Quản trị rủi ro tỷ giá trong các công ty xuất nhập khẩu - Pdf 14


TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA SAU ĐẠI HỌC TIỂU LUẬN
QUẢN TRỊ RỦI RO

ĐỀ TÀI:
QUẢN TRỊ RỦI RO TỶ GIÁ
TRONG CÁC CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU Giảng viên: Mai Thu Hiền
Nhóm thực hiện: Nguyễn Thành Chung
Nguyễn Thị Bích Hạnh
Lớp: TCNH 19A

Hà Nội, tháng 10 năm 2013
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 2
PHẦN NỘI DUNG 3
1 . Khái niệm về rủi ro tỷ giá 3
2. Rủi ro tỷ giá trong hoạt động xuất nhập khẩu 3

của M ỹ và Nhật vào những rắc rối về tỷ giá trong các thập niên 1980 và 1990.
Những biến động bất lợi của tỷ giá có thể tạo ra nhiều khó khăn cho hoạt động
kinh doanh của các công ty khiến cho doanh thu lẫn lợi nhuận giảm thấp.
Tại Việt Nam, tỷ giá USD/VND cũng có nhiều giai đoạn biến động rất bất
thường gây tác động không nhỏ đến hoạt động của các doanh nghiệp. Tiểu luận
tập trung làm rõ về mặt lý thuyết và thực tiễn những tác động rủi ro tỷ giá đến
các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và đề xuất một số biện pháp nhằm giảm những
rủi ro này.

PHẦN NỘI DUNG

1 . Khái niệm về rủi ro tỷ giá
Rủi ro tỷ giá là rủi ro phát sinh do sự biến động tỷ giá làm ảnh hưởng đến
giá trị kỳ vọng trong tương lai. Rủi ro tỷ giá có thể phát sinh trong nhiều hoạt
động khác nhau của doanh nghiệp. Nhưng nhìn chung bất cứ hoạt động nào mà
dòng tiền vào (inflows) phát sinh bằng một loại đồng tiền trong khi dòng tiền ra
(outflows) phát sinh một loại đồng tiền khác đều chứa đựng nguy cơ rủi ro tỷ giá.


2.2. Rủi ro tỷ giá đối với hợp đồng nhập khẩu
Giả sử ngày 13/09/2013 công ty B đang thương lượng ký kết hợp đồng
nhập khẩu trị giá 200.000USD. Hợp đồng sẽ đến hạn thanh toán vào ngày
13/03/2014 tức là sáu tháng sau kể từ ngày ký hợp đồng. Ở thời điểm thương
lượng hợp đồng, tỷ giá USD/VND = 21.150 trong khi tỷ giá ở thời điểm thanh
toán (13/03/2014) chưa biết. Sự không chắc chắn của tỷ giá USD/VND vào thời
điểm thanh toán khiến cho hợp đồng nhập khẩu của công ty B chứa đựng rủi ro
tỷ giá. Nếu đến hạn thanh toán, USD xuống giá so với VND thì bên cạnh lợi
nhuận do hoạt động nhập khẩu đem lại công ty còn kiếm thêm được khoản lợi
nhuận tăng thêm do USD xuống giá so với VND làm cho chi phí nhập khẩu giảm
tương đối. Ngược lại, nếu đến hạn thanh toán USD lên giá so với VND thì chi
phí nhập khẩu kỳ vọng bằng VND của hợp đồng nhập khẩu trên tăng lên. Sự gia
tăng chi phí này làm cho lợi nhuận kỳ vọng từ hợp đồng nhập khẩu giảm đi thậm
chí khiến cho hợp đồng trở nên lỗ nếu như sự lên giá USD nghiêm trọng hơn.
Chẳng hạn, vào ngày thanh toán nếu USD/VND = 21.250 thì cứ mỗi USD nhập
khẩu làm cho chi phí gia tăng 100VND so tỷ giá lúc thương lượng hợp đồng.
Toàn bộ hợp đồng trị giá 200.000USD, công ty bị thiệt hại 100 x 200.000 = 2
triệu VND. Sự thiệt hại này không lớn lắm trong phạm vi một hợp đồng, nhưng
nếu tính chung trong toàn bộ hoạt động nhập khẩu, công ty có đến hàng trăm hợp
đồng như vậy hoặc hợp đồng có giá trị lớn hơn, thiệt hại sẽ lớn đáng kể. 3. Tác động của rủi ro tỷ giá đối với các công ty xuất nhập khẩu
Về lý thuyết, biến động tỷ giá tác động mạnh lên các doanh nghiệp xuất
nhập khẩu và được đo lường bằng độ nhạy cảm đối với rủi ro tỷ giá.
Nguy cơ về độ nhạy cảm tỷ giá bắt nguồn từ các giao dịch thương mại.
Đây là loại nguy cơ độ nhạy cảm tỷ giá phổ biến nhất mà các doanh nghiệp gặp
phải do hoặc phải trả tiền cho người cung cấp hoặc bán hàng và thu về một đồng
tiền khác với đồng tiền nước mình, thông qua các giao dịch như:
- Mua nguyên vật liệu cho sản xuất kinh doanh trả tiền bằng ngoại tệ, hoặc

