BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
o0o TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI:
Chính sách quản lý ngoại hối của NHNN trong thời kỳ
hội nhập kinh tế quốc tế
NHÓM
DỤNG TẠI VIỆT NAM 16
3.1. Kinh nghiệm quản lý ngoại hối của một số nước trên thế giới 16
3.1.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc: 16
3.1.2. Kinh nghiệm của Hàn Quốc: 16
3.1.3. Kinh nghiệm của Chi lê và các nước tiên tiến khác: 18
3.2. Các kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách ngoại hối ở Việt Nam 19
3.2.1. Nguyên tắc quản lý chính sách ngoại hối 19
3.3. Các kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngoại hối của Việt Nam 20
3.3.1. Kiến nghị trong việc dự trữ ngoại hối: 20
3.3.2. Kiểm soát các giao dịch vốn quốc tế: 20
3.3.3 Quản lý tỷ giá và thị trường tiền tệ: 21
KẾT LUẬN 22
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
3
LỜI MỞ ĐẦU
Chính sách quản lý ngoại hối là một bộ phận hợp thành của chính sách tiền tệ quốc gia, là công cụ
quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế, đặc biệt là hoạt động kinh tế đối ngoại. Để tạo điều
kiện phát triển hài hòa giữa kinh tế đối nội và kinh tế đối ngoại, hội nhập và phát triển bền vững, các
quốc gia đều phải có chính sách tiền tệ nói chung và chính sách quản lý ngoại hối nói riêng phù hợp với
thực tiễn mỗi nước.
Quản lý ngoại hối là một trong những nội dung cơ bản và quan trọng mà Ngân hàng nhà nước phải
quan tâm để đạt mục tiêu của chính sách tiền tệ là ổn định giá trị của đồng tiền, kiểm soát lạm phát, góp
phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, an ninh nhân dân và nâng cao
đời sống nhân dân. Đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường, quản lý ngoại hối là công cụ quản lý vĩ mô
quan trọng của Nhà nước đối với nền kinh tế.
Tuy nhiên, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng như yêu cầu đổi mới của nền kinh tế thị trường
đòi hỏi phải hoàn thiện cũng như nâng cao chất lượng ngoại hối để công tác quản lý ngoại hối tiếp tục
thể hiện được vai trò quan trọng của mình trong nền kinh tế thị trường.
Nhận thức tầm quan trọng của chính sách quản lý ngoại hối một cách có hệ thống, nhằm tìm hiểu
5 DANH MỤC MỘT SỐ TỪ NGỮ VIẾT TẮT
NHNN: Ngân hàng nhà nước
NHTW: Ngân hàng trung ương
phương tiện để mua, phương tiện thanh toán và hạch toán quốc tế, được các nước chấp nhận là đồng
tiền quốc tế, bao gồm ngoại tệ mạnh và kim loại quý, dự trữ tại quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), quyền rút
vốn đặc biệt, SDR và các tài sản có tính linh hoạt cao.
Nền kinh tế ngày càng phát triển, quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng thì không thể có một
quốc gia nào phát triển một cách đơn độc, khép kín, mà còn đòi hỏi phải mở rộng quan hệ kinh tế với
nước ngoài. Vì vậy dự trữ ngoại hối là một trong những mục tiêu kinh tế có ý nghĩa quan trọng, có dự
trữ ngoại hối cần thiết có nghĩa là Nhà nước đã nắm trong tay một công cụ quan trọng để phục vụ cho
việc quản lý mục tiêu kinh tế vĩ mô. Dự trữ ngoại hối để đảm bảo khả năng thanh toán quốc tế, thoả
mãn nhu cầu nhập khẩu phục vụ phát triển kinh tế và đời sống trong nước, mở rộng đầu tư, hợp tác
kinh tế nước ngoài phục vụ mục tiêu chính sách kinh tế mở. Nhà nước có thể chủ động sử dụng ngoại
hối như là một lực lượng để can thiệp, điều tiết thị trường tiền tệ theo những mục tiêu theo kế hoạch.
Quản lý ngoại hối là việc Nhà nước áp dụng các chính sách, biện pháp tác động vào quá trình
nhập, xuất ngoại hối (đặc biệt là ngoại tệ) và việc sử dụng ngoại hối theo những mục tiêu nhất định.
b. Khái niệm về hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là tiến trình mà chủ thể là các quốc gia, các doanh nghiệp tham gia vào
một môi trường kinh doanh mang tính chất toàn cầu, khu vực với các quy luật chung và có yếu tố cạnh
tranh.
Hội nhập kinh tế của các nền kinh tế chuyển đổi (trong đó có Việt Nam) là quá trình thực hiện
tự do hoá thương mại và thực hiện cải cách toàn diện theo hướng mở cửa thị trường. Từ đó đem lại
nhiều cơ hội kinh tế như hàng hoá xuất khẩu có thể tiếp cận thị trường tốt hơn, thu hút được nhiều vốn
đầu tư nước ngoài hơn và nhiều lợi ích gián tiếp khác đi liền với cạnh tranh quốc tế gay gắt và tăng dần
hiệu quả theo quy mô.
c. Khái quát khái niệm về quản lý ngoại hối trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế
Quản lý ngoại hối trong thời kỳ hội hập kinh tế quốc tế là việcNhà nước áp dụng các chính sách,
biện pháp tác động vào quá trình nhập, xuất ngoại hối (đặc biệt là ngoại tệ) và việc sử dụng ngoại hối
theo những mục tiêu nhất định.
