ hết sức quái đản là nói rằng trong ngôn ngữ
giao tiếp không ai tổ chức như thế. Ngôn ngữ hằng ngày không tổ chức theo âm tiết,
vần, nhịp,
Định nghĩa trên của Giáo sư Phan Ngọc phần nào gặp gỡ quan niệm của tác
giả R.Jakobson (1896 – 1982). Jakobson đã xác định và chứng minh rằng: “Mỗi
chữ trong thơ đều bị biến tính, biến dạng, tức là bị “bóp méo” đi, so với ngôn ngữ
hàng ngày”. Làm thơ tạo ra một cấu trúc ngôn ngữ đặc dị, trái khoáy, khác thường.
Và chính ở sự khác thường biến dạng đó, nó mới gây “bất ngờ”.
của tác giả.
Do đó, sự láy đi láy lại một bộ phận hay toàn bộ lời nói (hệ hình nhịp, dòng,
vần, ) là đặc trưng của ngôn ngữ thơ mà làm cho thơ có một diện mạo đặc thù. Từ
đó nó có sức gợi hình ảnh, gợi sự liên tưởng đồng thời gây ấn tượng mạnh, có khả
năng lưu giữ, dễ nhớ, dễ truyền đạt.
Trong một công trình về ngôn ngữ thơ, tác giả Nguyễn Phan Cảnh còn khảo
sát cấu trúc thơ trên hai trục: ẩn dụ (trục lựa chọn) và hoán dụ (trục kết hợp) dựa
vào sức liên tưởng của người đọc “nhằm sử dụng một cách mỹ học chiều dày của
chất liệu ngôn ngữ thơ” [5; tr 92].
Từ đó tác giả đưa ra hai thao tác cơ bản của hoạt động ngôn ngữ là thao tác
lựa chọn và thao tác kết hợp. Thao tác lựa chọn dựa trên một khả năng của ngôn
ngữ là “các đơn vị ngôn ngữ có thể luân phiên cho nhau nhờ vào tính tương đồng
giữa chúng” [5; tr 16]. Thao tác kết hợp lại dựa trên khả năng khác của hoạt động
ngôn ngữ là “các yếu tố ngôn ngữ có thể đặt bên cạnh nhau nhờ vào mối quan hệ
tương cận giữa chúng” [5; tr 24]. Cũng theo tác giả nếu như văn xuôi làm việc
trước hết bằng thao tác kết hợp và trong văn xuôi lặp lại là một điều tối kỵ thì
ngược lại “chính cái điều văn xuôi rất tối kỵ ấy lại là thư pháp làm việc của thơ:
11
trong thơ, tính tương đồng của các đơn vị ngôn ngữ lại được dùng để xây dựng các
thông báo”.
Nếu như thao tác lựa chọn cho phép nhà thơ chọn một đơn vị trong một đơn
vị có giá trị tương đương với nhau có thể thay thế cho nhau trên trục dọc. Thì thao
tác kết hợp lại cho phép nhà nghệ sỹ, sau khi đã lựa chọn có thể tạo ra những kết
hợp bất ngờ, sáng tạo dựa trên những tiền đề vật chất mà ngôn ngữ cho phép. Người
nghệ sỹ sáng tác phải biết chọn lấy một đơn vị nào đó thật phù hợp, có khả năng
diễn tả được cảm xúc, sự đánh giá của mình trước đối tượng.
R.Jakobson cũng đã nói rằng: “Cái từ được chọn sẽ kết hợp với nhau thành
chuỗi. Việc tuyển lựa được tiến hành trên cơ sở tương đương nghĩa là trên cơ sở
của sự tương đồng hay bất tương đồng, tính đồng nghĩa hay phân nghĩa trong sự
kết hợp, tức xây dựng chuỗi ngôn ngữ thì căn cứ vào sự tiếp cận. Chức năng của thi
ngôn ngữ giàu nhịp điệu, phong phú về cách hòa âm, tiết tấu, giàu từ láy âm, tượng
hình, chính là thứ ngôn ngữ đầy tính nhạc. Bởi vậy, từ ngày xưa nhiều hình thức
ca hát dân gian đã lấy ngay thơ dân gian làm chất liệu sáng tác âm nhạc. Nhiều điệu
hò, nhiều bài đồng dao tồn tại cho đến tận hôm nay chính là một minh chứng đầy
thuyết phục. Trong ca dao hiện đại, nhiều bài thơ được lấy làm chất liệu để các nhạc
sỹ sáng tác cho bài hát của mình, như: Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải), Dáng đứng
Việt Nam (Lê Anh Xuân), Em đi chùa Hương (Nguyễn Nhược Pháp),
Nhạc thơ được tạo thành bởi các yếu tố chính sau: âm điệu, nhịp điệu, vần
điệu.
