Quan niệm của Platôn về nhà nước lý tưởng - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ QUYẾT QUAN NIỆM CỦA PLATÔN VỀ
NHÀ NƯỚC LÝ TƯỞNG

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Triết học
Mã ngành: 60 20 80 Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Anh Tuấn


Như đã biết, triết học ra đời từ rất sớm trong lịch sử tư tưởng nhân loại
(cách đây khoảng 2500 năm). Triết học là một trong những hình thái ý thức
xã hội, do đó, sự phát triển của các tư tưởng triết học cũng bị quy định bởi sự
phát triển của nền sản xuất vật chất, cũng phụ thuộc vào tiến trình đấu tranh
giai cấp trong xã hội. Triết học  là hạt nhân thế giới quan của
những giai cấp hay tập đoàn xã hội nhất định.
Vđều biết rằng, thế kỷ XX vừa qua đã làm lung lay
sức tưởng tượng của con người bằng những biến đổi sâu sắc trong đời sống xã
hội, địa chính trị, kinh tế, văn hoá trên toàn hành tinh chúng ta. Loài người
đang mất dần niềm tin vào khả năng biến trái đất thành ngôi nhà chung của
mình, nơi không có đói nghèo, khốn khổ, tội phạm, chiến tranh và số phận
của mỗi con người trở thành mối quan tâm của toàn xã hội. Trước tình hình
như vậy, thì việc định hướng thế giới quan cho con người, sự nhận thức về vị
trí và vai trò của nó trong xã hội, về mục đích và ý nghĩa của cuộc sống, về
giới hạn của tự do cá nhân và mức độ trách nhiệm về hành vi hoạt động của
nó có một ý nghĩa ngày càng to lớn.
Trong sự hình thành thế giới quan của con người với tư cách là những
kinh nghiệm hàng thế kỷ suy tư một cách có phê phán về những vấn đề định
hướng cuộc sống của từng người cũng như của toàn nhn lo, triết học
luôn đóng vai trò chủ đạo. Các nhà triết học mọi thời đại đều cố gắng làm rõ
những vấn đề của tồn tại người, luôn đặt ra những câu hỏi con người là gì, nó
có thể hi vọng và định hướng vào cái gì, nó cần phải làm gì và làm như thế
nào?
Lịch sử triết học theo quan điểm Mácxít là lịch sử phát sinh, hình thành
và phát triển của các khuynh hướng và hệ thống khác nhau mang

2
 trong sự phụ thuộc, suy đến cùng vào sự phát
triển của tồn tại xã hội. Với tư cách là một bộ môn triết học, lịch sử triết học
giữ một vai trò to lớn trong vic nhận thức đời sống xã hội. Nó cho ta khả

trước", chúng ta không thể không nghiên cứu triết học Hy Lạp cổ đại, vì như
Ăngghen đã khẳng định: "từ các hình thức muôn hình muôn vẻ của triết học
Hi Lạp, đã có mầm mống và đang nảy nở hầu hết các loại thế giới quan sau
này" [20, 491]. Khi nghiên cứu triết học Hi Lạp cổ đại, chúng ta không thể
không nghiên cứu triết học của Platôn bởi ông được coi là một trong những
nhà tư tưởng sáng tạo, có ảnh hưởng rất lớn trong lịch sử triết học phương
Tây sau .
Chúng ta cũng biết rằng, ngay từ khi có nhà nước, con người thời cổ
đại đã nhìn thấy nguy cơ lạm dụng và thèm khát quyền lực của những người
cầm quyền ở cả phương ông lẫn phương Tây. Vì vậy, các nhà tư tưởng và
chính trị đã cố gắng tìm kiếm những phương thức quản lý xã hội một cách có
hiệu quả mà một trong những người tiêu biểu sớm nhất là Platôn. C
          


         , 
          
          
           
 Sự quan tâm nghiên cứu thế giới Cổ đại
vốn đã không hề suy giảm trong quá khứ, ngày nay lại càng gia tăng rất nhiều.
Đặc biệt, điều đó liên quan đến triết học Cổ đại nói chung và học thuyết

1


 , trang 489.

