Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý - Pdf 14

Tiểu luận Triết học
LỜI MỞ ĐẦU
Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần,
vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, lý luận nhận thức, vấn đề cải tạo
thực tiễn nền kinh tế luôn thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng.
Ngày nay, triết học là một bộ phận không thể tách rời với sự phát triển
của bất cứ hình thái kinh tế nào. Những vấn đề triết học về lý luận nhận thức
và thực tiễn, phương pháp biện chứng... luôn là cơ sở, là phương hướng, là
tôn chỉ cho hoạt động thực tiễn, xây dựng và phát triển xã hội. Nếu xuất phát
từ một lập trường triết học đúng đắn, con người có thể có được những cách
giải quyết phù hợp với các vấn dề do cuộc sống đặt ra. Việc chấp nhận hay
không chấp nhận một lập trường triết học nào đó sẽ không chỉ đơn thuần là sự
chấp nhận một thế giới quan nhất định, một cách lý giải nhất định về thế giới,
mà còn là sự chấp nhận một cơ sở phương pháp luận nhất định chỉ đạo cho
hoạt động.
Chúng ta biết rằng, triết học là một trong ba bộ phận cấu thành của chủ
nghĩa Mác. Lênin đã chỉ rõ rằng chủ nghĩa duy vật biện chứng đó chính là
triết học của chủ nghĩa Mác. Cho đến nay, chỉ có triết học Mác là mang tính
ưu việt hơn cả. Trên cơ sở nền tảng triết học Mác - Lênin, Đảng và Nhà nước
ta đã học tập và tiếp thu tư tưởng tiến bộ, đề ra những mục tiêu, phương
hướng chỉ đạo chính xác, đúng đắn để xây dựng và phát triển xã hội, phù hợp
với hoàn cảnh đất nước. Mặc dù có những khiếm khuyết không thể tránh khỏi
song chúng ta luôn đi đúng hướng trong cải tạo thực tiễn, phát triển kinh tế,
từng bước đưa đất nước ta tiến kịp trình độ các nước trong khu vực và thế
giới về mọi mặt. Chính những thành tựu của xây dựng chủ nghĩa xã hội và
qua mười năm đổi mới là minh chứng xác đáng cho vấn đề nêu trên. Hoạt
động nhận thức và cải tạo thực tiễn cùng với sự nắm bắt các quy luật khách
quan trong vận hành nền kinh tế ở nước ta là một vấn ềề còn nhiều xem xét và
tranh cãi, nhất là trong quá trình đổi mới hiện nay.Vì vậy, em quyết định chọn
đề tài “Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý”.

SV: Trần Trung Dũng - Lớp 32A
Tiểu luận Triết học
+ Thừa nhận khả năng nhận thức được thế giới của con người, coi nhận
thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người, là hoạt
động tìm hiểu khách thể của chủ thể.
+ Khẳng định sự phản ánh đó là một quá trình biện chứng tích cực, tự
giác và sáng tạo. Quá trình đó diễn ra theo trình tự từ chưa biết đến biết, từ hiện
tượng đến bản chất, từ biết ít đến biết nhiều, từ kém sâu sắc đến sâu sắc hơn.
+ Coi thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức, là động
lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý.
2. Quá trình nhận thức
- Nhận thức là một quá trình biện chứng diễn rất phức tạp, bao gồm
nhiều giai đoạn, trình độ, vòng khâu và hình thức khác nhau.
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng coi nhận thức không phải là sự phản
ánh giản đơn, thụ động, mà là một quá trình gắn liền với hoạt động thực tiễn.
Quá trình đó đã được Lênin chỉ ra như sau: "Từ trực quan sinh động đến tư
duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - đó là con đường biện
chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan".
- Tuỳ theo tính chất của sự nghiên cứu mà quá trình đó được phân hoá
ra thành các cấp độ khác nhau như: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính,
nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận hay nhận thức thông thường và
nhận thức khoa học.
Theo Lênin thì quá trình nhận thức trải qua hai khâu sau:
a) Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng.
- Trực quan sinh động hay chính là nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu
tiên, gắn liền với thực tiễn và thông qua các giác quan trong đó.
+ Cảm giác là hình thức đầu tiên của sự phản ánh hiện thực khách quan,
là sự phản ánh những thuộc tính riêng lẻ của các sự vật, hiện tượng khi chúng
tác động trực tiếp vào các giác quan của con người như màu sắc, mùi vị, độ
rắn… Sự tác động này gây nên sự kích thích của các tế bào thần kinh làm xuất

