Quan niệm của Môngtexkiơ về xã hội công dân và nhà nước pháp quyền - Pdf 25

Viện Khoa học xã hội việt nam

Đại học quốc gia hà nội
tr-ờng đại học khoa học xã hội
và nhân văn

Viện Triết học nguyễn thị thu h-ơng
quan niệm của Môngtexkiơ về xã hội
công dân và nhà n-ớc pháp quyền Luận văn Thạc sĩ triết học
Hà Nội - 2006

trạng của một nƣớc chậm phát triển, nhƣng chủ trƣơng xây dựng đất nƣớc
theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, tƣ tƣởng
Hồ Chí Minh vẫn đƣợc khẳng định. 3
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta khẳng định “Nhà
nƣớc ta là Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, và nhấn mạnh: “Cần xây
dựng cơ chế vận hành của nhà nƣớc, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà
nƣớc đều thuộc về nhân dân. Quyền lực nhà nƣớc là thống nhất, có sự phân
công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành
pháp, tƣ pháp. Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các
quy định trong văn bản pháp luật. Xây dựng và hoàn thiện thể chế giám sát,
kiểm tra tính hợp hiến và hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các
cơ quan công quyền”[12, tr.45]. Điều đó cho thấy, Đảng và Nhà nƣớc ta
không chấp nhận "tam quyền phân lập" nhƣ trong các nhà nƣớc pháp quyền
tƣ sản, song trên cơ sở đánh giá một cách toàn diện tƣ tƣởng phân chia quyền
lực ở các nhà nƣớc này, chúng ta đã tiếp thu và vận dụng một cách sáng tạo
các nhân tố hợp lý của nó vào thực tiễn nƣớc ta thông qua các qui định trong
Hiến pháp hiện hành.
Đứng trƣớc vấn đề mới mẻ đó thì một trong những con đƣờng hữu hiệu
nhất là tiếp cận từ lịch sử tƣ tƣởng triết học về xã hội công dân và nhà nƣớc
pháp quyền. Trong số những vấn đề cần quan tâm, tƣ tƣởng của Môngtexkiơ
là dấu mốc quan trọng, vì ông là ngƣời có công lớn trong việc đề xuất tƣ
tƣởng gắn xã hội công dân với nhà nƣớc pháp quyền. Tƣ tƣởng này của ông
đã đƣợc nhiều nhà triết học, nhà tƣ tƣởng sử dụng làm cơ sở cho sự nghiên
cứu vấn đề này trong các giai đoạn tiếp theo. Do vậy, nghiên cứu tƣ tƣởng của
Môngtexkiơ về xã hội công dân và nhà nƣớc pháp quyền là một vấn đề có ý
nghĩa lý luận quan trọng đối với việc xây dựng nhà nƣớc pháp quyền và xã
hội công dân trong thời đại ngày nay. Bởi lẽ, nhƣ Ph.Ăngghen đã khẳng định:

