Xã hội công dân và xã hội dân sự: từ
Arixtot đến Hêghen Trần Tuấn Phong, Thạc sĩ, Phó trưởng phòng Triết học Chính trị, Viện Triết học,
Viện Khoa học xã hội Việt Nam. Tạp chí Triết học
Bài viết phân tích tư tưởng của Arixtốt về cộng đồng chính trị - một khái niệm
được coi là khởi thuỷ của khái niệm xã hội công dân/xã hội dân sự sau này. Đồng
thời, phân tích tư tưởng về xã hội dân sự trong thời cận đại qua một số đại biểu
điển hình. Đặc biệt, tác giả đã làm rõ sự kế thừa và phát triển của Hêghen đối với
quan điểm của Arixtốt về xã hội công dân. Theo tác giả, tư tưởng của Hêghen về
xã hội dân sự và nhà nước tuy mang tính duy tâm, song những luận điểm của ông
đóng vai trò nhất định trong sự hình thành tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen về xã
hội dân sự, về vai trò của nhà nước.
Có thể nói, khái niệm xã hội dân sự bắt nguồn từ phương Tây. Thuật ngữ Civil
society được dịch sang tiếng Việt là xã hội công dân hoặc xã hội dân sự. Xung
quanh các thuật ngữ này có rất nhiều nhận định và bàn luận khác nhau, thậm chí
trái ngược nhau. Chính các cách kiến giải khác nhau về nội hàm của khái niệm xã
hội công dân/xã hội dân sự đã đem đến những cách hiểu khác nhau về mối liên hệ
giữa xã hội công dân/xã hội dân sự, gia đình, thị trường và nhà nước. Theo quan
điểm của chúng tôi, nội hàm của khái niệm này mang tính lịch sử cụ thể, nó biến
đổi theo từng thời kỳ phát triển khác nhau của lịch sử phương Tây. Trong phạm vi
nội dung bài viết này, chúng tôi sẽ trình bày một cách khái quát về sự biến đổi của
khái niệm xã hội công dân/xã hội dân sự trong lịch sử tư tưởng triết học chính trị
phương Tây giai đoạn từ Arixtốt đến Hêghen.
1. Arixtốt và cộng đồng chính trị
Về mặt thuật ngữ, khái niệm xã hội công dân/xã hội dân sự chưa xuất hiện trong tư
tưởng của các nhà triết học cổ Hy Lạp. Thuật ngữ “Koinonia politike” mà Arixtốt
dùng để miêu tả đời sống chính trị của Hy Lạp cổ đại thường được dịch là cộng
đồng chính trị có thể được coi là “tiền thân” của khái niệm xã hội công dân/xã hội
dân sự về sau này. Cộng đồng chính trị chính là hình thức tổ chức đời sống chính
life), để tự do hoàn thiện những tiềm năng trí tuệ và đạo đức của con người (2).
Khác với lĩnh vực tư được hiểu như đời sống kinh tế gia đình - nơi mà các cá nhân
theo đuổi cái tư lợi cho riêng mình và gia đình mình, lĩnh vực công hay đời sống
chính trị là nơi các công dân cùng nhau theo đuổi sự phát triển chung của cả cộng
đồng, khi mà họ hoàn toàn bình đẳng với nhau, cùng nhau thảo luận và tham vấn
để tìm ra cách thức tổ chức và phát triển cộng đồng hợp lý nhất có thể. Cái chính
trị, trong quan điểm của Arixtốt, cũng chính là cái chung, bởi Koinonia có hàm
nghĩa chứa đựng cái chung (cái công) trong khi Oikos chỉ giới hạn trong gia đình,
trong lĩnh vực của cái kinh tế, cái tư (cái riêng). Cũng cần phải hiểu là cái chung
trong quan niệm của Arixtốt không phải là cái chung mang tính trừu tượng, đứng
tách biệt với cái riêng. Cái chung ở đây không phải đơn giản là cái tổng thể, một
tập hợp cơ học của các cá thể, mà là cái toàn thể mang tính hữu cơ. Tập hợp các
hộ gia đình một cách cơ học thôi thì chưa đủ để tạo ra cộng đồng chính trị hay
thành-bang. Mối liên hệ giữa cái chung và cái riêng (cái tư) cần được hiểu trên cơ
sở quan niệm của Arixtốt về sự khác biệt biện chứng giữa trình tự lôgíc và trình tự
hiện hữu, bởi học thuyết chính trị - xã hội của Arixtốt được thiết lập trên cơ sở
siêu hình học của ông.