4
Platôn nói riêng. Một số vấn đề nền tảng do ông đặt ra không chỉ không đánh

thời kỳ suy tàn của chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp cổ đại. Đối với
Platôn, tác giả phân tích học thuyết về vũ trụ, lý luận nhận thức, quan niệm

6
về đạo đức, quan niệm về nhà nước, quan niệm về mỹ học. Phần này còn
trình bày những đánh giá, nhận định của bản thân tác giả và của các nhà
sáng lập chủ nghĩa Mác để chỉ ra và phê phán những điểm bất hợp lý trong
học thuyết ý niệm của Platôn.
Nguyễn Hữu Vui (chủ biên): Lịch sử triết học [57], trong đó tác giả
trình bày triết học Platôn với các nội dung: học thuyết về thế giới, nhận thức
luận, lôgíc học, nhân bản học, học thuyết chính trị xã hội và thẩm mỹ học. Hà
Thúc Minh (chủ biên): Triết học cổ đại Hi Lạp La Mã [23]. Ở công trình này,
tác giả đã nghiên cứu tư tưởng của Platôn tập trung ở học thuyết về ý niệm,
thuyết linh hồn bất tử, hồi ức, đời sống cộng đồng của giai cấp thống trị…
Bùi Thanh Quất và Vũ Tình (chủ biên): Lịch sử triết học [41]. Lê Tôn
Nghiêm: Lịch sử triết học phương Tây [26]. Trong đó, các tác giả trình bày
quan niệm của Platôn về tri thức luận, học thuyết về những lý tưởng hay biện
chứng pháp, thiên nhiên hay vật lý học, luân lý và chính trị học.
Nguyễn Thế Nghĩa, Doãn Chính (chủ biên): Lịch sử triết học, tập 1,
triết học cổ đại [25]. Trong đó, trình bày tư tưởng của Platôn về ý niệm, tâm
lý học, nhận thức luận, lôgíc học, triết học xã hội, tư tưởng thẩm mỹ học,
nghệ thuật. Nguyễn Tiến Dũng: Lịch sử triết học phương Tây [6].
Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Thanh, Nguyễn Anh Tuấn: Đại cương về lịch
sử triết học phương Tây [12], trong đó học thuyết ý niệm, nhận thức luận, học
thuyết về nhà nước… của Platôn được đề cập tương đối qua so sánh với quan
điểm hiện sinh chủ nghĩa và ở mức độ khái quát cao. Ngoài những công trình
đó, còn có một số công trình dịch thuật về lịch sử triết học trong đó có cả triết
học của Platôn như Tuyển tập danh tác triết học từ Platôn đến Derrida [2]
của Forrest E. Baird …
Nói chung, các công trình nghiên cứu này mới chỉ nghiên cứu khái quát

            IV
tr.  

6. Đóng góp của luận văn

8
Luận văn góp phần làm sáng tỏ những nội dung cơ bản trong quan
niệm của Platôn về nhà nước lý tưởng - quan niệm mà cho đến nay vẫn còn
ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của nhân loại - chủ đề mà ở Việt nam vẫn còn
chưa được nghiên cứu chuyên sâu.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận
Luận văn góp phần vào việc nghiên cứu tư tưởng chính trị - xã hội của
Platôn nói chung và quan niệm về nhà nước lý tưởng nói riêng.
Về mặt thực tiễn
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên
cứu, giảng dạy lịch sử triết học nói chung, triết học Hy Lạp cổ đại nói riêng.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2
chương, 7 tiết. 9
CHƢƠNG 1
ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN - TRIẾT HỌC CHO SỰ
HÌNH THÀNH QUAN NIỆM CỦA PLATÔN VỀ NHÀ NƢỚC LÝ TƢỞNG.
1.1. Platôn: cuộc đời, sự nghiệp và tác phẩm
Platôn (427 – 347 TCN) là một trong những nhà triết học, nhà tư tưởng
kiệt xuất nhất thời cổ đại, là người sáng lập chủ nghĩa duy tâm khách quan.
Ông là học trò nổi tiếng của Xôcrát, là một trong bảy nhà hiền triết của Hy