Âm điệu
Có thể hiểu âm điệu là sự hòa âm được tạo ra từ sự luân phiên xuất hiện của
các đơn vị âm thanh (tiếng), có những phẩm chất ngữ âm tương đồng và dị biệt trên
trục tuyến tính.
Trong tiếng Việt, nhờ tính đối lập mà âm tiết là đơn vị tạo nên âm điệu trong
tho cách luật Việt Nam. Ngữ âm tiếng Việt là sự tổng hòa các mặt: cao độ, cường
độ, trường độ, âm sắc. Do hoàn cảnh phát ngôn hay do âm lượng của nguyên âm
13
mà dẫn tới sự khác nhau giữa âm tiết này với âm tiết khác về cường độ. Nếu một
âm tiết kết thúc bằng nguyên âm hay bán nguyên âm thì có độ vang và khả năng
kéo dài trường độ lớn hơn âm tiết kết thúc bằng phụ âm tắc vô thanh.
Bên cạnh âm đầu, vần trong âm tiếng Việt, thanh điệu là yếu tố thứ hai thể
hiện tập trung nhất phẩm chất của thi phẩm. Khi nói đến cách hòa âm trong thơ Việt
Nam là nói đến cách hòa phối các thanh điệu, các cách kết hợp âm thanh theo một
kiểu nhất định nào đó Thanh điệu là sự nâng cao hay hạ thấp giọng nói trong mọi
âm tiết có tác dụng cấu tạo và khu biệt võ âm thanh của từ và hình vị. Cho nên nếu
ngữ điệu là đặc trưng của âm, trọng âm là đặc trưng của từ thì thanh điệu là đặc
trưng của âm tiết. Trong tiếng Việt, thanh điệu là yếu tố siêu đoạn bao trùm toàn bộ
âm tiết và là yếu tố cơ bản để tạo ra sự khác biệt về phẩm chất ngữ âm giữa âm tiết
này với âm tiết khác cho nên nó là đối tượng của âm điệu.
Thanh điệu phân biệt với nhau theo hai đặc trưng chủ yếu: độ cao và đường
giữa tiếng (âm tiết) này với tiếng (âm tiết) khác mà thôi”. Trong các vần thơ bao
giờ cũng có sự “cộng hưởng”, sự hòa xướng với nhau của hai âm tiết có vần. Để tạo
sự hòa âm cho các cặp vần đồng thời có tác dụng hòa phối , kết hợp, tương hỗ của
các yếu tố cấu tạo âm tiết (chẳng hạn như sự hòa phối âm tiết cuối và thanh điệu,
âm chính với âm cuối ) còn phải kể đến sự hòa xướng, đối lập nhau giữa các yếu tố
tương ứng giữa hai âm tiết hiệp vần. Đó là sự hòa âm giữa thanh điệu của âm tiết
này với thanh điệu của âm tiết kia, giữa âm chính, âm cuối của âm tiết này với âm
chính, âm cuối của âm tiết kia. Cho nên chúng ta thấy rất rõ âm tiết tiếng Việt cò vai
trò rất lớn trong việc tạo lập các vần thơ Việt Nam. Tất cả các yếu tố cấu tạo âm
tiếng Việt đều tham gia vào việc tạo nên sự khác biệt của vần thơ Việt Nam để tránh
lặp vần. Trong đó thanh điệu và âm chính, âm cuối là những yếu tố chính tham gia
vào việc tạo nên sự hòa âm cho các vần thơ.
Vần trong thơ là một kiểu lặp lại theo một quy định ngữ âm bất định. Hình
thức lặp lại này là dấu hiệu của sự hô hứng, liên kết gọi nhau của những yếu tố từ
15
ngữ, tạo nên kết cấu đặc biệt trong thơ. Tính nhạc của thơ cũng bắt đầu từ đó và nó
đã tạo nên khả năng mỹ cảm đặc biệt.
