Tiểu luận môn Quản Trị Rủi Ro TS:Mai Thu Hiền
Nhóm 10 Lớp Cao học TCNH 19A Page
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA SAU ĐẠI HỌC
o0o
TIỂU LUẬN MÔN
QUẢN TRỊ RỦI RO
“Hoàn thiện hệ thống quản trị rủi ro tín dụng trong
các ngân hàng thương mại Việt Nam” Hà Nội, tháng 09 năm 2013 H
ọ
c viên th
ự
c
hiện
:
Hoàng Tùng
2
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ 4
LỜI MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ HỆ
THỐNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI 6
1.1. Rủi ro tín dụng 6
1.1.1. Khái niệm tín dụng 6
1.1.2. Khái niệm rủi ro tín dụng 6
1.1.3. Các nguyên nhân của rủi ro tín dụng 7
1.1.4. Phân loại RRTD 9
1.1.5. Các dấu hiệu rủi ro tín dụng 11
1.1.6. Các chỉ số đánh giá rủi ro tín dụng 12
1.2. Hoạt động quản trị rủi ro tín dụng trong các ngân hàng thương mại 13
1.2.1. Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng 13
1.2.2. Nội dung của quản trị rủi ro tín dụng 14
1.3. Kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng ở một số quốc gia 24
1.3.1. Kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng Thái Lan 24
1.3.2. Kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng Mỹ 24
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 25
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ
Stt
Tên
Trang
Bảng 2.1
Bảng 2.1: Dự phòng rủi ro tín dụng
6
Tiểu luận môn Quản Trị Rủi Ro TS:Mai Thu Hiền
Nhóm 10 Lớp Cao học TCNH 19A Page
5
LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng là lĩnh vực kinh doanh luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro so với các
loại hình kinh doanh thông thường khác. Trong nỗ lực tìm kiếm lợi nhuận,
các Ngân hàng không thể tránh khỏi rủi ro, mà chỉ có thể tìm cách làm hạn
chế đến mức tối đa những tổn thất có thể có bằng cách đề ra cho mình một
chiến lược quản trị rủi ro thích hợp.
Một trong những loại rủi ro thường xuyên gặp phải của các Ngân hàng
là rủi ro tín dụng. Nhận thức rõ tính cấp bách của vấn đề này,nhóm 5 đã chọn
đề tài: “Hoàn thiện hệ thống quản trị rủi ro tín dụng trong các ngân hàng
thương mại Việt Nam”
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tiểu luận gồm những nội dung chính
sau:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng và hệ thống quản trị
nhất định. Theo Khoản 14, Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010,
“Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền
hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả
bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo
lãnh NH và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Trên cơ sở đó, hoạt động tín
dụng là hoạt động cơ bản của bất kỳ NHTM nào, đồng thời cũng là hoạt động
tiềm ẩn nhiều rủi ro.
1.1.2. Khái niệm rủi ro tín dụng
Có nhiều cách khác nhau để định nghĩa về RRTD, song các quan niệm
về RRTD đều hội tụ với nhau về bản chất, đó là: RRTD là khả năng (xác
suất) xảy ra những thiệt hại về kinh tế mà NH phải gánh chịu do khách
hàng vay vốn thanh toán nợ không đúng hạn hoặc không hoàn trả được
nợ vay (gồm gốc và/hoặc lãi). RRTD có thể gây tổn thất về tài chính cho
ngân hàng đó là làm giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn;
trong trường hợp nghiêm trọng sẽ dẫn tới thua lỗ, nếu ở mức độ cao hơn có
thể dẫn đến phá sản ngân hàng.
Tiểu luận môn Quản Trị Rủi Ro TS:Mai Thu Hiền
Nhóm 10 Lớp Cao học TCNH 19A Page
7
1.1.3. Các nguyên nhân của rủi ro tín dụng
1.1.3.1. Nguyên nhân khách quan từ môi trường bên ngoài
Môi trường pháp lý chưa thuận lợi
- Sự kém hiệu quả của cơ quan pháp luật.
- Hoạt động thanh tra NH và đảm bảo an toàn hệ thống chưa có sự cải
thiện căn bản về chất lượng.
- Chưa có một cơ chế công bố thông tin đầy đủ về doanh nghiệp và ngân
hàng.