sau USD sẽ lên giá hay xuống giá không ai có thể chắc chắn được. Để có thể trả
lời được câu hỏi thứ nhất, công ty A nên:
• Thứ nhất, phân tích biến động tỷ giá USD/VND trong vòng sáu tháng tới
sẽ như thế nào? Từ đó dự báo xác suất USD sẽ lên giá là bao nhiêu phần trăm,
bao nhiêu phần trăm khả năng USD sẽ không lên giá so với VND.
• Thứ hai, xem xét mức độ ảnh hưởng và khả năng chịu đựng về tài chính
của công ty nếu không ngừa rủi ro tỷ giá.
• Cuối cùng, xem xét thái độ của ban giám đốc đối với rủi ro.
Dựa trên cơ sở 3 sự phân tích này, ban giám đốc sẽ ra quyết định thứ nhất
là có ngừa rủi ro hay không. Nói chung, với những người ngại rủi ro khi đứng
trước những tình huống như vậy họ sẽ ra quyết định phòng ngừa rủi ro dù biết
rằng quyết định như thế có thể bị thiệt hại nếu như USD lên giá. Họ xem những
thiệt hại (nếu có) như là chi phí bảo hiểm cần thiết để mua lấy một sự yên tâm
bởi vì lợi nhuận mà họ kỳ vọng là lợi nhuận sinh ra từ hoạt động xuất khẩu chứ
không phải lợi nhuận sinh ra từ sự biến động tỷ giá.
Đối với quyết định thứ hai, phòng ngừa rủi ro bằng cách nào, tùy theo
điều kiện và khả năng thực hiện công ty có thể lựa chọn một trong những phương
pháp dưới đây.

4.1. Sử dụng hợp đồng xuất nhập khẩu song hành
Đây là phương pháp tự bảo hiểm rủi ro tỷ giá đơn giản bằng cách tiến
hành song song cùng một lúc cả hai hợp đồng xuất khẩu và nhập khẩu có giá trị
và thời hạn tương đương nhau. Bằng cách này, nếu USD lên giá so với VND thì
công ty sẽ sử dụng phần lãi do biến động tỷ giá từ hợp đồng xuất khẩu để bù đắp
phần tổn thất do biến động tỷ giá của hợp động nhập khẩu. Ngược lại, nếu USD
giảm giá so với VND thì công ty sẽ sử dụng phần lợi nhuận do biến động tỷ giá
từ hợp đồng nhập khẩu để bù đắp thiệt hại do biến động tỷ giá của hợp đồng xuất
khẩu. Kết quả là dù USD lên giá hay xuống giá rủi ro tỷ giá luôn được trung hoà.
Phương pháp này đơn giản, hữu hiệu, dễ thực hiện và ít tốn kém nếu như
công ty có hoạt động đa dạng cả xuất khẩu và nhập khẩu. Tuy nhiên, vấn đề của