tưởng dân chủ, thù ghét quần chúng     phát sinh từ
dng  giai cấp quý tộc của ông. Do đó, ông chủ trương cần phải tận
diệt chế độ dân chủ và thay vào đó một chính thể do những phần tử
quý tộc sáng suốt lãnh đạo. Trong lúc đó, những liên hệ giữa ông và Xôcrát
làm cho chính quyền đương thời nghi ngờ ông. Những bạn bè của ông khuyên
ông nên trốn khỏi Aten và ông cũng cho rằng đây là một dịp tốt để chu du thế
giới.
Từ đây, cuộc đời Platôn đã bước sang một giai đoạn mới, đó là giai
đoạn du hành liên miên của ông (từ 400 đến 389 TCN). Trong thời gian này,
ông đã đến nhiều nơi và ở đâu ông cũng làm quen với các nhà tư tưởng, các
nhà khoa học nổi tiếng, quan tâm đến những ặc  của đời sống tinh
thần và những thành tựu của nó. ng đã đến Ai cập trước tiên và rất bất bình
khi nghe các nhà lãnh đạo tôn giáo cai trị xứ này nói rằng, Hy lạp là một quốc
gia ấu trĩ không có truyền thống văn hoá và không thể so sánh được với quốc
gia Ai cập. Sau đó ông đáp tàu qua Xisili và đến Italia. Ở đó, ông gia nhập
nhóm triết gia do Pytago sáng lập. Cảnh tượng một nhóm người có quyền
chính trị rộng rãi lại say mê trong việc nghiên cứu và học hỏi, sống một cuộc
đời bình dị mặc dù nắm nhiều quyền thế trong tay là một đề tài  Platôn
csuy nghĩ mi. Ông đi chu du suốt 12 năm, học hỏi tất cả các chính thể,

11
họp bàn với tất cả các nhóm, tìm hiểu tất cả các học thuyết. Ông trở về Aten
năm 387 TCN, lúc này tuổi 40, ông đã trở nên già dặn hn sau nhiều năm
học hỏi ở nhiều nước. Platôn vẫn còn giữ sự hăng hái của tuổi trẻ nhưng ông
đã nhận thức được rằng, tất cả những tư tưởng quá khích chỉ là những chân lý
nửa vời. Một trong những vấn đề trọng đại mà Platôn nghiên cứu là làm sao
tìm ra những người khôn ngoan nhất để giao phó   việc lãnh đạo
quốc gia. Ông mơ ước xây dựng một xã hội lý tưởng trên nền tảng đạo
đức.
   năm (389 – 387 TCN)  Italia (Xisili) Platôn đã

cứu toán học nhưng lại hiểu rõ tất cả những thành tựu mới nhất và thấu
hiểu bản chất của khoa toán học với một trình độ rành rọt và uyên thâm
hiếm có. Ông đã trải qua một quãng thời gian dài tới nửa cuộc đời tại Hàn
lâm viện. Platôn mất ở độ tuổi 80 trong lúc đang dự yến tiệc.
Các tác phẩm còn lưu truyền tới ngày nay của Platôn gồm 23 tập đối
thoại đích thực của ông và 11 tập còn nghi ngờ   . Ni
 bài phát biểu biện hộ cho Xôcrát 13 bức thư mà trong
số đó, có thể chỉ có một số đích thực là của ông. Đối thoại là một hình thức
viết văn trong đó hai hay nhiều nhân vật đặt ra  trình bày một vấn đề, bàn
luận các chỉ trích và các tương phản giữa các ý tưởng triết học. Các nhân vật
trong tác phẩm với các cá tính khác nhau, quan điểm khác nhau đã thảo luận
cũng như tranh cãi cùng nhau về nhiều mặt đối nghịch của một đề tài. Platôn
đã dùng phương pháp biện chứng của Xôcrát để trao đổi các ý tưởng. Tất cả
các tập đối thoại của Platôn đều là các biến thể đa dạng về cùng một đề tài –
phương pháp của Xôcrát.      nắm bắt
được cách thức suy luận của xôcrát cùng với những người đàm thoại với ông.

13
Tại sao xôcrát lại chuyển từ đề tài này sang đề tài khác, clúc
đang nói về cái đẹp, bỗng dưng lại nói về một cái hoàn toàn khác.
Các tác phẩm của Platôn thường được chia theo ba thời kỳ:
Thời kỳ đầu, gồm có các tác phẩm:
Charmides: bàn về định nghĩa sự điều độ.
Lysis: tranh luận về khái niệm tình bạn.
Laches: tranh luận về lòng dũng cảm.
Protagoras: bàn về vấn đề tri thức, đức hạnh, khẳng định đức hạnh là
tri thức và cho rằng, nó có thể truyền đạt được.
Euthyphro: tranh luận về bản chất của đạo đức.
The Republic (nền Cộng hòa), tập 1: bàn về khái niệm công bằng.
Các tác phẩm thời kỳ giữa: 1