Môi trường kinh tế không ổn định
1.1.3.3. Nguyên nhân từ phía ngân hàng
- Sự lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ tại các NH.
- NH xây dựng chính sách tín dụng không phù hợp.
- Thiếu giám sát và quản lý sau khi cho vay.
- Bố trí cán bộ thiếu đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
- Sự hợp tác giữa các NHTM quá lỏng lẻo, vai trò của CIC chưa thực sự
hiệu quả.
1.1.3.4- Thông tin không cân xứng
Trong những giao dịch diễn ra trên thị trường tài chính, một bên
thường không biết tất cả những gì mà người ta cần biết về bên để có được
một quyết định đúng đắn. Sự không cân bằng về thông tin mà mỗi bên có
được gọi là thông tin không cân xứng. Việc thiếu thông tin tạo ra những vấn
đề trong hệ thống tài chính ở hai mặt, trước khi cuộc giao dịch diễn ra và sau
khi cuộc giao dịch diễn ra.
Chọn lựa đối nghịch là do vấn đề thông tin không cân xứng tạo ra
trước khi diễn ra cuộc giao dịch. Do việc lựa chọn đối nghịch khiến dễ có thể
là các món cho vay được thực hiện cho những trường hợp rủi ro không trả
được nợ, những người cho vay có thể quyết định không cho vay mặc dù có
những trường hợp có thể trả được nợ.
Những người dễ có thể tạo ra một kết cục đối nghịch nhất lại có thể
được lựa chọn nhất. Họ là những người vay tiền ít được ưa chuộng nhất vì có
nhiều khả năng hơn rằng họ sẽ không hoàn trả được những món nợ của họ.
Rủi ro đạo đức là một vấn đề do thông tin không cân xứng tạo ra sau
khi cuộc giao dịch diễn ra. Đó là khi người cho vay phải chịu một rủi ro là
Tiểu luận môn Quản Trị Rủi Ro TS:Mai Thu Hiền
Nhóm 10 Lớp Cao học TCNH 19A Page
Tiểu luận môn Quản Trị Rủi Ro TS:Mai Thu Hiền
Nhóm 10 Lớp Cao học TCNH 19A Page
10
- Rủi ro bảo đảm: là loại rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như
các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản, chủ thể, hình thức
đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo.
- Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác theo dõi và quản trị
khoản vay, hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng
tín dụng và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề.
1.1.4.2. Các cách phân loại khác
Theo sản phẩm tín dụng
- Rủi ro sản phẩm tín dụng nội bảng: Là rủi ro phát sinh từ những khoản
cho vay, chiết khấu, thấu chi được hạch toán trong nội bảng.
- Rủi ro sản phẩm tín dụng ngoại bảng: Là rủi ro phát sinh từ những sản
phẩm ngoại bảng trong tài trợ thương mại, như mở L/C, bảo lãnh,…
Theo giai đoạn phát sinh
- Rủi ro trong thẩm định: là rủi ro mà tổ chức tín dụng (TCTD) đánh giá
sai khách hàng.
- Rủi ro khi cho vay: Là rủi ro mà khi giải ngân vốn sai mục đích, làm
cho khoản vay không phát huy hiệu quả.
- Rủi ro trong quản trị, thu hồi nợ: Là rủi ro phát sinh do quá trình giám
sát thu hồi nợ không theo dõi được dòng tiền của khách hàng để khách hàng
sử dụng vốn quay vòng vào việc khác không thu hồi được nợ đúng kỳ hạn,
hoặc không thu hồi được nợ.
Theo đối tượng khách hàng
- Rủi ro khách hàng cá thể: là loại rủi ro gắn với đối tượng khách hàng
là cá nhân, hộ gia đình. Thông thường mức độ rủi ro của từng khoản vay đơn
lẻ sẽ thấp.
thời, không có khả năng giải quyết những thay đổi đột ngột.