Nhịp điệu
Vần tuy là yếu tố quan trọng nhưng không bắt buộc phải có trong một bài
thơ, nhất là thơ tự do. Ngược lại, sự tồn tại của nhịp – một yếu tố có mối quan hệ
khắng khít với vần – mang lại tính tất yếu phổ quát. “Một cách khái quát có thể nói
nhịp thơ là cái được nhận thức thông qua toàn bộ sự lặp lại có tính chất chu kỳ,
cách quãng hoặc luân phiên theo thời gian của những chỗ ngừng, chỗ ngắt và của
những đơn vị văn bản như câu thơ (dòng thơ), khổ thơ, thậm chí đoạn thơ” [8;tr64].
Yếu tố tạo nên nhịp điệu quan trọng nhất là những chỗ ngừng, chỗ ngắt trong sự
phân bố mau, thưa hay đa dạng của chúng là độ dài ngắn khác nhau của các quãng
nghỉ hơi sau các khổ thơ, dòng thơ. Cho đến nay có thể có hai loại ngắt nhịp trong
thơ: ngắt nhịp cú pháp và ngắt nhịp tâm lý, hai loại nhịp này có khi tách bạch có khi
hòa quyện vào nhau tùy vào cấu trúc ngôn ngữ của dòng thơ, khổ thơ và cảm hứng.
Để khảo sát hình thức nhịp điệu của một bài thơ chúng ta có thể dựa vào
Nguyễn Phan Cảnh) của thơ. Chính đặc tính này đã tạo nên màu sắc lung linh, đa
nghĩa của hình tượng ngôn ngữ thơ ca. Nói rõ hơn đó là tính chất nói bóng và các
hình thức chuyển nghĩa đã được sử dụng một cách đậm đặc ở thể loại này bằng
những hình thức ẩn dụ, so sánh, hoán dụ, tượng trưng, nhân hóa, phúng dụ, nói
ngược đã làm cho nội dung ngữ nghĩa của thơ trở nên mơ hồ, nhiều khi không xác
định, phải lựa chọn, liên tưởng, tưởng tượng mới có thể giải mã và cảm thụ hết
được vẻ đẹp tối đa của nó. Chính tính “nhòe về nghĩa” trong thơ cho phép ngôn
ngữ thơ dung nạp những kiểu cấu trúc đặc biệt, có khi là bất bình thường. Đó là sự
tĩnh lược thiếu vắng những thành phần ngữ pháp kể cả những thành phần chính của
câu như chủ ngữ, vị ngữ, chính sự thiếu vắng trong thơ tạo nên tính nhòe, mập mờ
về nghĩa và điều đó đưa lại nhiều cảm thụ khác nhau làm nên tính đa nghĩa, hàm
súc, “ý tại ngôn ngoại” trong thơ. Đó còn là những hình thức sử dụng các từ phiếm
chỉ, những trường hợp đảo từ, đảo ngữ, đảo cú pháp không tuân theo sự kết hợp từ
bình thường. Và đó còn là những cách ngắt câu khác lạ không cho phép trong cấu
17
trúc câu văn xuôi. Ngoài ra còn rất nhiều hình thức như tả cảnh ngụ tình, lấy mây vẽ
trăng, lấy động tả tĩnh, dùng không nói có, dùng thời gian tả không gian, lấy không
gian biểu hiện thời gian Có thể nói rất nhiều biểu hiện của tính nhòe về nghĩa ở
trong thơ. Tất nhiên không nên hiểu “nhòe” chỉ với ý nghĩa là nhiều nghĩa, đa
nghĩa, hàm nghĩa, mập mờ, không rõ, khó xác định. Người ta nói ngôn ngữ thơ là
một thứ ngôn ngữ bí hiểm là theo nghĩa ấy. Chính tính chất này giúp thơ có khả
năng nói ít gợi nhiều với nhiều màu sắc biểu cảm phong phú trong đó chủ thể nhập
vào khách thể, tính chất hòa vào hiện tượng, hành động hòa vào màu sắc, âm
thanh tạo nên cái ý nghĩa bóng bẩy, lung linh, tinh tế của ngôn ngữ thơ ca. Và
cũng vì những đặc điểm đó mà khi phân tích thơ chúng ta không thể chỉ đi tìm cái
nội dung logic của nghĩa đen từ đó diễn ý với một nội dung rõ ràng, minh bạch
1,2,3. Điều đó không phù hợp với đặc trưng thể loại này. Cái chính là ở chỗ lật văn
bản ngôn từ để cảm thụ cái ý nghĩa chìm ẩn, để lĩnh hội cái “ý tại ngôn ngoại”, để
thưởng thức cái duyên ngầm, cái âm hưởng và tứ thơ tỏa ra từ những lớp ngữ nghĩa
của ngôn từ ở giữa những dòng chữ, những khoảng trống, giữa những từ, ở sự im
được, truyền đạt được bằng ngôn từ. Có khi trong cuộc sống xuất hiện những nỗi
niềm “không bút nào tả xiết”. Người nghệ sỹ chính là người vượt qua giới hạn đó
để đưa nỗi niềm kia vào thơ. Cũng theo quan niệm của tác giả trong Từ điển thuật
ngữ văn học: “hình thức tác phẩm là cấu tạo gồm nhiều yếu tố phụ thuộc lẫn nhau
và phụ thuộc vào nội dung tác phẩm” [15; tr 203]. Đó là những yếu tố như văn bản
ngôn từ, kết cấu, thể loại Hình thức nghệ thuật của tác phẩm là hiện tượng độc
đáo, hoàn toàn không phải là số cộng giản đơn của các thủ pháp và phương tiện
nghệ thuật. Trong tính chỉnh thể, hình thức nghệ thuật có nghĩa là hình thái cảm
nhận đời sống, là cách tự bộc lộ của nội dung tác phẩm.