Cái chung “có trước” cái riêng theo trình tự lôgíc, với tư cách là mục đích hay điều
kiện khả thể cho sự tồn tại của cái riêng. Tuy nhiên, cái chung này không tồn tại
một cách độc lập, đứng bên ngoài cái riêng, mà nó hiện thể (hiện thân) qua cái
riêng. Vậy nên, theo trình tự hiện hữu, chỉ khi xuất hiện cái riêng thì cái chung
mới được phát lộ ra. Tiến trình phát lộ cái chung được trung gian hóa qua sự xuất
hiện của cái riêng hạn định và cũng chỉ thông qua các cái riêng này mà cái chung
mới hiện hữu. Với tư cách mục đích và điều kiện khả thể cho cái riêng, cái chung
là cái đem lại ý nghĩa cho sự hiện hữu của cái riêng, là cấu trúc tổ chức, một hình
thức thiết lập trật tự các mối quan hệ của các cái riêng. Mối liên hệ giữa các cái
riêng cá biệt không nảy sinh từ tập hợp ngẫu nhiên của chúng, mà được chế định
bởi cái chung, chỉ trong mối liên hệ với các cá thể khác và tồn tại với tư cách là
hiện thể của cái chung, cái riêng mới nhận được đầy đủ ý nghĩa sự tồn tại của nó.
Từ góc độ về mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng như vậy, chúng ta có thể
polis, chỉ ra đường lối cụ thể để đạt đến cuộc sống toàn thiện, đồng thời định đoạt
ai là công dân của polis và quy định quyền lợi cũng như nghĩa vụ của họ. Các nhà
lãnh đạo chính trị cũng theo hiến pháp mà điều hành polis, giúp mọi người hoàn
thiện và đạt đến cuộc sống phúc lành. Như vậy, có thể hiểu polis là một xã hội
được tổ chức theo hiến pháp (hay một cách chính trị, có sự tham gia tích cực của
các công dân). Ở đây, dường như khái niệm nhà nước và xã hội hiện đại không
tách rời nhau.
Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, trong xã hội Hy Lạp cổ đại không phải tất cả mọi
người đều là công dân, mà công dân chỉ bao gồm những người đàn ông trưởng
thành, có giáo dục và thường là người chủ trong gia đình. Phụ nữ, trẻ em, nô lệ và
người nước ngoài không phải là công dân của thành -bang. Họ bị giới hạn trong
lĩnh vực kinh tế (gia đình), lĩnh vực tư và chịu sự cai quản của người đàn ông chứ
không có quyền được tham gia vào đời sống chính trị, lĩnh vực công của cộng
đồng. Đây cũng chính là những nét hạn chế của quan niệm cộng đồng chính trị Hy
Lạp cổ bị các nhà triết học nữ quyền phê phán mạnh mẽ.
2. Tư tưởng về xã hội dân sự thời cận đại
Nếu như trong đời sống của Hy Lạp cổ đại kinh tế chỉ được coi là lĩnh vực tư, bó
hẹp trong gia đình thì cùng với sự phát triển của lịch sử, kinh tế đã vượt ra khỏi
lĩnh vực tư trong gia đình và thâm nhập vào lĩnh vực công của đời sống xã hội. Từ
chỗ kinh tế là nghệ thuật điều hành gia đình và chỉ nhằm mục đích đảm bảo cung
cấp và thỏa mãn các nhu cầu thiết của con người hoạt động kinh tế đã hướng tới
sản xuất hàng hóa để trao đổi và làm giàu. Kinh tế đã dần dần trở thành “kinh tế xã
hội” và “kinh tế chính trị”, một nghệ thuật quản lý đời sống kinh tế của một quốc
gia. Đặc biệt, sự ra đời và phát triển của hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa
ở phương Tây đã dẫn đến sự thay đổi quan niệm về quan hệ gia đình, xã hội và
nhà nước: cái tư đã dần dần lấn át cái công. Các khía cạnh chính trị, tôn giáo, văn
hóa và kinh tế được tách biệt ra. “Cộng đồng chính trị” được thay thế bằng các
lĩnh vực đời sống văn hóa, chính trị, tôn giáo và kinh tế khá tách bạch trong xã hội
trung và cận đại ở phương Tây. Trong bối cảnh đó, khái niệm dân sự được hình
thành. Theo cách nhìn thuần túy về mặt kinh tế thì xã hội dân sự là một hình thức
chỉ coi trọng lợi ích, quyền lợi và tài sản cá nhân (tư sản), lấn lướt. Quan điểm về
xã hội dân sự mang nặng tính kinh tế này chính là cơ sở để nhiều người đồng nhất
xã hội dân sự (civil society) với xã hội tư sản (bourgeois) hơn là “xã hội dân
chính” hay “xã hội công dân” (civic or civilis).