công dân và nhà nƣớc pháp quyền. Đã có không ít nhà khoa học quan tâm
nghiên cứu, đƣa ra những đánh giá, nhận định khác nhau về những quan niệm
này của ông, mặc dù đây là vấn đề khá phức tạp, có những ảnh hƣởng theo
chiều hƣớng khác nhau đến sự phát triển xã hội. Trong luận văn này, chúng
tôi không có điều kiện để trình bày tất cả các công trình nghiên cứu quan
điểm triết học của ông về nhà nƣớc pháp quyền và xã hội công dân, mà chỉ có
thể kể đến các công trình tiêu biểu sau đây:
Trong số những công trình nghiên cứu từ góc độ lịch sử triết học về tƣ
tƣởng của Môngtexkiơ, trƣớc hết phải kể đến Lịch sử triết học- Triết học thời
kỳ tiền tƣ bản chủ nghĩa. Đây là công trình do Viện Hàn lâm Khoa học Liên 5
Xô xuất bản 1957 và đến 1962 đƣợc dịch sang tiếng Việt. Công trình này đã
khái quát những tƣ tƣởng về triết học do Môngtexkiơ nêu ra và cũng đã chỉ ra
ảnh hƣởng của chúng đến việc chuẩn bị về mặt tƣ tƣởng cho cuộc cách mạng
Pháp 1789.
Năm 2002, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia đã cho tái bản cuốn Lịch
sử triết học do Nguyễn Hữu Vui chủ biên. Công trình này đã giới thiệu một
cách khái quát về thân thế, sự nghiệp của Môngtexkiơ, phân tích thế giới quan
của ông trong các vấn đề xã hội.
Công trình 106 nhà thông thái do P.S.Taranốp biên soạn (Đỗ Minh
Hợp dịch và hiệu đính, do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm
2000) cũng đã trình bày một cách vắn tắt về cuộc đời, sự nghiệp và học thuyết
chính trị của Môngtexkiơ.
Văn học phƣơng Tây thế kỷ XVIII (Phùng Văn Tửu và Đỗ Ngoạn đồng
tác giả), nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp xuất bản năm
1983. Công trình này mặc dù khai thác về lịch sử văn học, nhƣng trong thời
kỳ Khai sáng Pháp, các nhà văn đồng thời cũng là nhà triết học, nên các tác
giả cũng đã làm rõ tƣ tƣởng của các nhà tƣ tƣởng phƣơng Tây thế kỷ XVIII,

pháp quyền đã đƣợc một số tác giả Việt Nam quan tâm nghiên cứu.
Năm 2006, tác giả Lê Tuấn Huy đã cho ra mắt bạn đọc công trình Triết
học chính trị Môngtexkiơ với việc xây dựng nhà nƣớc pháp quyền Việt Nam
trên cơ sở sửa chữa, bổ xung luận án tiến sĩ của chính tác giả (bảo vệ năm
2005 tại Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh). Tác giả đã phân tích
những cống hiến xuất sắc của Môngtexkiơ về vấn đề này, đồng thời chỉ ra
mối quan hệ giữa những tƣ tƣởng triết học chính trị của Môngtexkiơ với đòi
hỏi của Nhà nƣớc pháp quyền Việt Nam. Tác giả đã vận dụng những hạt nhân 7
hợp lý trong nguyên tắc phân quyền của Môngtexkiơ để luận giải con đƣờng
xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nƣớc ta hiện nay.
Bên cạnh đó, còn có một số luận văn thạc sỹ triết học nghiên cứu về
nhà nƣớc pháp quyền đã đƣợc bảo vệ tại Viện Triết học: Tìm hiểu tƣ tƣởng về
nhà nƣớc pháp quyền và vấn đề xây dựng nhà nƣớc pháp quyền Việt Nam của
tác giả Đào Ngọc Tuấn, bảo vệ năm 1994; Tƣ tƣởng về nhà nƣớc, quyền lực
nhà nƣớc trong lịch sử triết học và quan điểm của Đảng ta về xây dựng nhà
nƣớc Việt Nam của tác giả Nguyễn Thanh Dũng, bảo vệ năm 1998. Các tác
giả này đã nghiên cứu những tƣ tƣởng mang tính lý luận về nhà nƣớc pháp
quyền trong lịch sử để từ đó, vận dụng vào việc xây dựng nhà nƣớc pháp
quyền Việt Nam.
Nhân dịp kỷ niệm 60 năm thành lập Nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, Tạp chí Cộng sản - cơ quan lý luận và chính trị của Trung ƣơng
Đảng cộng sản Việt Nam đã phối hợp cùng với Viện Triết học, Viện Khoa
học Xã hội Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học - thực tiễn: “Sáu mƣơi năm
xây dựng Nhà nƣớc cách mạng Việt Nam của dân, do dân, vì dân”. Các báo
cáo khoa học tham gia Hội thảo này không chỉ khẳng định những thành tựu,
chỉ ra những hạn chế, bài học kinh nghiệm trong quá trình xây dựng Nhà
nƣớc cách mạng Việt Nam, đặc biệt là Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa

một khó khăn cho ngƣời nghiên cứu.
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng những công trình nghiên cứu
trên về Môngtexkiơ nhƣ những tài liệu tham khảo. 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích của luận văn là phân tích và luận giải những tƣ tƣởng cơ bản
của Môngtexkiơ về xã hội công dân và nhà nƣớc pháp quyền để trên cơ sở đó, 9
đƣa ra một số suy nghĩ bƣớc đầu về việc xây dựng xã hội công dân và nhà
nƣớc pháp quyền ở Việt Nam.
Để thực hiện mục đích trên, luận văn này tập trung giải quyết những
nhiệm vụ sau đây:
Thứ nhất, phân tích những điều kiện kinh tế- xã hội và tƣ tƣởng có ảnh
hƣởng đến sự hình thành quan niệm của Môngtexkiơ về xã hội công dân và
nhà nƣớc pháp quyền.
Thứ hai, phân tích những quan niệm của Môngtexkiơ về xã hội công
dân và nhà nƣớc pháp quyền.
Thứ ba, trên cơ sở nghiên cứu tƣ tƣởng Môngtexkiơ về xã hội công dân
và nhà nƣớc pháp quyền, nêu ra một vài suy nghĩ về việc xây dựng xã hội
công dân và nhà nƣớc pháp quyền ở Việt Nam hiện nay.
4. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Nghiên cứu về xã hội công dân và nhà nƣớc pháp quyền là vấn đề
chính trị - pháp lý hết sức phức tạp, đòi hỏi phải có sự đầu tƣ lớn về công sức
của các nhà khoa học. Đây là một đề tài có thể nghiên cứu ở nhiều góc độ
khác nhau. Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ, chúng tôi không có
tham vọng tìm hiểu vấn đề nhà nƣớc pháp quyền và xã hội công dân trên mọi

tƣởng triết học của Môngtexkiơ về những vấn đề này.
Về mặt thực tiễn, luận văn đã chỉ ra những đóng góp của Môngtexkiơ
đối với thực tiễn xã hội hiện thực.
Ngoài ra, luận văn còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ
cho việc nghiên cứu và giảng dạy lịch sử triết học phƣơng Tây ở các trƣờng
đại học, cao đẳng.

8. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
cơ bản của luận văn bao gồm hai chƣơng, năm tiết. 11

CHƢƠNG 1
NHỮNG TIỀN ĐỀ KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ LÝ LUẬN CHO
SỰ HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG CỦA MÔNGTEXKIƠ 1. 1. Môngtexkiơ - cuộc đời, sự nghiệp và tác phẩm Saclơ đơ Sơcôngđa Môngtexkiơ là nhà tƣ tƣởng có dòng dõi quý tộc.
Ông sinh ngày 18 tháng 1 năm 1689 tại lâu đài La Brét ở Tây Nam nƣớc
Pháp. Cha ông là Giắc đơ Sơcôngđa - một quý tộc bị sa sút và đã có một thời