thuyết về nhận thức, đạo đức học, mỹ học, lôgic học, học thuyết về linh hồn
và phép biện chứng duy tâm. Tất cả các học thuyết này đều được đnh
 bởi thế giới quan duy tâm khách quan, mang nặng tính chất tôn giáo
và quan điểm chính trị của tầng lớp quý tộc thượng lưu. Học thuyết của
Platôn đóng vai trò nổi bật trong sự phát triển của chủ nghĩa duy tâm sau này
và cho đến nay, nó vẫn được sử dụng để chống lại thế giới quan duy vật.
1.2. Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá của Hy Lạp cổ
đại.
Hy Lạp cổ đại chính là cái nôi của nền triết học phương Tây. Đây là
quốc gia rộng lớn có khí hậu ôn hòa, bao gồm miền nam bán đảo Ban Căng,
miền ven biển phía Tây Tiểu Á và nhiều hòn đảo ở bin Êgiê. Hy Lạp được
chia làm ba khu vực: bắc, nam và trung bộ.
Trung bộ có nhiều dãy núi ngang dọc và những đồng bằng trù phú, có
thành phố lớn như Aten. Nam bộ là bán đảo Pelopongnedơ với nhiều đồng bằng
rộng lớn phì nhiêu thuận lợi cho việc trồng trọt. Vùng bờ biển phía đông của bán

15
đảo Ban Căng khúc khuỷu nhiều vịnh, hải cảng thuận lợi cho ngành hàng hải
phát triển. Các đảo trên biển Êgiê là nơi trung chuyển cho việc đi lại, buôn bán
giữa Hy Lạp với các nước ở Tiểu Á và Bắc Phi. Vùng ven biển Tiểu Á là đầu
mối giao thương giữa Hy Lạp và các nước phương Đông. Với điều kiện tự nhiên
thuận lợi như vậy nên Hi Lạp cổ đại sớm trở thành một quốc gia chiếm hữu nô lệ
có một nền công thương nghiệp phát triển, một nền văn hóa tinh thần phong phú
đa dạng, nơi có nhiều triết gia mà triết lý của họ trở nên bất hủ.
hế kỷ VIII – VI TCN là thời kỳ quan trọng nhất trong lịch sử
Hy Lạp cổ đại, là thời kỳ nhân loại chuyển từ thời đại đồ đồng sang thời đại
đồ sắt. Lúc bấy giờ, đồ sắt được dùng phổ biến năng suất lao
động tăng nhanh, sản phẩm dồi dào, chế độ sở hữu tư nhân được cũng cố. Sự
phát triển này đã kéo theo phân công lao động trong nông nghiệp, giữa 
ngành trồng trọt và chăn nuôi. Xu hướng chuyển sang chế độ chiếm hữu nô lệ

Lao động  phân chia thành lao động chân tay và lao động trí óc.
Phân công lao động cho phép trong xã hội xuất hiện tầng lớp những người
chuyên sống bằng lao động trí óc, càng tạo điều kiện cho nảy
nở các tư tưởng triết học. Không có sự phân công lao động và sự đối lập giữa
lao động trí óc và lao động chân tay thì không thể xuất hiện các tri thức triết
học và khoa học làm phá vỡ ý thức hệ thần thoại và các tôn giáo nguyên thủy
thống trị thời đó. Vì thế, ngay từ khi mới ra đời, các tư tưởng triết học đã
mang tính giai cấp sâu sắc. Là thế giới quan của giai cấp chủ nô, các tri thức
triết học dần dần trở thành các tư tưởng thống trị trong xã hội nô lệ, bởi vì
như Mác, Ăngghen đã nhận xét: “trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai
cấp thống trị là những tư tưởng thống trị… Giai cấp nào chi phối những tư
liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối cả những tư liệu sản xuất tinh thần…
Những tư tưởng thống trị không phải là cái gì khác mà chỉ là biểu hiện tinh
thần của những quan hệ vật chất thống trị,… được biểu hiện dưới hình thức tư
tưởng” [20, 67].