Mục tiêu ở đây là tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, tiến trình mà chủ thể là các quốc gia, các
doanh nghiệp tham gia vào một môi trường kinh doanh mang tính chất toàn cầu, khu vực với các quy
luật chung và có yếu tố cạnh tranh. Là việc áp dụng các chính sách vào việc nhập xuất ngoại hối trong
quá trình thực hiện tự do hoá thương mại và thực hiện cải cách toàn diện theo hướng mở cửa thị trường.
cơ chế Nhà nước thực hiện quản lý hoàn toàn và cơ chế quản lý có điều tiết.
Với cơ chế Nhà nước thực hiện quản lý hoàn toàn: Nhà nước thực hiện độc quyền ngoại thương
và độc quyền ngoại hối. Nhà nước áp dụng các biện pháp hành chính áp đặt nhằm tập trung tất cả các
hoạt động ngoại hối vào tay mình. Tỷ giá do Nhà nước qui định bắt buộc các tổ chức phải chấp hành.
Cơ chế này thích hợp với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Trong cơ chế quản lý hoàn toàn, Nhà
nước có thể áp đặt khống chế được thị trường, ngăn chặn ảnh hưởng từ bên ngoài, chủ động khai thác
được nguồn vốn bên trong, nhưng trong nền kinh tế thị trường cách quản lý này sẽ không phù hợp, cản
trở và gây khó khăn cho nền kinh tế.
8
Với cơ chế quản lý có điều tiết: Nhà nước tiến hành kiểm soát ở mức độ nhất định để nhằm phát
huy tính tích cực của thị trường, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định. Nhà nước sử dụng
những công cụ như: Tỷ giá, dự trữ ngoại hối thông qua các hoạt động mua bán ngoại tệ và các hoạt
động nghiệp vụ khác như sử dụng các chính sách chiết khấu, nâng giá tiền tệ, phá giá tiền tệ, sử dụng
công cụ lãi suất hoặc hàng rào ngoại thương…
CHƯƠNG II: CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ NGOẠI HỐI CỦA NHNN VIỆT NAM
NHNN Việt Nam quản lý ngoại hối thông qua việc thực hiện 3 chính sách, đó là: quản lý
giao dịch vãng lai, quản lý giao dịch vốn, và quản lý chính sách tỷ giá và thị trường
ngoại tệ.
2.1. Chính sách quản lý giao dịch vãng lai.
Các khoản giao dịch vãng lai bao gồm: các khoản thanh toán và chuyển tiền liên quan đến xuất
khẩu, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ; các khoản vay tín dụng thương mại và ngân hàng ngắn hạn; các
khoản chuyển tiền một chiều cho mục đích tiêu dùng.
Theo thông cáo báo chí được phát đi từ trụ sở Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) tại Mỹ ngày 5.1.2006,
Việt Nam đã chính thứcđược công nhận là đã hoàn toàn chấp nhận các quy định tại điểm 2, 3 và 4 tại
điều VIII của điều lệ IMF. Việc chấp thuận các quy định trên có nghĩa rằng, Việt Nam đã thực hiện
tháo bỏ những hạn chế đối với việc thực hiện các thanh toán và chuyển tiền trong các giao dịch vãng lai
quốc tế. Có được sự công nhận trên là do trong những năm trước đó Việt Nam đã cố gắng hoàn thiện và
xây dựng thành công Pháp lệnh ngoại hối. Pháp lệnh ngoại hối được đánh giá là một bước tiến mới
nước ngoài của quốc gia” đã được ban hành. Theo quy định của quy chế này, hàng năm Bộ tài
chính chủ trì, phối hợp với Bộ kế hoạch và đầu tư và Ngân hàng nhà nước tổng hợp và xây dựng
trình thủ tướng chính phủ thông qua Tổng hạn mức vay thương mại nước ngoài của quốc gia
như một bộ phận kế hoạch hàng năm để vay và trả nợ nước ngoài.
Cơ chế quản lý vay trả nợ nước ngoài được chuyển hướng từ quản lý trực tiếp sang gián tiếp,
tạo cơ sở từng bước cho việc tự do hóa giao dịch vốn. Cụ thể, Theo thông tư số 03/2012/TT-
NHNN, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép hoạt động ngoại hối xem
xét quyết định cho khách hàng là người cư trú vay vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn bằng
ngoại tệ để thanh toán ra nước ngoài tiền nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ khi khách hàng vay có đủ
ngoại tệ từ nguồn thu sản xuất - kinh doanh để trả nợ vay. Tuy nhiên, cũng theo quy định này,
khách hàng chỉ được vay vốn ngoại tệ nếu có đủ nguồn thu ngoại tệ từ hoạt động sản xuất, kinh
doanh để trả nợ vay. Cho nên từ khi Thông tư trên được ban hành thì dư nợ cho vay bằng ngoại
tệ của ngân hàng đã giảm rất mạnh. Theo thống kê của NHNN tính đến ngày 31/5/2013, tín
dụng bằng VND tăng 5,48%, còn tín dụng bằng ngoại tệ giảm 8,41% so với thời điểm trước khi
thông tư được ban hành.
Quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Quan điểm chủ đạo trong quản lý ngoại hối đối với giao dịch vốn là: Ban hành các cơ chế,
chính sách với mục đích tạo thuận lợi cho hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài, thu hút vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài để phục vụ phát triển kinh tế.
Năm 2005, với sự thống nhất và ban hành luật đầu tư đã đánh dấu một nỗ lực đáng kể của Việt
Nam trong thu hút đầu tư nước ngoài. Mọi vấn đề liên quan đến đầu tư được nhà nước về điều
kiện, những chế độ ưu đãi nhà đầu tư được hưởng khi đầu tư vào những lĩnh vực khuyến khích
đầu tư, cũng như thủ tục và trình tự cấp phép đầu tư cũng được quy định rõ ràng trong luật đầu
tư nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho nhà đầu tư có thể tiến hành đầu tư vào Việt Nam một
cách nhanh chóng và bớt những thủ tục phiền hà và sự chờ đợi cấp giấy phép đầu tư như trước
đây.
Ngoài ra, với những nới lỏng trong chính sách kiều hối như người gửi tiền về nước không bị
hạn chế về mặt số lượng, người nhận không phải đóng thuế, phí gửi tiền thấp, hệ thống chuyển
10
tư ra nước ngoài. Việc ra đời quyết định trên là nhằm mở rộng khả năng tiếp cận các nguồn vốn
ngoại tệ của các DN Việt Nam được phép đầu tư ra nước ngoài thay vì chỉ có một nguồn ngoại
tệ trên tài khoản tiền gửi ngoại tệ của mình tại Ngân hàng như trước đây.
2.3. Chính sách tỷ giá và quản lý thị trường ngoại tệ
Thời gian gần đây, tiền gửi ngoại tệ của người cư trú tại hệ thống ngân hàng giảm đáng kể do
việc điều hành nhịp nhàng hơn giữa chính sách lãi suất và tỉ giá tạo điều kiện thực hiện nguyên tắc cân
bằng lợi tức tiền gửi VND và ngoại tệ, hạn chế nguồn vốn chuyển từ VND sang ngoại tệ như giai đoạn
cuối những năm 90. Cụ thể, lãi suất giữa VND luôn cao hơn lãi suất ngoại tệ và tỷ giá giữa VND và
11
ngoại tệ được duy trì khá ổn định nên các doanh nghiệp có xu hướng chuyển đổi từ ngoại tệ sang VND,
góp phần giảm tình trạng đôla hóa
Trong năm 2005 NHNN đã thực hiện điều hành tỷ giá (USD/VND) ổn định tương phù hợp với
diễn biến kinh tế tiền tệ, không tạo nên những bất lợi cho nền kinh tế, đáp ứng yêu cầu khuyến khích
xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu. Trên thực tế, việc điều hành tỷ giá gắn với quan hệ cung – cầu (do
cung ngoại tệ lớn hơn cầu về ngoại tệ); tỷ giá trên thị trường tự do và trên thị trường liên ngân hàng
không có sự chênh lệch đáng kể, vị thế đối ngoại của đồng Việt Nam tiếp tục được duy trì khi đặt tương
quan trong mối quan hệ với các đồng tiền chủ chốt trên thế giới như đồng Euro, Yên Nhật, bảng Anh…
Việc ổn định tỷ giá đã góp phần ổn định thị trường tiền tệ, tạo lòng tin của người dân với VND, tránh
được sự dịch chuyển từ VND sang gửi ngoại tệ trong bối cảnh lạm phát cao. Đồng thời, tạo tâm lý
thuận lợi, hướng nhìn nhận tốt về môi trường đầu tư ở Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước đã kết hợp chặt chẽ việc điều hành chính sách quản lý tỷ giá và
thị trường ngoại tệ, với các công cụ chính sách tiền tệ để điều hòa lượng tiền VND cung ứng khi mua
ngoại tệ, tăng dự trữ ngoại hối nhà nước nhằm không gây áp lực lên lạm phát và không ảnh hưởng đến
điều hành tỷ giá.
Với vai trò can thiệp cuối cùng để ổn định thị trường ngoại tệ, NHNN đã thực hiện mua, bán
ngoại tệ với các NHTM để hỗ trợ nhu cầu về VND cũng như nhu cầu về ngoại tệ một cách kịp thời để
nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu và nhu cầu chuyển đổi ngoại tệ của các nhà đầu tư nước ngoài. Khi
cung cầu trên thị trường biến động ảnh hường đến trạng thái ngoại tệ của các NHTM, NHNN can thiệp
bán ngoại tệ để cân bằng trạng thái, hạn chế rủi ro hoạt động kinh doanh của các NHTM. Nhờ nguồn
500 triệu đồng.