Khí chất của chàng thanh niên Môngtexkiơ ham tìm tòi, suy nghĩ với
lòng khát khao hiểu biết trên nhiều lĩnh vực, đồng thời lại trực tiếp tiếp xúc
với thực tiễn chính trị - xã hội của thời đại ở giai đoạn đƣợc coi là có sự bùng
nổ của các cuộc đấu tranh quyết liệt chống phong kiến đã sớm nung nấu tinh
thần của nhà triết học Khai sáng tƣơng lai. Tƣ tƣởng và tài năng của ông thực
sự hoà làm một, kết tinh thành năng lực tƣ duy sáng tạo, khí phách kiên
cƣờng của nhà triết học Khai sáng. Vào năm 1721, Môngtexkiơ đã cho ra đời
tác phẩm đầu tay gây chấn động dƣ luận không riêng gì ở Pháp, mà cả ở châu
Âu. Đó là tiểu thuyết bằng thƣ Những bức thƣ Ba Tƣ. Tác phẩm ra mắt bạn
đọc giữa lúc nƣớc Pháp đang ngả nghiêng trong cơn khủng hoảng về kinh tế,
chính trị của thời đó. Sự mục nát của chế độ quân chủ và mặt trái của nhà thờ
đã đƣợc Môngtexkiơ phơi bầy trong Những bức thƣ Ba Tƣ, qua con mắt của
hai ngƣời Ba Tƣ đến thăm nƣớc Pháp sau khi đã đi qua một số nƣớc châu Âu.
Đây là một trong ba tác phẩm tiêu biểu cho sự nghiệp của Môngtexkiơ và là
tác phẩm đƣợc công chúng Pháp nhiệt liệt hoan nghênh ngay khi mới ra đời.
Mặc dù là tác phẩm văn chƣơng, nhƣng Những bức thƣ Ba Tƣ đã khiến nhiều
ngƣời dân Pháp khi đó phải suy nghĩ nghiêm túc về nền chuyên chế, về giáo 13
hội và giới giáo sỹ, về thân phận của con ngƣời trong sự cai trị độc đoán.
Thông qua những bức thƣ của hai ngƣời Ba Tƣ đang lƣu trú tại châu Âu giử
về quê hƣơng, Môngtexkiơ đã dựng lên một bức tranh về xã hội phƣơng Đông
và xã hội phƣơng Tây. Thông qua hình tƣợng quan thái giám - kẻ tƣợng trƣng
cho những con ngƣời mà trong một xã hội chuyên chế, ngay bản thân họ cũng
không thể tự bảo vệ đƣợc mình trƣớc sự áp đặt của nhà nƣớc chuyên chế,
Môngtexkiơ đã cho thấy xã hội phƣơng Đông khi đó là một xã hội mà ở đó,
ngƣời ta đã “lấy từ thế giới này đem ném vào thế giới kia một ngƣời nào đó
khéo chọn, ngƣời ấy cảm thấy rõ rệt tất cả cái phi lý mà chúng ta không cảm
thấy, cái lạ lùng của tập quán, cái kỳ dị của luật pháp, cái đặc biệt của phong

bầu vào Viện Hàn lâm Khoa học Pháp. Đến năm 1728, ông tạm biệt các
phòng khách ở Pari và lên đƣờng đi du lịch khắp nơi để hiểu phong tục tập
quán, luật pháp và thể chế của các nƣớc châu Âu. Ông đã đi qua Đức, Áo,
Hung, Ý, Thuỵ Sỹ, Hà Lan. Ở những nơi này, ông đã đƣợc chứng kiến những
ngày tàn của chế độ phong kiến châu Âu, đƣợc tận mắt xem xét cuộc sống của
dân chúng dƣới chế độ cộng hoà. Ông lƣu lại 2 năm cuối ở Anh. Dƣới chế độ
Quân chủ lập hiến, ông cảm thấy rất hài lòng và cho đó là một thể chế lý
tƣởng, trái ngƣợc với nƣớc Pháp quân chủ chuyên chế. “Tại Nghị viện Anh,
ngƣời ta cho phép ông có mặt trong các cuộc tranh luận giữa Chính phủ và
phe đối lập kéo dài tới 12(!) giờ. Các tƣ tƣởng của ông về lý luận phân quyền
đã bắt đầu chín muồi ở Anh” [36, tr.689]. Đây là thời gian đã làm cho
Môngtexkiơ thấy thực sự quý báu và những cảm nhận của ông về những gì đã
diễn ra ở đây đã trở thành tiền đề cho sự hình thành tƣ tƣởng của ông sau này.
Năm 1731, Môngtexkiơ quay về Pháp và sống ở lâu đài Brét. Ở đây,
ông tiếp tục hoạt động lý luận. Năm 1734, ông cho ra đời tác phẩm Nhận định
về nguyên nhân cƣờng thịnh và suy thoái của Rôma. Theo ông, nguyên nhân
làm cho La Mã cƣờng thịnh là do tình yêu tự do, tình yêu tổ quốc và tình yêu
lao động. Ông nhấn mạnh đến đƣờng lối quân sự, chính trị khôn ngoan đối 15
với các nƣớc bên cạnh để dựa vào đấy củng cố chính quyền của mình. Còn
nguyên nhân của sự suy thoái chính là sự rộng lớn của đế chế. Đó là tình trạng
“quân đội đồn trú quá xa trung ƣơng, do đó cũng xa tinh thần cộng hòa và chỉ
biết có vị chỉ huy của mình; là cuộc nội chiến liên miên để giành giật đất đai,
của cải giữa các vƣơng hầu…” [48, tr.93-94]. Môngtexkiơ cũng nhƣ nhiều
triết gia khác của Pháp ở thế kỷ XVIII muốn khám phá những quy luật diễn
biến của lịch sử, chống lại quan điểm cho rằng sự vận động của lịch sử là do
sự sắp đặt của thần linh, do ý muốn chủ quan của một cá nhân, hay do ngẫu nhiên
chi phối. Tuy nhiên, Môngtexkiơ chƣa thấy đƣợc đấu tranh giai cấp là động