Nhóm dấu hiệu thuộc về thông tin kế toán, tài chính của khách hàng:
- Chuẩn bị không đầy đủ, chậm trễ hoặc trì hoãn các số liệu kế toán, tài
chính;
- Các số liệu kế toán không khớp hoặc có sự điều chỉnh số liệu;
- Thường xuyên không đạt mục tiêu về kế hoạch sản xuất, tiêu thụ,…
Nhóm dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với NH: Nhóm dấu hiệu này
thể hiện qua xu hướng của các tài khoản của khách hàng tại NH, phương thức
tài chính mà khách hàng sử dụng như:
- Giảm sút mạnh số dư tiền gửi;
- Chậm trễ trong việc trả lương nhân viên;
Tiểu luận môn Quản Trị Rủi Ro TS:Mai Thu Hiền
Nhóm 10 Lớp Cao học TCNH 19A Page
12
- Yêu cầu khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến;
- Sử dụng nhiều nguồn tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động dài hạn;
- Chấp nhận sử dụng nguồn tài trợ với lãi suất cao;
- Chậm thanh toán nợ gốc và lãi cho NH.
Nhóm dấu hiệu thuộc vấn đề kỹ thuật và thương mại:
- Khó khăn trong việc phát triển sản phẩm mới hoặc không có sản phẩm
thay thế;
- Sản phẩm có tính thời vụ cao;
- Những thay đổi trong chính sách của Nhà nước ảnh hưởng đến hoạt
động của doanh nghiệp;
- Những biến động trên thị trường như tỷ giá, lãi suất, thị hiếu khách
hàng, xuất hiện đối thủ cạnh tranh,…
1.1.5.2. Nhóm dấu hiêụ xuất phát từ ngân hàng
Nhóm dấu hiệu xuất phát từ chính sách của NH
Tỷlệnợquáhạn =
Dưnợquáhạn
Tổngdưnợchovay
Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR)
Tỷlệantoànvốntốithiểu =
Vốntựcó
TổngtàisảnCórủiroTrong đó:
Vốn tự có = Vốn cấp 1 + vốn cấp 2 – các khoản giảm trừ
Theo quy định tại Điều 4, Thông tư 13/2010/TT-NHNN: “TCTD, trừ chi
nhánh NH nước ngoài, phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% giữa vốn tự
có so với tổng tài sản “Có” rủi ro của TCTD (tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ)” và
“đồng thời duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% trên cơ sở hợp nhất vốn, tài
sản của tổ chức tín dụng và công ty trực thuộc (tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất)”.
1.2. Hoạt động quản trị rủi ro tín dụng trong các ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng
Theo quan điểm hiện đại được các NH áp dụng phổ biến, quản trị
RRTD là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, chính sách quản trị
và kinh doanh tín dụng nhằm tối đa hóa lợi nhuận trong phạm vi mức rủi ro
Tiểu luận môn Quản Trị Rủi Ro TS:Mai Thu Hiền
Nhóm 10 Lớp Cao học TCNH 19A Page
14
có thể chấp nhận. Kiểm soát RRTD ở mức có thể chấp nhận là việc NHTM
tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm thấp nợ quá hạn, nợ
xấu trong kinh doanh tín dụng, nhằm tăng doanh thu tín dụng, giảm thấp chi
phân tích, dự báo về tình hình tài chính tiền tệ như lãi suất, lạm phát, tỷ
giá,…
Thứ sáu là căn cứ vào những nguyên tắc của quản trị RRTD.
- Nguyên tắc 1: Chiến lược quản trị RRTD phải phù hợp với chiến lược
phát triển và chính sách tín dụng của NH.
- Nguyên tắc 2: Tuân thủ các quy tắc tín dụng đề ra.
- Nguyên tắc 3: NH cần có một bộ phận quản trị RRTD riêng, hoạt động
độc lập với các bộ phận kinh doanh khác, hay nói cách khác là đảm bảo sự
độc lập của nhà quản trị rủi ro trong việc nhìn nhận ra các rủi ro riêng của
từng bộ phận kinh doanh cũng như toàn cảnh rủi ro của NH.
- Nguyên tắc 4: Thực hiện nguyên tắc “hai tay, bốn mắt” trong hoạt
động quản trị RRTD.
- Nguyên tắc 5: Thực hiện phân cấp, phân quyền hợp lý, giải quyết hài
hòa mối quan hệ lợi ích và trách nhiệm.
- Nguyên tắc 6: Quản trị RRTD được tiến hành đối với toàn bộ danh
mục cho vay cũng như đối với mỗi khoản vay riêng lẻ.
- Nguyên tắc 7: Quản trị RRTD được xem xét trong mối quan hệ với các
loại rủi ro khác.