2.4. Đánh giá công tác Quản lý Ngoại hối năm 2012 và định hướng chính sách năm 2013
2.4.1. Đánh giá công tác điều hành thị trường ngoại tệ và tỷ giá năm 2012 và định hướng điều
hành tỷ giá năm 2013
Trong năm 2012, thị trường tài chính quốc tế tiếp tục có những diễn biến phức tạp và chứa
đựng nhiều rủi ro đặc biệt là cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu, tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu
thấp hơn dự báo, chính sách tiền tệ nới lỏng của NHTW các nước. Tuy vậy, tình hình kinh tế - xã hội
trong nước vẫn có những chuyển biến khá tích cực, lạm phát được kiềm chế, nền kinh tế chuyển sang
xuất siêu sau nhiều năm trong tình trạng nhập siêu, cán cân thanh toán thặng dư lớn và dự trữ ngoại hối
tăng hơn gấp đôi so với cuối năm 2011.
Trong cả năm 2012, công tác điều hành tỷ giá và thị trường ngoại tệ cũng đã đạt được những kết
quả khả quan. Tỷ giá giao dịch của các ngân hàng thương mại không còn biểu hiện căng thẳng mà diễn
biến linh hoạt theo cung cầu ngoại tệ và ở mức hợp lý hỗ trợ xuất khẩu. Doanh số giao dịch trên thị
trường ngoại tệ tăng mạnh, thanh khoản ngoại tệ trên thị trường cải thiện rõ rệt so với những năm
trước.Nhu cầu mua, bán ngoại tệ hợp lý và hợp pháp của các doanh nghiệp cũng như người dân được
hệ thống TCTD đáp ứng đầy đủ, kịp thời.Thị trường ngoại hối và tỷ giá ổn định đã tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh. Tâm lý găm giữ ngoại tệ của người
dân đã giảm đáng kể. Xu hướng dịch chuyển tiền gửi ngoại tệ sang tiền gửi tiền đồng liên tục được duy
trì trong cả năm. Đến cuối năm 2012, tiền gửi ngoại tệ của dân cư giảm hơn 13% so với cuối năm 2011
trong khi tiền gửi bằng tiền đồng của dân cư tăng 36%.Tình trạng đô la hóa được đẩy lùi một bước, tỷ
lệ tiền gửi bằng ngoại tệ/M2 giảm còn dưới 13%. Thị trường ngoại tệ tự do gần như không còn hoạt
động công khai.
Thành công trong công tác điều hành tỷ giá và thị trường ngoại tệ xuất phát từ những nhân tố
chủ chủ yếu sau:
Đầu tiên, phải kể đến cam kết mạnh mẽ về ổn định tỷ giá của Thống đốc NHNN.Cam kết này
rất quan trọng vì nó thể hiện quyết tâm của cơ quan điều hành, ổn định tâm lý thị trường và định hình
kỳ vọng về tỷ giá của công chúng.Cam kết này được củng cố thêm bởi sự thành công của cam kết trước
13
đó trong năm 2011.Như vậy, trong cả hai lần, cam kết về ổn định tỷ giá đều đã được thực hiện, góp
đã ở mức cao và dựa trên những dự báo cán cân thanh toán của Việt Nam sẽ tiếp tục thặng dư, dù ở
mức thấp hơn so với năm 2012 (khoảng 3 tỷ USD), NHNN sẽ điều hành tỷ giá, thị trường ngoại hối
linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường và tình hình cung cầu ngoại tệ, góp phần nâng cao tính cạnh
tranh của hàng hóa trong nước, khuyến khích xuất khẩu, giảm nhập siêu, tiếp tục cải thiện cán cân
thanh toán quốc tế và tăng dự trữ ngoại hối nhà nước, giữ ổn định giá trị đồng Việt Nam, hỗ trợ phát
triển bền vững và chống đô la hóa nền kinh tế.
14 2.4.2. Đánh giá công tác quản lý thị trường vàng năm 2012 và định hướng chính sách quản lý thị
trường vàng năm 2013
Năm 2012 được đánh giá là năm ghi nhận sự thành công bước đầu trong công tác quản lý hoạt
động kinh doanh vàng thông qua việc tổ chức, sắp xếp lại một cách căn bản thị trường vàng theo chủ
trương, định hướng của Chính phủ.
Trước bối cảnh giá vàng thế giới tăng trong những năm gần đây cùng với những bất ổn kinh tế
vĩ mô trong nước đã làm bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập của chính sách cho phép TCTD được huy động
và cho vay vốn bằng vàng và Nghị định 174/1999/NĐ-CP ngày 09/12/1999. Để hoàn thiện khuôn khổ
pháp lý về quản lý thị trường vàng, từ cuối năm 2011 NHNN đã khẩn trương xây dựng và tham mưu,
trình Chính phủ ban hành hai Nghị định như sau:
Một là, Nghị định 95/2011/NĐ-CP (Nghị định 95) ngày 20/10/2011 về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng, theo đó các hoạt động kinh doanh vàng trái phép
sẽ bị cơ quan chức năng xử lý nghiêm khắc, đặc biệt là áp dụng hình thức xử p hạt bổ sung đối với hoạt
động nhập lậu vàng qua biên giới như tịch thu tang vật.