tách ra và nắm lấy cái bản chất có tính quy luật của các sự vật, hiện tượng. Vì
vậy, nó đạt đến trình độ phản ánh sâu sắc hơn, chính xác hơn và đầy đủ hơn
SV: Trần Trung Dũng - Lớp 32A
Tiểu luận Triết học
cái bản chất của đối tượng, là giai đoạn cao của quá trình nhận thức khái
niệm, phán đoán, suy lý.
+ Khái niệm: là hình thức cơ bản nhất của tư duy trừu tượng, nó phản
ánh, khái quát những đặc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của một lớp các sự
vật, hiện tượng nhất định (đó chính là những đặc tính bản chất của sự vật).
Khái niệm được hình thành trên cơ sở hoạt động thực tiễn, là kết quả của sự
khái quát những tri thức do trực quan sinh động đem lại. Khái niệm vừa có
tính chủ quan vừa có tính khách quan, vừa có mối quan hệ tác động qua lại
với nhau, vừa thường xuyên vận động và phát triển. Nó chẳng những rất linh
động, mềm dẻo năng động mà còn là "Điểm nút" của quá trình tư duy trừu
tượng, là cơ sở để hình thành phán đoán.
+ Phán đoán là sự vận dụng các khái niệm trong ý thức con người để
phản ánh mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng cũng như các thuộc tính, tính
chất của chúng hay chính là hình thức của sự liên kết các khái niệm lại với
nhau. Có nhiều loại phán đoán khác nhau. Tuỳ theo cách phân chia ta có:
phán đoán khẳng định, phán đoán phủ định, phán đoán phổ biến, phán đoán
đặc thù và phán đoán đơn nhất.
+ Suy lý (suy luận) là quá trình lôgic của tư duy tuân theo quy luật nhất
định để tạo ra một phán đoán mới từ những phán đoán tiền đề hay chính là
hình thức của tư duy liên kết các phán đoán lại với nhau để rút ra tri thức mới.
Tính chân thực của phán đoán két luận phụ thuộc vào tính chân thực của phán
đoán tiền độ cũng như tính hợp quy luật của quá trình suy luận.
- Giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính (hay trực quan sinh
động và tư duy trừu tượng) có sự thống nhất bởi đó là hai giai đoạn của một
quá trình nhận thức, dựa trên cơ sở thực tiễn và hoạt động thần binh cao cấp.
Chúng là những nấc thang hợp thành chu trình nhận thức, giữa chúng có sự

trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý".
- Nhờ có thực tiễn kiểm nghiệm, chứng minh mà ta xác định đâu là cái
hợp quy luật, đâu là cái tri thức đúng, đâu là sai lầm cũng như cái gì nên làm,
SV: Trần Trung Dũng - Lớp 32A
Tiểu luận Triết học
cái gì không nên làm, đâu là cái không hợp với quy luật mà chân lý chính là
cái tri thức đúng, cái hợp quy luật hay là đúng với quy luật.
- Thực tiễn chẳng những là điểm xuất phát của nhận thức, là yếu tố
đóng vai trò quyết định đối với sự hình thành và phát triển của nhận thức mà
còn là nơi nhận thức còn phải luôn luôn hướng tới để thể nghiệm tính đúng
đắn của mình. Vì thế mà thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức
vừa là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý. Và khi nhấn mạnh điều này thì V.I.
Lênin đã viết: "Quan điểm về đời sống và thực tiễn phải là quan điểm thứ
nhất và cơ bản của lý luận nhận thức".
- Chúng ta phải luôn luôn quán triệt quan điểm thực tiễn, quan điểm này
yêu cầu việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn,
độ sâu vào thực tiễn, phải coi trọng công tác tổng kết thực tiễn, việc nghiên
cứu phải liên hệ với thực tiễn tức là "học phải đi đôi với hành". Nếu xa rời
thực tiễn sẽ dẫn đến sai lầm của bệnh chủ quan, duy ý chí, giáo điều, máy
móc, quan liêu, không xác định được quy luật, không phân biệt được quy luật
đó có hợp quy luật hay không có là tri thức đúng (chân lý) hay không nhưng
nếu tuyệt đối hóa thì sẽ rơi vào chủ nghĩa thực dụng, kinh nghiệm chủ nghĩa
nên đòi hỏi chúng ta phải có cái nhìn đúng đắn thì mới xác định được quy luật
hợp chân lý.
- Những tri thức phù hợp với hiện thực khách quan và được thực tiễn
kiểm nghiệm chính là những tri thức đúng, có đúng thời mới phù hợp được
với hiện thực khách quan còn tri thức sai, sai lầm thì không thể phù hợp với
hiện thực khách quan được.
b) Chân lý có tính cụ thể, có đặc tính gắn liền và phù hợp giữa nội dung
phản ánh với một đối tượng nhất định cùng các điều kiện, hoàn cảnh lịch sử


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status