- Nguyên tắc 8: Quản trị RRTD cần đồng thời thực hiện với các công
việc như xác định, định lượng, giám sát và quản trị RRTD cũng như thực
hiện dự phòng rủi ro để bù đắp khi có tổn thất xảy ra.
- Nguyên tắc 9: Nguyên tắc cân bằng giữa chi phí và lợi ích thu về. Chi
phí cho công tác quản trị RRTD phải thấp hơn thu nhập mang lại từ hoạt
động đó.
1.2.2.2. Phân tích rủi ro tín dụng
Các mô hình định lượng về RRTD
Mô hình điểm số Z (Z – Credit scoring model)
Mô hình điểm số Z do E.I.Altman hình thành để cho điểm tín dụng đối
với các công ty sản xuất của Mỹ. Đại lượng Z là thước đo tổng hợp để phân
= tỷ số “Lợi nhuận để lại/tổng tài sản”
= tỷ số “Lợi nhuận trước thuế/tổng tài sản”
= tỷ số “Thị giá cổ phiếu/giá trị ghi sổ của nợ dài hạn”
= tỷ số “Doanh thu/tổng tài sản”
Trị số Z càng cao thì người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp. Theo mô
hình này, bất cứ công ty nào có điểm số Z thấp hơn 1,81 phải được xếp vào
nhóm có nguy cơ RRTD cao; những công ty vay vốn có điểm số Z trên 2,99
là những khách hàng có hệ số an toàn cao, ít có khả năng vỡ nợ, thường được
NH ưu tiên cấp tín dụng.
Mô hình cấu trúc kỳ hạn RRTD
Đây là phương pháp dựa trên các yếu tố thị trường để đánh giá RRTD
và phân tích “mức thưởng chấp nhận rủi ro” (risk premiuns) gắn liền với mức
sinh lời của khoản nợ công ty hay khoản tín dụng ngân hàng đối với những
người vay có cùng mức độ rủi ro. Các tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm đã
xếp hạng các công ty phát hành trái phiếu thành 7 nhóm chính. Các nhóm
khác nhau phản ánh mức vượt trội của lãi suất trái phiếu thuộc nhóm đó so
với mức lãi suất trái phiếu kho bạc (trái phiếu không có rủi ro tín dụng).
Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng
Tiểu luận môn Quản Trị Rủi Ro TS:Mai Thu Hiền
Nhóm 10 Lớp Cao học TCNH 19A Page
17
Ngày nay, nhiều NH sử dụng hệ thống tính điểm tín dụng để đánh giá
Nhóm 10 Lớp Cao học TCNH 19A Page
18
(v) Các điều kiện: Cán bộ tín dụng phải biết được xu hướng hiện hành về
công việc kinh doanh và ngành nghề của người vay, cũng như khi điều kiện
kinh tế thay đổi sẽ có ảnh hưởng như thế nào đến khoản tín dụng.
(vi) Kiểm soát: Tập trung vào 2 vấn đề chính là: các thay đổi trong luật
pháp và quy chế có ảnh hưởng đến người vay? Người vay có đáp ứng được
các yêu cầu của ngân hàng và nhà quản trị về chất lượng tín dụng?
Thứ hai, Hợp đồng tín dụng có được ký kết đúng đắn và hợp lệ? Một
hợp đồng tín dụng hợp lệ phải bảo vệ được quyền lợi của NH bằng cách quy
định những điều khoản giới hạn hoạt động của người vay, nếu các hoạt động
này đe dọa khả năng thu hồi vốn vay của NH. Quá trình cưỡng chế thu hồi nợ
vay cũng phải được quy định cụ thể và rõ ràng trong hợp đồng tín dụng.
Thứ ba, Ngân hàng có thể đòi nợ thuận lợi bằng tài sản bảo đảm? Khi
nhận bảo đảm tín dụng, NH phải xác định rõ ràng và chính xác những tài sản
nào là đối tượng có thể gán nợ và có thể bán được, đồng thời phải chứng
minh được bằng văn bản cho các chủ nợ khác biết rằng mình là người hợp
pháp có quyền chiếm đoạt tài sản nếu như người vay không trả được nợ. Khi
nhận tài sản thế chấp NH sẽ có vị thế ưu tiên trong việc nhận gán nợ so với
các chủ nợ khác và ngày cả với chủ sở hữu.