17
Thời kỳ này, Hy lạp bị phân chia thành nhiều nước nhỏ. Mỗi nước lấy
một thành phố làm trung tâm. Trong đó, Spác và Aten là hai thành phố cổ
hùng mạnh nhất.
Thành bang Aten nằm ở vùng đồng bằng thuộc Trung bộ Hy Lạp, có
điều kiện địa lý thuận lợi nên đã trở thành một trung tâm kinh tế, văn hóa của
Hy Lạp cổ đại, và là cái nôi của triết học châu Âu. Tương ứng với sự phát
triển kinh tế, văn hóa là thiết chế nhà nước chủ nô dân chủ Aten.
Thành Spác nằm ở vùng bình nguyên, đất đai rất thích hợp với sự phát
triển nông nghiệp. Chủ nô quý tộc thực hiện   theo lối cha
truyền con nối. Chính vì thế Spác đã xây dựng một thiết chế nhà nước quân
chủ, thực hiện sự áp bức rất tàn khốc đối với nô lệ.
Do sự tranh giành quyền bá chủ Hy Lạp, nên hai thành phố trên tiến
hành  cuộc chiến tranh khốc liệt     kéo dài

Trong lĩnh vực thiên văn, người Hy Lạp đã dự báo được hiện tượng
nhật, nguyệt thực, đã vẽ được bản đồ thế giới, biết được trái đất hình cầu…
Về mặt lý luận, ý tưởng về sự bất tử của thần linh cùng tồn tại song
song với ý tưởng về tính vĩnh cửu của vũ trụ như sự kết hợp thế giới quan
thần thoại với tri thức khoa học và những mầm mống của tư duy triết học.
Tóm lại, nền văn minh Hy Lạp là một trong những nền văn minh rực rỡ
nhất, sớm nhất của nhân loại mà giá trị của nó vẫn còn mãi đến ngày nay.
Đánh giá về nền văn minh này, Ăngghen viết: “…. về mặt triết học cũng như
những lĩnh vực khác, chúng ta phải luôn luôn trở lại với thành tựu của dân tộc
nhỏ bé mà năng lực và sự hoạt động về mọi mặt đã tạo ra cho nó một địa vị
mà không một dân tộc nào khác có thể mong ước được trong lịch sử của nhân
loại” [ 20, 397].

19
Bản chất lịch sử - xã hội của hoạt động triết học của Platôn bị quy định
bởi thời kỳ tan rã của thành bang chiếm hữu nô lệ Hy Lạp trước cuộc xâm
chiếm Maxeđoan (IV TCN). Thông thường, Platôn được mô tả như là
nhà tư tưởng của chế độ chủ nô quý tộc. Đó là sự mô tả không chính xác và
có thể nói là không đúng. Để dựng lại toàn bộ bản chất lịch sử - xã hội của
chủ nghĩa duy tâm Platôn, cần phải th rằng, trong hiện thực lịch sử rất
thường xuyên có chuyện, với sự tồn tại của cơ sở hạ tầng nào đó vẫn có
những kiến trúc thượng tầng khác nhau nhất và trong cùng một kiến trúc
thượng tầng có thể có sự phản ánh của những cơ sở hạ tầng đa dạng nhất.
Platôn sống vào thời đại quá rối ren khi Hy Lạp đã không còn thỏa mãn với
hệ thống thành bang, nhưng lại chưa tổ chức được chế độ quân chủ quân sự
rộng khắp. Bối cảnh đó buộc Platôn, nhà quý tộc kỳ cựu phải xoay sở về
các hướng khác nhau, thậm chí là đối lập nhau.
Platôn bày tỏ thiện cảm của mình đối với thành bang chiếm hữu nô lệ
non trẻ, khi chế độ chiếm nô còn chưa phát triển hết mức, người tư
hữu nhỏ và tự do đã là đơn vị kinh tế cơ bản, còn vài nô lệ nào đó đối với

Vào thời kỳ vit đối thoại “Nhà nước” Platôn vẫn còn thán phục các
anh hùng quá khứ đó và ngợi khen Phemistokl không chỉ về vinh quang chính
trị - quân sự của ông ta, mà còn do ông là người Athen (R.P.I, 330a). Cuối
cùng, trong tác phẩm “Pháp luật” sau chót nhất của mình được viết không lâu
trước khi mất, trong khi nói về nhà nước xây dựng trên cơ sở khủng bố kinh
hoàng, Platôn vẫn không thể quên các bậc liệt tổ liệt tông tiếng tăm của mình
đã chiến đấu ở Salamin, Maraphon… Ông thật sự tự hào v họ và nói rằng,
họ đã là “những bậc thầy của tự do” và là những người bảo vệ “sự cứu rỗi”
Hy Lạp (Legg. IV 707c, III 699a – e). Ở đây, tự do Athen rộng tới mức, theo
ý tưởng của Platôn, là cần phải lựa chọn con đường trung gian giữa tự do
Athen và chuyên chế Perxich (III 701e).