Một tác phẩm văn học chứa đựng giá trị mỹ học phải dựa trên sự thống nhất
có tính nguyên tắc giữa nội dung và hình thức “không thể có tác phẩm văn học nào
chỉ tồn tại với nội dung của nó mà không có sự tham gia của hình thức”. Về mối
19
quan hệ này nhà phê bình Nga Bêlinxki đã diễn đạt khá rõ ràng “trong tác phẩm
nghệ thuật, tư tưởng và hình thức phải hòa hợp với nhau một cách hữu cơ như là
tâm hồn và thể xác, nếu hủy diệt hình thức thì có nghĩa là hủy diệt tư tưởng và
ngược lại cũng như vậy” [30; tr 256].
Lý luận văn học Macxit cũng khẳng định mối quan hệ thống nhất đó là
“hình thức biểu hiện nội dung, hình thức phù hợp với nội dung”. Ở đây nội dung đi
đầu và có vai trò quyết định. Chức năng hình thức là làm định hình và biểu hiện nội
dung đó. Nội dung quyết định việc lựa chọn hình thức thể loại, ngôn ngữ, chi tiết,
nhân vật, cốt truyện, kết cấu. Nội dung làm nảy sinh ra hình thức phù hợp để biểu
hiện nó. Hình thức phù hợp nội dung trở thành tiêu chuẩn để sáng tạo, đánh giá hình
thức và làm nên giá trị tác phẩm.
Thơ là một thể loại văn học đặc thù nên mối quan hệ giữa nội dung và hình
thức lại thể hiện đặc biệt hơn. Vai trò của hình thức thơ có vị trí quan trọng so với
các thể loại khác, nó có tính năng động và trong một số trường hợp nó có xu hướng
tách khỏi nội dung hoặc lấn át nội dung. Các nhà hình thức chủ nghĩa trong nghiên
cứu thường bỏ qua phương diện nội dung chỉ nghiên cứu tác phẩm như một thủ
pháp, như một ngôn ngữ, một sự kết hợp các phạm trù ngữ pháp, cũng có trường
liệt. Bắt đầu từ Binh trạm 10 Thanh Hóa, sau vào Binh trạm 11 Nghệ An, Binh trạm
12 ở Quảng Bình. Lúc bấy giờ trên chỉ thị thành lập Tổng cục Tiền phương gọi tắt
là Bộ tư lệnh 500, sau đó sát nhập với Bộ tư lệnh 559 – Bộ tư lệnh Trường Sơn,
Phạm Tiến Duật trở thành lính Trường Sơn. Ông đến Trường Sơn lần đầu tiên năm
1965, sau đó có mặt liên tục ở mặt trận này. Có lẽ nhờ thế, cộng thêm tài năng trời
phú, mà sau đó đã có một Phạm Tiến Duật với những bài thơ nổi tiếng viết về
Trường Sơn.
Học xong 4 năm Đại học, phiêu bạt vào chiến trường 14 năm, ra quân, Phạm
Tiến Duật mang hàm thiếu úy. Rồi chuyển về công tác ở Ban văn nghệ Hội văn
nghệ Việt Nam cho đến nay.
21
Trước khi lâm bệnh, Phạm Tiến Duật là chủ tịch quỹ mãi mãi tuổi hai mươi.