Kiểm tra tín dụng
Các NH sử dụng rất nhiều quy trình khác nhau để kiểm tra tín dụng, tuy
nhiên, nguyên lý chung đang được áp dụng bao gồm:
- Tiến hành kiểm tra định kỳ tất cả các loại tín dụng;
- Xây dựng chương trình, kế hoạch nội dung quá trình kiểm tra một cách
thận trọng và chi tiết, bảo đảm rằng các khía cạnh quan trọng nhất của mỗi
khoản tín dụng đều phải được kiểm tra;
- Kiểm tra thường xuyên các khoản tín dụng lớn vì nếu xảy ra rủi ro với
các khoản vay này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến điều kiện tài chính của NH;
khách hàng còn nghĩa vụ tài chính nào chưa thực hiện;
- NH cũng cần đánh giá chất lượng, năng lực và sự nhất quán trong quản
trị, đồng thời trực tiếp tiến hành khảo sát các hoạt động và các tài sản của
doanh nghiệp;
- Chuyên gia NH phải cân nhắc mọi phương án có thể để hoàn thành
việc thu hồi nợ có vấn đề, bao gồm cả việc thỏa thuận gia hạn nợ tạm thời
nếu khách hàng chỉ gặp khó khăn trước mắt, hoặc tìm kiếm giải pháp nhằm
Tiểu luận môn Quản Trị Rủi Ro TS:Mai Thu Hiền
Nhóm 10 Lớp Cao học TCNH 19A Page
20
tăng cường lưu chuyển tiền tệ cho khách hàng. Các khả năng khác có thể là
bổ sung tài sản đảm bảo tín dụng, yêu cầu có bảo lãnh của người thứ ba, cơ
cấu lại doanh nghiệp, sát nhập, hay thanh lý công ty,…
Trong thực tế, một hợp đồng tín dụng được ký kết một cách đúng đắn,
tuân thủ mọi điều kiện đặt ra trong chính sách tín dụng của NH, thì ít khi trở
thành khoản tín dụng có vấn đề. Mặt khác, một hợp đồng tín dụng không
đúng đắn, có sai sót có thể góp phần làm cho khách hàng gặp phải các vấn đề
về tài chính và trở nên vỡ nợ.
Hệ thống chỉ tiêu tài chính đánh giá khách hàng
Hệ thống chỉ tiêu tài chính dùng để phân tích đánh giá tín dụng doanh
nghiệp được chia thành bốn nhóm như sau:
- Nhóm chỉ tiêu hoạt động (Activity ratios)
Nhóm chỉ tiêu hoạt động đo lường mức độ hiệu quả trong việc sử dụng
tài sản của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu chính là:
Vòngquayhàngtồnkho =
Doanhthuhàngnăm
Hàngtồnkhobìnhquân
Nhóm chỉ tiêu này nhằm đánh giá tính hiệu quả trong việc sử dụng các
nguồn lực của doanh nghiệp.
Tỷlệ sinh lờitrênvốnchủsởhữu
(
ROE
)
=
Lợinhuậnsauthuế
Vốnchủsởhữubìnhquân
Chỉ tiêu này phản ánh tính hiệu quả trong việc sử dụng vốn chủ sở hữu
của doanh nghiệp.
Tỷlệ sinh lờitrêntổngtàisản
(
ROA
)
=
Lợinhuậnsauthuế
Tổngtàisảnbìnhquân
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả trong việc sử dụng tài sản của doanh
nghiệp.
1.2.2.3. Đo lường rủi ro tín dụng
Đo lường RRTD là việc đề ra và xem xét lại hạn mức rủi ro, giúp nhà
điều hành xác định được rủi ro cần được ưu tiên theo dõi và kiểm soát. Có
nhiều phương pháp đo lường RRTD:
- Phương pháp RAROC (Risk Adiusted Return on Capital)
- Phương pháp sử dụng hệ thống cơ sở dữ liệu nội bộ
1.2.2.4. Kiểm soát rủi ro tín dụng
- Thực hiện tốt quy trình giám sát tín dụng
A: Giá trị của khoản nợ
C: Giá trị tài sản đảm bảo
r: Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể
Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể với các nhóm: Nhóm 1: 0%;
Nhóm 2: 5%; Nhóm 3:
20%; Nhóm 4: 50%; Nhóm 5: 100%
- Dự phòng chung: là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những
tổn thất chưa xác định được trong quá trình phân loại nợ và trích lập dự
Tiểu luận môn Quản Trị Rủi Ro TS:Mai Thu Hiền
Nhóm 10 Lớp Cao học TCNH 19A Page
23
phòng cụ thể và trong các trường hợp khó khăn về tài chính của các TCTD
khi chất lượng các khoản nợ suy giảm. Theo quy định, TCTD thực hiện trích
lập và duy trì dự phòng chung bằng 0,75% tổng giá trị các khoản nợ từ nhóm
1 đến nhóm 4.