pháp luật. Ông muốn khám phá cái trật tự, cái quy luật trong mớ hỗn độn các
luật pháp ở tất cả các dân tộc và ở mọi thời đại. Đây là tác phẩm mang tính
triết học sâu sắc, trong đó luật pháp đƣợc giải thích từ nhiều khía cạnh khác
nhau.
Bàn về tinh thần pháp luật thể hiện lòng căm ghét của Môngtexkiơ đối
với chính thể chuyên chế và muốn thay thế nó bằng một hình thức nhà nƣớc
mới để cho công dân Pháp lúc bấy giờ có lối thoát. Sau khi đƣợc công bố, tác
phẩm này đã bị phê phán từ nhiều phía và do vậy, Môngtexkiơ lại tiếp tục viết
một tác phẩm luận chiến Bảo vệ tinh thần pháp luật (1750) để nói rõ lập
trƣờng của mình.
Những năm cuối đời, Môngtexkiơ sống trong lâu đài của mình và tại
đây, ông đã viết thêm một số tác phẩm khác nhƣ Lyđimác (1751), Acxat và
Ixmêni (1754). Khi đó, ông đã trở nên nổi tiếng và đƣợc kính trọng. Nhiều
học giả khi đó đã cho ra đời các công trình nghiên cứu về tác phẩm Bàn về
tinh thần pháp luật của Môngtexkiơ và nhiều học giả trong số đó đã gửi cho
ông công trình nghiên cứu của họ, một số ngƣời còn muốn đƣợc trực tiếp gặp
ông để trò chuyện.
Năm 1754, Môngtexkiơ đến Pari. “Nguyên nhân của chuyến đi là việc
bắt giam giáo sƣ La-Bômen, một trong những ngƣời đầu tiên công khai bảo
vệ mãnh liệt tinh thần pháp luật. Theo yêu cầu của Chính phủ Pháp, La-17
Bômen bị bắt ở Phổ, trao cho Pháp và bị giam vào Baxti với tƣ cách một
ngƣời khả nghi về mặt chính trị. Nhận đƣợc tin này, Môngtexkiơ vội vàng đến
giúp đỡ. Ông hăng hái xin giùm cho vị giáo sƣ bất hạnh, sử dụng các mối
quan hệ có thế lực của mình và giải thoát đƣợc ông ta” [36, tr.690]. Trong
thời gian đó, ông đã phải chịu đựng sự hành hạ thân xác một cách khủng
khiếp do bệnh tật ngày một nặng thêm, nhƣng ông vẫn sống và hoạt động với
một nghị lực hiếm có. Ông đã qua đời tại Pari ngày 10 tháng 2 năm 1755 và