2
T 
13]

21
Tóm lại, Platôn – nhà yêu nước số 1 đối với nhân dân và nhà nước
Athen của mình và là người ngưỡng mộ cuộc sống hoang dã tự do, mà ông đã
tìm thấy trong quá khứ anh hùng ở thành bang non trẻ của mình.
Tuy nhiên, bởi vì nền dân chủ Hy Lạp vào thời kỳ Platôn đã chuyển
sang chế độ chiếm hữu nô lệ  khắp ni và gắn liền với nó là các cuộc chiến
cướp bóc và chiếm đóng, cho nên Platôn, trong khi vẫn đối xử một cách quý
tộc trân trọng đến chính sách cai trị mang tính dân chủ, vẫn không ít lần bày
tỏ thiện cảm với Xpart và Kriti quý tộc – bảo thủ. Có thể, cái sự ngợi ca quá
khứ mà Platôn th trong đối thoại “Kriti” liên quan đến thời dĩ vãng
xa xăm của chế độ nửa thị tộc, nửa nhà nước thuộc nền văn hóa Kpito –
Mikens.
Tuy nhiên, ước muốn đặt đối lập sự vỡ vụn thành bang đương thời ông
với một hệ thống chính trị xã hội vững chãi hơn đã đẩy Platôn đến việc ngợi

đến những lý tưởng không tưởng của Platôn. Không nghi ngờ gì nữa, chúng
giữ vai trò to lớn cả trong triết học lý luận của ông. Chẳng hạn, ông lấy tên
gọi “cha và người sáng tạo”, tức là “thợ cả” gán cho ý niệm của mình vốn ở
ông xây dựng lên toàn bộ vũ trụ, còn vật chất vốn tiếp thu ở ông ý niệm sáng
tạo của “người cha” và thợ cả đó, được ông gọi là “kẻ phụng dưỡng” và “kẻ
tiếp thu ý niệm”. Như vậy, ở đó, mà chính là ở “Timei”, ông đã vạch rất rõ
quan hệ giữa ý niệm và vật chất, ông hiểu ý niệm đó như là “thợ cả” và người
cha, còn vật chất như là khởi đầu nữ giới, và mỗi một sự vật – như là kết quả
công việc của “thợ cả” với vật chất hay như sản phẩm của người cha sáng tạo
và ý niệm tiếp nhận vật chất. Suy ra, vũ trụ ở ông được xây dựng không chỉ
bằng phương thức thủ công, nhưng đồng thời nó là sinh thể sống động, sinh
sống trên cơ sở các quan hệ thị tộc – gia đình. Có thể, ở đây thể hiện rõ nhất
tính chất phục cổ của tư duy chính trị - xã hội của Platôn.

23
Thời đại khắc nghiệt nhất mà Platôn buộc phải sống và làm việc đã giật
khỏi tay ông mọi công cụ chính trị hiện thực. Và ông bắt đầu xây dựng những
không tưởng cũng khắc nghiệt không kém, cố gắng ngay từ đầu và trực tiếp,
còn sau đó là gián tiếp mô tả sự tác động của ý niệm vào vật chất và cải hoán
vật chất thành lý tưởng chính trị xã hội tranh giành sự tồn tại vĩnh hằng.
Tuy nhiên, viễn tưởng hơn cả là Platôn, trong khi xuất phát từ những
nguyên tắc của chế độ thị tộc – công xã vốn được ông hiểu theo phong cách
xã hội tăng lữ - đẳng cấp Ai Cập, đã biết tính cả đến sự phát triển kinh tế - xã
hội đương thời với ông.
Trong các tài liệu hiện hành, tầng lớp thứ ba của “Nhà nước” thường
được hiểu như là giai cấp nô lệ, nhưng hiện giờ các nhà sử học về thời cổ đại
đã xác định được rằng, vẫn chưa thể dùng khái niệm giai cấp ở nghĩa kinh tế
hiện đại chặt chẽ cho thời kỳ cổ đại, và nếu đã sử dụng các thuật ngữ hiện đại,
thì dưới đây chúng ta sẽ khảo sát bản chất kinh tế của đẳng cấp thứ ba ở
Platôn, đúng hơn như là chế độ nông nô nhà nước. Còn bây giờ chúng tôi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status