1.2.2.6. Sử dụng các nghiệp vụ phái sinh tín dụng để phòng ngừa rủi ro.
Phái sinh tín dụng cho phép các NH và TCTD chuyển RRTD sang
những tổ chức sẵn sàng chấp nhận rủi ro khác. Phái sinh tín dụng phổ biến
nhất là swap tín dụng. Hiện nay, các nỗ lực của các nhà quản trị rủi ro đang
được tập trung vào hai lĩnh lực. Thứ nhất, phát triển các mô hình để đo lường
RRTD. Thứ hai, đưa ra các hợp đồng phái sinh để có thể chuyển giao RRTD.
Các nhà giao dịch công cụ phái sinh đã cố gắng lượng hóa và sau đó tạo
ra những cơ cấu để quản trị RRTD. Sự chú ý đã tập trung vào việc chuyển
giao RRTD từ một NH sang một đối tác khác bằng cách sử dụng các hợp
đồng phái sinh tín dụng. Đặc điểm chung của những công cụ quản trị rủi ro
này là chúng giữ nguyên các tài sản có trên sổ sách kế toán của các tổ chức
khởi tạo ra những tài sản đó, đồng thời chuyển giao một phần RRTD có sẵn
trong những tài sản này sang các đối tác khác, thông qua đó sẽ đạt được một
- Tuân thủ nghiêm ngặt các vấn đề có tính nguyên tắc trong tín dụng.
Rất nhiều ngân hàng của Thái Lan trước đây chỉ quan tâm đến tài sản thế
chấp mà không quan tâm đến dòng tiền của khách hàng, vì thế hậu quả là nợ
xấu tăng cao. Hiện nay, các NH đã quan tâm và thực hiện triệt để các nguyên
tắc tín dụng. Đặc biệt là xác minh thông tin về khách hàng về các vấn đề như
tư cách khách hàng, mục đích sử dụng vốn vay, hiệu quả kinh doanh, nguồn
trả nợ, năng lực quản trị điều hành của khách hàng, thực trạng tài chính của
khách hàng,…
1.3.2. Kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng Mỹ
- Các đơn vị cho vay hiệu quả thường nuôi dưỡng mối quan hệ lâu dài
và tổng hợp với bên đi vay. Đa số những đơn vị cho vay đề cố gắng để thiết
lập một mối quan hệ lâu dài với khách hàng của họ và phục vụ mọi nhu cầu
về tài chính của họ. Kết quả là những người cho vay sẽ hiểu rõ tình hình tài
chính của khách hàng và có được lợi nhuận khi bán các sản phẩm tài chính
đa dạng, trong khi đó bên đi vay có được nguồn hỗ trợ lâu dài cùng với dịch
vụ tín dụng.
- Các NH cho vay hiệu quả thường căn cứ nhiều hơn vào việc đánh giá
tình trạng của từng bên vay hơn là vào các phương pháp và công thức tự
Tiểu luận môn Quản Trị Rủi Ro TS:Mai Thu Hiền
Nhóm 10 Lớp Cao học TCNH 19A Page
25
động như chấm điểm tín dụng. Nhiều NHTM không sử dụng chấm điểm tín
dụng cho khách hàng nhỏ, vì họ cho rằng không có nhiều tương quan giữa
quá khứ tín dụng của bên vay cũng như được đo lường trong hệ số tín nhiệm,
với hoạt động của khách hàng này trong tương lai. Hơn thế nữa, các đơn vị
vay cho thấy rằng chấn điểm tín dụng có thể loại trừ mất các khách hàng tiềm
năng tốt, những khách hàng không có đủ số lượng năm có lãi, số năm có lãi
tối thiểu lại là một tiêu chí để xác định dự án khả thi trong tương lai.