chế độ quân chủ chuyên chế, tập trung của Lui XIV vẫn giữ sự cân bằng giữa
một bên là giai cấp phong kiến và một bên là các lực lƣợng mới do giai cấp tƣ
sản đứng đầu. Tuy nhiên, thế cân bằng này chỉ tồn tại trong một thời gian
ngắn. Các lực lƣợng mới ngày càng lớn mạnh cùng với sự phát triển của các
hình thức và quan hệ sản xuất tƣ bản chủ nghĩa, thế cân bằng đó cũng dần dần
mất đi. Đến đầu thế kỷ XVIII, tình hình này đã diễn ra ngày càng gay gắt hơn.
Trên lĩnh vực kinh tế, nƣớc Pháp khi bƣớc vào thế kỷ XVIII, về căn
bản, vẫn là một nƣớc nông nghiệp lạc hậu: Chế độ sở hữu phong kiến, đất đai
đƣợc chia thành những mảnh nhỏ, lối canh tác thì thô sơ, nông dân nghèo
túng, không có sức mua, họ tự làm ra một số sản phẩm tiêu dùng cần thiết.
Tình hình này đã cản trở việc hình thành một thị trƣờng thống nhất và trở
thành nguyên nhân kìm hãm một phần sự phát triển của thƣơng mại và kỹ
thuật. Nó cũng ảnh hƣởng đến việc cung cấp nhân lực dự trữ cho các xƣởng
sản xuất. Tuy nhiên, trong lĩnh vực thƣơng mại và kỹ thuật, khi đó các hình
thái mới mang tính chất tƣ bản chủ nghĩa đã xuất hiện ngày càng nhiều trong
lòng chế độ phong kiến. Ở một số nơi, ngƣời ta đã xây dựng các nhà máy
đƣờng, xƣởng đóng tàu, xƣởng dệt, mỏ khai thác kim loại quý với quy mô
tƣơng đối lớn; việc buôn bán với nƣớc ngoài cũng ngày một đƣợc mở rộng.
Song, về cơ bản, công thƣơng nghiệp vẫn còn theo lối phong kiến về quy mô
kinh doanh và do vậy, đã làm hạn chế tự do cạnh tranh, cản trở cải tiến kỹ
thuật. Nhìn chung, nƣớc Pháp đã thu về một mối thống nhất dƣới chế độ quân 19
chủ chuyên chế, tập trung, nhƣng trên thực tế, nó vẫn còn bị chia cắt thành
nhiều vùng với những lợi ích riêng và điều này đã dẫn đến không ít khó khăn
cho việc kinh doanh, buôn bán. Cơ cấu chặt chẽ của chế độ phong kiến đã tạo
nên những lực cản đối với yêu cầu phát triển của các lực lƣợng xã hội mới và
những quan hệ sản xuất mới.
Về phƣơng diện xã hội, chế độ quân chủ chuyên chế Pháp luôn bảo vệ