Ông còn là tác giả của hàng ngàn bài báo. Từ ngày thôi làm tổng biên tập của Tạp
chí diễn đàn văn nghệ Việt Nam, nhà thơ Phạm Tiến Duật dành nhiều thời gian cho
công tác đối ngoại của Hội nhà văn Việt Nam. Vài năm gần đây, khán giả của Đài
truyền hình Việt Nam còn biết đến ông với tư cách là MC của chương trình “Vui,
khỏe và có ích” - một sân chơi thú vị cho người cao tuổi.
Đến ngày 4 tháng 12 năm 2007, Phạm Tiến Duật trút hơi thở cuối cùng tại
Bệnh viện Hà Nội trong niềm tiếc thương vô cùng của gia đình, bạn bè, đồng
nghiệp. Căn bệnh ung thư phổi đã cướp ông đi khi tài năng, nhiệt huyết với cuộc
đời còn mang nặng.
“Con chim lửa của Trường Sơn huyền thoại” giờ đã ngừng bay. Thôi đành
ngậm ngùi an ủi và cầu mong ông bình an trong cuộc phiêu bạt cuối cùng này.
1.2.2. Thơ và sáng tác của Phạm Tiến Duật
Phạm Tiến Duật có thơ đăng rải rác từ năm 1964, nhưng đến 1969, qua cuộc
thi thơ của báo văn nghệ mà ông đạt giải nhất thì người đọc mới thực sự biết đến
ông. Cuộc sống bộ đối của Trường Sơn đã tôi luyện con người và bồi đắp hồn thơ
Phạm Tiến Duật , giúp ông tìm thấy một tiếng nói riêng của mình – để từ đó, tài
năng, phong cách Phạm Tiến Duật nhanh chóng được khẳng định.
Năm 1970, sau khi đạt giải nhất cuộc thi thơ báo văn nghệ (1969 – 1970),
23
CHƯƠNG II
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THƠ PHẠM TIẾN DUẬT
XÉT VỀ PHƯƠNG DIỆN HÌNH THỨC
Như đã biết, trong các tác phẩm văn học có giá trị, hình thức luôn thống nhất
phù hợp với nội dung. Quá trình sáng tác tạo ra hình thức phù hợp với nội dung
không phải là một quá trình đơn giản, dễ dàng mà nó đòi hỏi nhà văn phải tìm tòi
phát hiện không ngừng. Đề tài này đi vào tìm hiểu đặc điểm hình thức được thể hiện
trong thơ Phạm Tiến Duật để phần nào thấy rõ hơn những tìm tòi, phát hiện trong
quá trình sáng tạo của nhà thơ đồng thời qua đó thấy rõ hơn phong cách, giọng điệu
riêng của thơ Phạm Tiến Duật trong thơ ca nói chung và thơ Việt Nam hiện đại nói
riêng.
Khi xem xét thơ Phạm Tiến Duật về mặt hình thức, chúng tôi đi vào tìm hiểu
ở các khía cạnh khác nhau: đặc điểm về các thể thơ, đặc điểm về ngữ âm, đặc điểm
về cách tổ chức bài thơ và những biện pháp tu từ nghệ thuật đặc sắc trong thơ Phạm
Tiến Duật.
2.1. Đặc điểm về các thể thơ
Các thể thơ cũng như thể văn hình thành dần dần định hình, rồi biến thể. Một
số hình thức thơ có nguồn gốc từ văn học dân gian phát triển lên mà thành. Một số
hình thức thơ khác lại từ nước ngoài nhập vào rồi Việt hóa cho phù hợp với quy luật
ngôn ngữ và tính cách, tâm hồn người Việt. Mặc dù mỗi thể thơ có nguồn gốc khác
nhau, nhưng hình thức nào cũng là thành quả của những người đi trước trong quá
24
trình lâu dài đã tìm tòi thể nghiệm và sáng tạo. Ở những bài thành công các hình
thức đó đều chan chứa “tâm hồn và tính cách của người Việt Nam”.
Để phân loại các thể thơ, người ta thường lấy số âm tiết và vần làm căn cứ
phân loại.
Căn cứ vào số âm tiết trong dòng thơ: thơ hai chữ, thơ ba chữ, thơ bốn chữ,
thơ năm chữ, thơ bảy chữ, thơ tám chữ, thơ lục bát (tổ hợp sáu chữ và tám chữ), thơ
tự do (số âm tiết trong mỗi dòng thơ không đều nhau).