Hai là, Nghị định 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 để thay thế Nghị định 174 về quản lý thị
trường vàng. Nghị định 24 được ban hành với hai mục tiêu chính: Thứ nhất là tổ chức, sắp xếp lại một
cách căn bản thị trường vàng miếng, ngăn chặn ảnh hưởng của biến động giá vàng đến tỷ giá, lạm phát
và ổn định kinh tế vĩ mô. Thứ hai là nâng cao vai trò quản lý thị trường vàng của Nhà nước, ngăn chặn,
đẩy lùi tình trạng vàng hóa trong nền kinh tế; có giải pháp hợp lý để huy động nguồn lực vàng trong
dân phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, Nghị định 24 cũng công nhận quyền sở hữu
vàng hợp pháp của người dân, doanh nghiệp; quyền mua bán vàng miếng tại các TCTD, doanh nghiệp
Như vậy, sau khi chấm dứt hoạt động huy động và cho vay vốn bằng vàng, thị trường vàng sẽ
không còn hoạt động huy động vàng để cho vay vàng đầu tư hoặc chuyển đổi vàng huy động thành tiền,
không được vay vốn mua vàng, chỉ còn quan hệ mua, bán vàng theo đúng chủ trương của Nhà nước về
việc chống ”vàng hóa” trong nền kinh tế, từ đó giảm nhu cầu cất trữ vàng và giảm tâm lý nắm giữ vàng
trong dân, góp phần tăng nguồn cung vàng trên thị trường. Đồng thời, các TCTD mở rộng dịch vụ giữ
hộ vàng có thu phí để đảm bảo an toàn tài sản bằng vàng của người dân.
Để đảm bảo các quyền hợp pháp của người dân đối với vàng miếng như mua bán, nắm giữ,
được bảo đảm an toàn thông qua dịch vụ giữ hộ của các TCTD và việc mua, bán vàng miếng được diễn
ra trên thị trường có tổ chức, NHNN đang tổ chức lại mạng lưới mua, bán vàng miếng, trong những
ngày tới NHNN dự kiến sẽ cấp phép cho 14 doanh nghiệp và 17 TCTD đáp ứng đủ các điều kiện, hồ
sơ, thủ tục quy định tại Nghị định 24 và Thông tư 16. Như vậy, dự kiến sẽ có trên 2.000 điểm giao dịch
mua, bán vàng miếng ở tất cả 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. NHNN sẽ công bố công khai
danh sách tên, địa điểm, địa chỉ giao dịch của các TCTD, doanh nghiệp được phép kinh doanh mua,
bán vàng miếng trên trang thông tin điện tử của NHNN. Theo quy định tại Thông tư 16, từ ngày
10/1/2013, các doanh nghiệp, TCTD không có Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng do NHNN
cấp sẽkhông được phép thực hiện kinh doanh mua, bán vàng miếng.
Đồng thời, để kiểm soát rủi ro biến động giá vàng trong hoạt động kinh doanh mua, bán vàng
miếng đối với các TCTD, NHNN sẽ ban hành văn bản yêu cầu các TCTD đáp ứng đủ điều kiện kinh
doanh mua bán vàng miếng phải tuân thủ trạng thái vàng.
Trong năm 2013, NHNN sẽ tiếp tục triển khai chủ trương, định hướng của Chính phủ về lộ trình
xóa bỏ tình trạng ”vàng hóa” nền kinh tế và quản lý chặt chẽ thị trường vàng, không cho phép liên
thông giữa giá vàng trong nước với giá vàng thế giới để tránh tình trạng đầu cơ, làm giá.NHNN sẽ tiếp
tục áp dụng các biện pháp đồng bộ cần thiết để triển khai Nghị định 24, giám sát chặt chẽ quá trình tất
toán số dư huy động và cho vay vốn bằng vàng của các TCTD. Đồng thời, NHNN sẽ áp dụng các biện
pháp cần thiết nhằm đẩy nhanh tiến độ gia công vàng miếng SJC từ vàng miếng thương hiệu khác để hỗ
trợ cho các TCTD có nguồn vàng chi trả cho các khoản huy động, giữ hộ đến hạn.
16
Khi thị trường vàng miếng hoạt động tương đối ổn định, nhằm thực hiện giai đoạn cuối cùng về
xóa bỏ ”vàng hóa” nền kinh tế, Nhà nước huy động nguồn lực vàng trong nền kinh tế để phục vụ cho
quyết định này. NHTW Trung quốc quản lý dự trữ theo các tiêu chuẩn đầu tư và quản lý rủi ro theo mô
hình tính toán rủi ro theo ngày. Hiện nay, TQ cố gắng đào tạo đội ngũ quản lý dự trữ ngoại hối chuyên
nghiệp theo tiêu chuẩn quốc tế. Với các yêu cần an toàn, thanh khoản trong quản lý ngoại hối, dự trữ
được đầu tư vào các công cụ trái phiếu Chính phủ, tiền gửi các NH có tín nhiệm cao và một ít vào trái
phiếu công ty và theo đuổi các chiến lược đầu tư dài hạn chứ không theo đuổi việc đầu cơ ngắn hạn trên
thị trường ngoại hối.