Tuy nhiên, quan điểm của A.Smith đã bị A.Ferguson phản đối. Trong Luận về lịch
sử xã hội dân sự viết năm 1767, A.Ferguson nêu rõ rằng xã hội dân sự, với tư cách
là một xã hội văn minh của các công dân, không thể thịnh vượng được nếu như
các nhu cầu và lợi ích thuần túy về thương mại và kinh tế lấn át đức hạnh cá nhân
và “tinh thần công” (public spirit). Theo A.Ferguson, xã hội là một lĩnh vực văn
hóa đạo đức nơi mà công dân quyết định vận mệnh của cộng đồng chính trị của
họ, đó cũng là nơi những đức hạnh thiết yếu cho tự do được phát triển. Quan điểm
này được Montesquieu chia sẻ trong Tinh thần pháp luật viết năm 1748. Theo
Montesquieu, xã hội dân sự là lĩnh vực trung giới giữa quyền lực chính trị (nhà
nước) và công dân. Nhà nước và luật pháp ra đời không phải chỉ để bảo vệ các lợi
ích tư và tài sản của cá nhân, mà là nhằm tạo điều kiện cho công dân hoàn thiện và
phát triển. Công bằng xã hội không phải là kết quả do sự phát triển tự do của phát
triển kinh tế (thị trường) đem lại, mà nó được thiết lập bởi các yếu tố và yêu cầu
đạo đức cũng như những mục tiêu chính trị của cả cộng đồng trong sự phát triển
lịch sử của mình. Chỉ khi công dân ý thức được rằng điều kiện cho sự phát triển và
hoàn thiện của mình, quyền lợi của mình được quy định bởi bối cảnh tự nhiên, văn
hóa và xã hội của cộng đồng nơi họ sinh ra thì công dân mới sẵn sàng hy sinh lợi
ích cá nhân (private interests) của mình vì phúc lợi công của cộng đồng (the public
good). Trong nhà nước cộng hòa như vậy, luật pháp không phải là ý muốn tùy tiện
của nhà cầm quyền, mà nó phải dựa vào tập quán (moeurs), môi trường xã hội, tôn
giáo, thương mại… cụ thể của đất nước (6).
3. Hêghen và xã hội dân sự
Có thể thấy, một bước tiến rất đáng ghi nhận về khái niệm xã hội dân sự trong hệ
thống triết học chính trị của Hêghen. Trong Triết học pháp quyền, Hêghen coi xã
hội dân sự như một mắt xích trong cấu trúc hữu cơ của đời sống đạo đức (ethical
life). Đời sống đạo đức bao gồm 3 yếu tố là gia đình, xã hội dân sự và nhà nước.
xã hội dân sự được kiểm soát và điều hành bởi nhà nước(10). Hêghen viết: “Xã
hội dân sự là một con thú hoang cần phải được thuần hóa nghiêm ngặt và thường
xuyên” (11).
Xã hội dân sự ra đời đánh dấu bước phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Hêghen coi xã hội dân sự hay xã hội tư sản chỉ là một giai đoạn phát triển của tự
do, là nơi đề cao quyền của chủ thể hay tự do cá nhân, là nơi con người có quyền
theo đuổi lợi ích cá nhân của mình, được tự do trao đổi (mua và bán) hàng hóa
thông qua cơ chế thị trường. Nhưng những tự do này, theo Hêghen, mang tính trừu
tượng và hình thức bởi vì nó chứa đựng những mục đích cá nhân, mà phần lớn
những mục đích này vẫn bị chi phối bởi những nhu cầu và ham muốn mang tính tự
nhiên của con người như một sinh vật. Tự do đích thực là tự do bao gồm cả năng
lực giúp con người thoát khỏi những ham muốn bản năng và hành động theo các
nguyên lý lý tính. Mặc dù tự do đích thực như vậy chỉ tồn tại trong đời sống đạo
đức trong giai đoạn nhà nước nhưng xã hội dân sự là một phần quan trọng, đóng
vai trò giáo dục và định hướng con người đến giai đoạn tiếp theo của đời sống đạo
đức, giai đoạn nhà nước. Xã hội dân sự là nơi con người bắt đầu ý thức được
những nhu cầu của mình, dần biết “thuần phục” và “giải thoát” khỏi những ham
muốn bản năng để vươn tới tự do đích thực.