tiền, và để có tiền, triều đình đã tổ chức mua quan bán tƣớc và đánh thuế nặng
vào ngƣời lao động. Do vậy mà bao khổ cực đã trút lên đầu nhân dân lao
động. Tình trạng căng thẳng nhƣ vậy đã diễn ra khắp nơi, thậm chí còn xuất
hiện ngày càng nhiều mâu thuẫn ngay trong nội bộ các đẳng cấp. Nhìn chung,
mâu thuẫn bao trùm trong toàn xã hội là mâu thuẫn giữa một bên là đẳng cấp
quý tộc liên kết với đẳng cấp tăng lữ nhằm cố duy trì trật tự đƣơng thời và
một bên là đẳng cấp thứ ba đang hƣớng tới con đƣờng cách mạng. Mặt khác,
bản thân chính sách của nhà nƣớc chuyên chế phong kiến đã trở thành lực cản
ngày càng kìm hãm sự phát triển của chủ nghĩa tƣ bản. Điều đó đã đƣa giai
cấp tƣ sản khi ấy trở thành lực lƣợng đại diện cho đẳng cấp thứ ba với mong
muốn thủ tiêu ách áp bức của bọn phong kiến. Khi đó, giai cấp tƣ sản Pháp
còn chƣa bộc lộ nhiều bản chất xấu xa của nó nhƣ giai cấp tƣ sản Anh cùng thời.
Có thể nói, khi bƣớc sang thế kỷ XVIII, ở Pháp quan hệ sản xuất tƣ bản
chủ nghĩa đã thâm nhập vào các vùng nông thôn một cách sâu rộng. Điều này
đã làm cho tình trạng phân hoá giai cấp ở Pháp ngày càng rõ rệt. Giai cấp địa
chủ Pháp đã thực hiện chế độ tƣ bản chủ nghĩa trong nông nghiệp, tăng cƣờng
thu thuế trong nông dân, cƣớp đoạt ruộng đất, tƣớc mất những quyền lợi đã
thành phong tục tập quán, nhƣ chăn nuôi, lấy củi … Do đó, ngƣời nông dân
Pháp đã lâm vào tình trạng sống dở chết dở, với nhiều nỗi khổ cực. “Nhiều
ngƣời đã mất hết ruộng đất và phải đi ăn xin. Nhân dân nông thôn bị chết 21
chóc thảm hại. Theo tài liệu của một số ngƣời đƣơng thời thì vào giữa 1739,
nhiều vùng ở Pháp, ngƣời ta phải ăn cỏ và chết nhƣ ruồi” [Dẫn theo: 49,
tr.76]. Công nghiệp ở Pháp bị kìm hãm bởi những quy tắc do nhà nƣớc
chuyên chế đề ra và bởi các thứ trở ngại khác. Nhiều học giả cho rằng, ở Pháp
thế kỷ XVIII, phƣơng thức sản xuất tƣ bản chủ nghĩa đã phát triển một cách
nhanh chóng. Song, xiềng xích phong kiến đã trói buộc sự phát triển của chủ
nghĩa tƣ bản. Các lực lƣợng sản xuất mới ra đời nhờ phƣơng thức sản xuất tƣ

chính nghĩa vĩnh cửu, cho bình đẳng bắt nguồn từ bản thân giới tự nhiên, và
cho những quyền bất khả xâm phạm của con ngƣời” [6, tr.30-31].
Trong bối cảnh xã hội nhƣ vậy, phái Khai sáng và duy vật Pháp thế kỷ
XVIII, một mặt, đƣa ra một thế giới quan tiên tiến, chỉ rõ vai trò tiến bộ của
giai cấp tƣ sản so với giai cấp phong kiến trong thời đại cách mạng tƣ sản -
cần thủ tiêu chế độ phong kiến tàn bạo trong thời đại cách mạng tƣ sản bằng
cách gợi lên sự tƣơng phản giữa ánh sáng và bóng tối; đồng thời nêu bật ý
nghĩa tiến bộ của những tƣ tƣởng khai sáng ở thế kỷ XVIII. Mặt khác, phái
Khai sáng và duy vật Pháp coi những quan hệ tƣ sản đang hình thành là quan
hệ hoàn toàn tự nhiên, phù hợp với bản chất con ngƣời. Họ coi quan hệ đó là
tự do, bình đẳng, bác ái. Nói về điều này Ph.Ăngghen viết: “Hiện nay, chúng
ta biết rằng vƣơng quốc của lý tính ấy chẳng qua chỉ là vƣơng quốc đƣợc lý
tƣởng hoá của giai cấp tƣ sản; rằng chính nghĩa vĩnh cửu đã đƣợc thực hiện
trong nền tƣ pháp tƣ sản; rằng sự bình đẳng quy lại là bình đẳng tƣ sản trƣớc
pháp luật; rằng một trong những nhân quyền cơ bản nhất của con ngƣời mà
ngƣời ta đã tuyên bố, là quyền sở hữu tƣ sản. Nhà nƣớc của lý tính- khế ƣớc
xã hội của Rútxô - đã thể hiện và chỉ có thể hiện ra nhƣ là nền cộng hoà dân
chủ tƣ sản. Tất cả những nhà tƣ tƣởng vĩ đại của thế kỷ XVIII, cũng nhƣ tất
cả những tiền bối của họ, không thể vƣợt qua những khuôn khổ mà thời đại
của họ đã quy định cho họ” [6, tr.31]. Các nhà Khai sáng và duy vật Pháp thế
kỷ XVIII, đã xác định nhiệm vụ quan trọng của họ lúc này là đánh đổ lý luận
thần bí về Thƣợng đế - lý luận cho rằng lịch sử đã đƣợc quyết định trƣớc và
coi hoạt động cải tạo có tính cách mạng là vô ích. Để thực hiện nhiệm vụ này, 23
theo họ, trƣớc hết cần cách mạng hoá vai trò của lý trí và giáo dục trong xã
hội, nâng cao tính tự giác của con ngƣời trong việc cải tạo các quan hệ xã hội.
Thế kỷ XVIII, ở phƣơng Tây trở thành mốc quan trọng đánh dấu thời
kỳ tan dã của chế độ phong kiến, thời kỳ thắng lợi của cách mạng tƣ sản trên