3.1.2. Kinh nghiệm của Hàn Quốc:
17
Từ giữa những năm 90 đến nay, công tác quản lý dự trữ của Hàn Quốc có nhiều thay đổi. Việc
quản lý dự trữ ngoại hối chủ yếu dựa vào các tiêu chuẩn đầu tư để xây dựng các chiến lược đầu tư và
các mô hình quản lý rủi ro, triển khai áp dụng các mô hình kinh tế (sử dụng IT system) để tính mức
sinh lời theo giá thị trường và tiêu chuẩn hóa việc đánh giá thực hiện quản lý dự trữ ngoại hối.
Với mục tiêu thanh khoản, một phần dự trữ được đầu tư vào công cụ của thị trường tiền tệ bằng
đồng USD như tiền gửi, tín phiếu. Tuy nhiên, mức đầu tư ngắn hạn chỉ ở quy mô nhỏ, đủ để đáp ứng
nhu cầu để giảm chi phí cơ hội. Với mục tiêu sinh lời nhưng vẫn phải an toàn và thanh khoản, dự trữ
ngoại hối được đầu tư một cách đa dạng theo các đồng tiền mạnh như USD, EUR, JPY, GBP … và các
công cụ có lãi suất cố định như trái phiếu Chính phủ, trái phiếu quốc gia, trái phiếu công ty do các tổ
chức tài chính phát hành, trái phiếu công ty do người nước ngoài quản lý. Và một phần dự trữ ngoại hối
được giao cho các nhà quản lý nước ngoài đầu tư là loại hình đầu tư gián tiếp vào các tài sản có mức
sinh lời cao và đi kèm có mức rủi ro cao đồng thời thông qua chiến lược này đào tạo cán bộ về kỹ năng
đầu tư và tham gia các chương trình đào tạo nước ngoài.
Về tiêu chuẩn đối tác đầu tư, thì Hàn quốc chỉ đầu tư vào các đối tác có xếp hạng tín nhiệm từ
AA trở lên. Về việc xác định cơ cầu đồng tiền trong dự trữ, cần xem xét các yếu tố như: cơ cấu đồng
tiền của nợ nước ngoài, cơ cấu đồng tiền trong thanh toán cán cân vãng lai, cơ cấu của các thị trường
trái phiếu toàn cầu chủ chốt. Cơ cấu đồng tiền này chỉ xem xét để thay đổi hàng năm và không thường
xuyên thay đổi và việc thay đổi cơ cấu đồng tiền chỉ diễn ra dần dần. Việc quản lý dự trữ còn được thực
hiện dựa vào việc phân bổ theo đối tác như Chính phủ, tổ chức tài chính và phân bổ dự trữ dựa vào
đường thu nhập và mục tiêu kỳ hạn.
Tại Hàn Quốc, các nhà quản lý dự trữ ngoại hối trực tiếp có thể được phép đầu tư trên nguyên
trúc (tiền điện tử), biến động thị trường lớn hay khủng hoảng tài chính xảy ra để có những quyết định
kịp chiến lược trong công tác quản lý dự trữ ngoại hối và chính sách tiền tệ.
3.1.3. Kinh nghiệm của Chi lê và các nước tiên tiến khác:
Từ năm 2000 đến nay, NHTW Chilê đã thực hiện hiệu quả chính sách lạm phát mục tiêu hoàn
chỉnh với mục tiêu là lạm phát danh nghĩa (hay chỉ số CPI) hàng năm là 3% (với biên độ +/-1%). Để
đạt được mucj tiêu đó, Nhà nước Chi lê đã tiến hành việc không thực hiện việc kiểm soát các hoạt
động liên quan đến giao dịch tài chính quốc tế. Về nguyên tắc, mọi giao dịch chu chuyển vốn vào và ra
khỏi đất nước đều được tự do hóa. Tỷ giá hối đoái cũng được thả nổi. Đồng tiền bản tệ là đồng tiền tự
do chuyển đổi. Cụ thể:
Trong việc thi hành chế độ tỷ giá thả nổi, NHTW Chilê vẫn có quyền can thiệp trong trường hợp đặc
biệt. Chế độ tỷ giá linh hoạt cho phép NHTW Chilê có được sự độc lập hoàn toàn trong hoạch định
chính sách tiền tệ giúp neo kỳ vọng lạm phát; có hiệu quả hơn trong việc đối phó hiệu ứng chu kỳ;
Trong việc quản lý dự trữ ngoại hối của NHTW Chilê được thực hiện theo những nguyên tắc:
- Cơ cấu đồng tiền trong dự trữ ngoại hối căn cứ vào: (i) việc giảm thiểu ảnh hưởng đến giá trị bảng
cân đối tài sản của NHTW định giá bằng đồng tiền nội địa; (ii) yêu cầu ngoại tệ có tính thanh khoản
cao. Sử dụng cả hai nguyên tắc trên, NHTW đã xây dựng cơ cấu đồng tiền trong dự trữ ngoại hối như
sau: USD – 60% (+/- 5%); Euro – 40% (+/- 5%). Trên thực tế, NHTW Chilê đã duy trì cơ cấu đồng tiền
trong dự trữ ngoại hối không thay đổi trong giai đoạn 1999 – 2006.