Xã hội dân sự được Hêghen đặt giữa gia đình và nhà nước trong tiến trình thực thi
tự do đích thực. Nó bao gồm cả đời sống kinh tế của cộng đồng cùng với các thể
chế pháp luật và cảnh sát, liên hội (12) để đảm bảo sự hoạt động có trật tự và ổn
định. Nếu trong gia đình các thành viên liên kết với nhau bởi tình thương yêu và
sự tin cậy, thì trong xã hội dân sự, các thành viên liên kết với nhau bởi lợi ích cá
nhân. Các lợi ích cá nhân tạo nên sự phụ thuộc của cá nhân với nhau, nhưng sự
khác biệt của các lợi ích cá nhân cũng có thể dẫn đến xung đột; vì vậy, trong đời
sống của xã hội dân sự còn có sự hiện diện của đại diện của các thể chế cảnh sát
và liên hội (cooporation) như là lực lượng “thứ ba” để dàn xếp và điều hành xã hội
dân sự. Ở đây, trong xã hội dân sự, Hêghen cũng cố gắng tìm ra mức độ hợp lý
giữa trao quyền tự do cho xã hội dân sự và việc điều hành giám sát. Nếu xã hội
dân sự có quá nhiều tự do thì có thể dẫn đến sự bất bình đẳng, nhưng nếu các cơ
dân sự đã đóng vai trò nhất định trong sự hình thành tư tưởng của C.Mác và
Ph.Ăngghen về xã hội dân sự, về vai trò của nhà nước và quan niệm duy vật về sự
phát triển của lịch sử.
(1) Theo nguyên từ học thì kinh tế trong tiếng Hy Lạp (oikonomia ) có nghĩa là
quản trị, điều hành gia đình, được hình thành từ hai từ gia đình, nhà (oikos) và
quản trị, điều hành (nemein). Xem tại:
http://www.wordinfo.info/words/index age=1&letter=E
(2) Aristotle. Politics. 1252b 29-30 and 1253a 31-37. The Complete Works of
Aristotle, Vol. 2, Princeton, 1984
(3) Aristotle. Politics 1352a7-18, 178b 15-30
(4) M.Heidegger. Holerdin’s hymn “The Ister”. Translated by W.McNeill and
J.Davis. Indiana University Press, 1996, p.82
(5) The Political Classics. Oxford University Press. 1992. pp. 56-57
(6) Annelien de Dijn. French Political Thought from Montesquieu to Tocqueville .
Cambridge University Press 2008, p. 21
(7) Bởi vì kinh tế thời Hy Lạp cổ chỉ là nền kinh tế gia đình tự cung tự cấp chứ
chưa trở thành kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa thời Hêghen.
(8) G.W.F.Hegel. Philosophy of Right. Translated by S.W Dyde. Kitchener,
Ontario 2001, p.157.
(9) G.W.F.Hegel. Ibid., pp. 155, 156.
(10) G.W.F.Hegel. Ibid., pp. 157, 165, 185,186.
(11) F.Beiser. Hegel. Routledge, New York, 2005. p.249.
(12) Theo M.Inwood thì cảnh sát (polizei có gốc Hy Lạp là politeia) có nghĩa rộng
hơn khái niệm “cảnh sát” ngày nay hiểu vì nó bao gồm cả việc điều hành và quản
lý công xã hội, là chính quyền đảm đương cả những công việc về bảo vệ trật tự và
an ninh đến việc định đoạt giá cả thị trường những mặt hàng thiết yếu, giám sát
chất lượng hàng hóa, cung cấp các dịch vụ y tế… Xem trong M. Inwood. A Hegel
Dictionary. Blackwell Publishers, USA, 1992, pp.54-55.
(13) G.W.F. Hegel. Philosophy of Right. Translated by S.W Dyde. Kitchener,