tháng sau kể từ ngày ký hợp đồng. Ở thời điểm thương lượng hợp đồng, tỷ giá
mua vào giao ngay USD/VND = 21.100 trong khi tỷ giá ở thời điểm thanh toán
(07/02/2014) chưa biết. Để tự bảo hiểm rủi ro tỷ giá, công ty liên hệ với ngân
hàng Eximbank để bán 200.000USD kỳ hạn 6 tháng. Sau khi tham khảo tỷ giá
mua vào giao ngay ở thời điểm hiện tại và lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng của
USD và VND trên thị trường tiền tệ TP.HCM là 2%/năm và 6.5%/năm,
Eximbank chào tỷ giá mua USD kỳ hạn 6 tháng cho công ty A là 21.570
Với tỷ giá này Sagonimex biết chắc sau sáu tháng doanh thu xuất khẩu
mình sẽ thu về là 200.000 x 21.570 = 4.314.000.000 VND bất chấp tỷ giá giao
ngay trên thị trường lúc đến hạn thanh toán là bao nhiêu đi nữa.
Đối với hợp đồng nhập khẩu sẽ đến hạn thanh toán sau một thời hạn nhất
định rủi ro tỷ giá phát sinh nếu như ngoại tệ (USD) lên giá so với nội tệ (VND).
Nhằm tránh rủi ro, công ty sẽ liên hệ với ngân hàng thương mại thoả thuận mua
ngoại tệ kỳ hạn với thời hạn tương đương thời hạn của hợp đồng nhập khẩu.
Bằng cách này, ngân hàng thương mại sẽ thoả thuận với công ty tỷ giá bán
kỳ hạn cố định biết trước. Với tỷ giá cố định biết trước, công ty chắc chắn chi phí
nhập khẩu quy ra VND là bao nhiêu khi đến hạn, bất chấp sự biến động tỷ giá
giao ngay trên thị trường lúc đó là bao nhiêu. Tương tự trở lại ví dụ công ty B
ngày 13/09/2013 công ty B đang thương lượng ký kết hợp đồng nhập khẩu trị giá
200.000USD. Hợp đồng sẽ đến hạn thanh toán vào ngày 13/03/2014 tức là sáu
tháng sau kể từ ngày ký hợp đồng. Ở thời điểm thương lượng hợp đồng, tỷ giá
bán ra USD/VND = 21.150 trong khi tỷ giá ở thời điểm thanh toán (13/03/2014)
chưa biết. Để tự bảo hiểm rủi ro tỷ giá, công ty liên hệ với ngân hàng Eximbank
để mua 200.000USD kỳ hạn 6 tháng. Sau khi tham khảo tỷ giá giao ngay ở thời
điểm hiện tại và lãi suất kỳ hạn 6 tháng của USD là 2%/năm và VND là
6.5%/năm trên thị trường tiền tệ TP.HCM, Eximbank chào tỷ giá USD/VND bán
kỳ hạn 6 tháng cho công ty B là 21.620. Với tỷ giá này công ty B biết chắc sáu
tháng sau chi phí nhập khẩu sẽ chi ra là 200.000 x 21.620 = 4.324.000.000VND
bất chấp tỷ giá giao ngay trên thị trường lúc đến hạn thanh toán là bao nhiêu đi
nữa.

4.6. Sử dụng hợp đồng quyền chọn
Về cơ bản có hai loại hợp đồng quyền chọn (options) trên thị trường ngoại
hối: quyền chọn mua (call option) và hợp đồng quyền chọn bán (put option).
Quyền chọn mua là một tài sản tài chính cho phép ngừời mua nó có quyền,
nhưng không bắt buộc, được mua một số lượng ngoại tệ theo tỷ giá cố định biết
trước trong một thời hạn nhất định. Quyền chọn bán là một tài sản tài chính cho
phép người mua nó có quyền, nhưng không bắt buộc, được bán một số lượng
ngoại tệ theo tỷ giá cố định biết trước trong một thời hạn nhất định.
Tỷ giá cố định biết trước gọi là tỷ giá thực hiện, tức là tỷ giá sẽ được áp
dụng nếu người mua quyền chọn thực hiện quyền của họ. Thời hạn nhất định tính
từ lúc mua quyền chọn cho đến khi quyền chọn hết hạn gọi là thời hạn của quyền
chọn. Để có quyền chọn người ta phải mua. Số tiền người mua phải bỏ ra để có
được quyền chọn gọi là phí mua quyền chọn.
Hợp đồng quyền chọn trên thị trường ngoại hối cũng có thể sử dụng như
một công cụ ngừa rùi ro tỷ giá. Trong trường hợp của công ty A, đang thương
lượng hợp đồng xuất khẩu trả chậm, để tránh rủi ro tỷ giá công ty có thể mua
quyền chọn bán (kiểu châu Âu) 200.000USD với thời hạn 6 tháng. Người bán
quyền chọn sẽ chào cho công ty tỷ giá thực hiện, ví dụ USD/VND = 21.450. Đến
thời điểm đáo hạn công ty có quyền bán 200.000USD cho người bán quyền chọn
ở tỷ giá cố định biết trước là USD/VND = 21.450. Khi hợp đồng xuất khẩu đến
hạn thanh toán, công ty A thu về được 200.000USD, số ngoại tệ này công ty có
quyền bán theo tỷ giá USD/VND = 21.450 bất chấp tỷ giá trên thị trường là bao
nhiêu.
Trong trường hợp công ty B, để tránh rủi ro công ty có thể mua quyền
chọn mua (kiểu châu Âu) trị giá 200.000USD với thời hạn 6 tháng. Người bán
quyền sẽ chào cho công ty tỷ giá, ví dụ USD/VND = 21.500. khi hợp đồng nhập
khẩu đến hạn thanh toán, công ty có quyền mua 200.000USD từ người bán quyền
chọn ở tỷ giá cố định biết trước là USD/VND = 21.500. Số ngoại tệ này công ty
dùng để thanh toán hợp đồng nhập khẩu và cố định chi phí nhập khẩu quy ra
VND bất chấp tỷ giá giao ngay trên thị trường lúc hợp đồng nhập khẩu đến hạn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status