- Dựa trên phương pháp Chi phí – Lợi ích để đánh giá mức độ dự trữ ngoại hối phù hợp, có tính đến
các đặc điểm riêng của Chilê. Phương pháp này dựa vào hai chỉ số: (i) chi phí biên: là chênh lệch giữa
thu nhập kỳ vọng với chi phí tài trợ, ví dụ mức chênh lệch lãi suất trong nước của Chilê; (ii) lợi ích
biên: tính bằng hiệu ứng ước lượng của một thay đổi dự trữ với xác suất xẩy ra và chi phí mất đi do 1
cuộc khủng hoảng tài chính.
Trong khi chi phí biên có thể xác định tương đối đơn giản thì lợi ích biên được xác định bằng một
mô hình phân tích phức tạp.Cuối năm 2003 kết quả của phép phân tích này dẫn đến NHTW Chilê bắt
đầu một chương trình giảm mức dự trữ ngoại hối (ngược lại với xu thế ở các nước đang phát triển là
tìm cách tăng dự trữ ngoại hối của NHTW).
- NHTW Chilê không có trách nhiệm giải trình trước Tổng thống, Quốc hội, Chính phủ khi dự trữ
ngoại hối thay đổi do tỷ giá thay đổi. Do thực hiện chính sách tỷ giá thả nổi (NHTW chỉ điều tiết trong
trường hợp đặc biệt như sau vụ khủng bố 11/9/2002) dẫn đến đồng pêsô biến động mạnh, bảng cân đối
do hoá các giao dịch tài chính quốc tế mà quan trọng nhất là giao dịch vốn là một vấn đề quan trọng
nhưng rất phức tạp. Tuy vậy, để thực hiện việc tự do hoá các giao dịch tài chính quốc tế, cần xem xét,
cân nhắc một số nguyên tắc sau:
- Tự do hoá FDI là bước khởi đầu của tự do hoá giao dịch vốn: Mặc dầu FDI đôi khi làm nảy sinh
một số quan ngại về quyền sở hữu và sự kiểm soát của nước ngoài nhưng nó mang lại những lợi ích
đáng kể, trong đó có việc chuyển giao công nghệ và tập quán kinh doanh hiệu quả hơn. Nguồn vốn FDI
ít bị tác động khi có những biến động về tài chính dẫn đến việc ồ ạt chuyển vốn ra nước ngoài hơn là
nguồn vốn vay ngân hàng. Nếu có việc chuyển vốn ra nước ngoài thì bản thân nó không gây ra những
vấn đề khủng hoảng tài chính nghiêm trọng như đầu tư tài chính hoặc vay nợ. Bởi vậy, việc tự do hoá
FDI là một bộ phận trong chương trình tự do hoá hoạt động giao dịch vốn có thể được thực hiện đầu
tiên;
- Lành mạnh hoá hệ thống tài chính - ngân hàng trước khi tự do hoá các giao dịch quốc tế: Sẽ là một
sai lầm nếu như tiến hành tự do hoá các giao dịch tài chính quốc tế khi một bộ phận quan trọng của hệ
thống tài chính - ngân hàng mất khả năng thanh toán hoặc có thể bị đẩy vào tình cảnh mất khả năng
thanh toán nếu Chính phủ tiến hành tự do hoá hoạt động tài chính. Do vậy, trước khi thực hiện tự do
hoá các giao dịch tài chính quốc tế, đặc biệt là tự do hoá các giao dịch vốn, thì phải đóng cửa các định
chế tài chính yếu kém, đồng thời phải tiến hành việc củng cố và làm lành mạnh các định chế tài chính
còn lại.
20
- Tự do hoá các giao dịch vốn phải gắn liền với việc tăng cường kỷ luật tài chính: Vì hệ thống Ngân
hàng có vai trò trung tâm trong các vấn đề về tài chính của các nước có thị trường mới nổi. Sự bảo lãnh
ngầm của Chính phủ khuyến khích nguồn vốn từ nước ngoài vào không bền vững và quá lớn so với sức
hấp thụ của nền kinh tế. Thực tế cho thấy một khối lượng vốn lớn từ bên ngoài đã chảy vào các nước có
sự bảo lãnh ngầm của Chính phủ. Hệ thống kế toán, kiểm toán và tính minh bạch yếu kém ở các nước
này đã làm suy yếu kỷ luật thị trường. Hơn nữa, khả năng thanh tra, phòng ngừa và quản lý yếu kém
đối với các định chế tài chính và thị trường đã nuôi dưỡng sự tham nhũng, tín dụng móc ngoặc và đầu
cơ. Đối với những nước mà ở đó những tệ nạn này ở mức nghiêm trọng thì cần phải tiến hành tự do hoá
các giao dịch vốn hết sức thận trọng và từng bước gắn với việc xoá bỏ các tệ nạn nói trên.
- Tạo lập hạ tầng cơ sở cho các thị trường trong nước trước khi tự do hoá các giao dịch tài chính
hành trong giai đoạn đầu của quá trình cải cách, dần dần đến những hạng mục sau, và cuối cùng là các
công cụ phái sinh.