tr.21]. Theo đó, có thể nói, chính sự phát triển liên tục của các tƣ tƣởng triết
học chính trị phƣơng Tây trong lịch sử đã đƣa đến sự hình thành hệ thống tƣ
tƣởng của Môngtexkiơ về xã hội công dân và nhà nƣớc pháp quyền.
Thật vậy, trong lịch sử tƣởng nhân loại, quan niệm về xã hội công dân
và nhà nƣớc pháp quyền đã có mầm mống ở các nhà triết học Hy lạp cổ đại.
chẳng hạn: Xôlông (638-558 TCN) - nhà làm luật Aten nổi tiếng, ngƣời đã
tiến hành một loạt cải cách nhằm chống lại giới quý tộc thị tộc dƣới ảnh
hƣởng của quần chúng nhân dân - đã nêu lên ý tƣởng về nhà nƣớc pháp
quyền, khi ông chủ trƣơng cải cách nhà nƣớc bằng việc đề cao vai trò của
pháp luật. Ông đã trực tiếp tiến hành các cuộc cải cách nhằm xoá bỏ sự hỗn
loạn trong các thành bang và hoà giải những phe phái thù địch. Ông bảo vệ
nền dân chủ tuyển cử ôn hoà, một chế độ mà lãnh đạo xã hội là những ngƣời
quyền quý, giàu có trong xã hội, còn quần chúng nhân dân thì chỉ có quyền
lựa chọn và giám sát công việc của các quan chức. Theo ông, “điều đảm bảo
cho sự yên bình quốc gia là chính quyền và luật pháp cứng rắn… Tình trạng
vô chính phủ đã đem lại bao tai họa, đƣa các thành phố tới chỗ diệt vong. Chỉ
có pháp luật mới thiết lập đƣợc trật tự và tạo nên sự thống nhất” [50, tr.72].
Tiếp thu quan điểm này của Xôlông, Môngtexkiơ đã chỉ rõ bản chất của nhà
nƣớc cộng hoà nhƣ sau: Các vị pháp quan cầm quyền thì phải bầu chọn, các
viên chức dân sự khác thì đƣợc lựa chọn theo cách rút thăm. Nhƣng việc rút
thăm này chỉ đƣợc tiến hành trong số những ngƣời hiện diện, ngƣời trúng
thăm phải qua sự thẩm xét của pháp quan, và mỗi công dân đều có quyền
khiếu nại nếu thấy ngƣời đó không xứng đáng [29, tr.50]. 25
Arixtốt (384 - 322 TCN) - nhà triết học, nhà tƣ tƣởng vĩ đại nhất của
Hy lạp cổ đại, ngƣời sáng lập lôgíc học - trong tác phẩm “Chính trị”, lần đầu
tiên đã nhắc đến thuật ngữ "xã hội công dân" với mục đích phê phán quan
niệm của Platôn về nhà nƣớc lý tƣởng. Ông mở đầu sự nghiệp nghiên cứu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status