Đối với luồng vốn FDI, chính phủ cần có sự kiểm soát tính khả thi và hiệu quả các dự án FDI
nhằm đảm bảo sự tương đồng giữa lượng vốn cam kết và lượng vốn thực hiện, cũng như giảm thiểu độ
trể của luồng vốn này. Do đó đòi hỏi các doanh nghiệp khi sử dụng nguồn vốn FDI cần phải sắp xếp lại
và đổi mới công nghệ nhằm tăng hiệu quả sử dụng vốn.
Đối với luồng vốn gián tiếp: không nên loại bỏ những hạn chế cần thiết về tỷ lệ sở hữu vốn của
bên đối tác nước ngoài, kèm theo những ràng buộc về hình thực đầu tư và nhân sự điều hành hoặc sử
dụng lao động để duy trì sự kiểm soát của nhà nước với thị trường tài chính.
Để quản lý các luồng vốn chu chuyển ra vào Việt Nam, Nhà nước cần xây dựng một cơ quan
chuyên trách để đảm bảo tính thống nhất trong việc quản lý vay và trả nợ nước ngoài. Đồng thời xây
dựng một hành lang qui phạm pháp luật để có những chế tài cụ thể đối với các hành vi vi phạm.
3.3.3 Quản lý tỷ giá và thị trường tiền tệ:
Quản lý thị trường tiền tệ:
Để củng cố lòng tin của người dân về VNĐ và ổn định sức mua của đồng tiền nội tệ, giảm thiểu tình
trạng đô la hóa nền kinh tế, NHNN có thể áp dụng giải pháp chấm dứt việc nhận tiền gửi tiết kiệm bằng
ngoại tệ song song với việc giải phóng lãi suất nội tệ và giải phóng tỷ giá, tạo điều kiện cho các chủ thể
nắm giữ ngoại tệ bán cho các NHTM. Tiến hành minh bạch hóa nguồn gốc ngoại tệ nắm giữ góp phần
chống tham nhũng và nâng cao hiệu quả quản lý công tác ngoại hối.
Quản lý tỷ giá hối đoái:
Nhà nước cần xây dựng hoàn thiện thị trường ngoại hối nhằm đạt được mục tiêu tỷ giá phản ánh
cung cầu ngoại tệ của toàn bộ thị trường. Biên độ tỷ giá tiến tới ngày càng nới lỏng và tiến tới xóa bỏ
trong dài hạn. NHNN cần nâng cao “tính thị trường” của tỷ giá trong khuôn khổ cơ chế thả nổi có điều
tiết. Mặt khác, chúng ta cũng cần nâng cao khả năng điều tiết của NHNN thông qua thị trường ngoại tệ
liên ngân hàng trên cơ sở tính toán tỷ giá mục tiêu của nền kinh tế bằng các mô hình định lượng hiện
đại.
Khuyến khích đa dạng hóa các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ như giao dịch kỳ hạn, giao dịch
hoán đổi, và giao dịch tương lai theo tiêu chuẩn quốc tế.
Các thủ tục hành chính, cấp phép, xin cho cần tiếp tục được xoá bỏ và thay thế bằng cơ chế tập
trung các hoạt động ngoại hối thông qua các TCTD, chế độ báo cáo, khai báo. Các chế tài, thiết chế xử
hội nhập vào nền kinh tế thế giới có một vai trò hết sức quan trọng. Quản lý ngoại hối là một trong
những công cụ quan trọng trong quản lý và điều tiết nền kinh tế thị trường, nhằm kiểm soát, giám sát, ,
hạn chế các rủi ro , biến động thị trường ngoại hối, các tác động cung cầu ngoại tệ, cán cân thương mại,
hỗ trợ thực thi chính sách tiền tệ, phát triển thị trường ngoại hối, các công cụ phòng ngừa rủi ro.
Tiểu luận: “Chính sách quản lý ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
Kinh tế Quốc tế” đã đi sâu vào nghiên cứu kinh nghiệm quản lý ngoại hối của các nước trên thế giới và
các chính sách Quản lý ngoại hối của NHNN Việt Nam qua đó tìm ra các giải pháp nhằm khắc phục
những hạn chế và nâng cao chất lượng Quản lý ngoại hối của NHNN VN trong tiến trình hội nhập kinh
tế quốc tế. Tuy nhiên, công tác quản lý ngoại hối là một phạm vi rộng lớn và mang tính chất vĩ mô.
Trong khuôn khổ tiểu luận với điều kiện hạn chế cả về thời gian, thông tin, kiến thức khó có thể bao
quát được toàn bộ nội dung chính sách nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót.
Kính mong sự góp ý của cô giáo để bài tiểu luận này được hoàn chỉnh hơn.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!
23
Thống kê, Hà Nội.
4.
Nguyễn Thị Nhung (2004), Cơ chế quản lý ngoại hối hướng tới hội nhập kinh tế Quốc tế, Vụ
quản lý ngoại hối.
5.
Nguyễn Văn Tiến (2002), Thị trường ngoại hối Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế
Quốc tế , NXB Thống Kê, Hà Nội
6.
Bài viết: “Quản lý vốn nước ngoài và ổn định kinh tế vĩ mô - Kinh nghiệm của Trung Quốc”
xuất bản ngày 15/8/2013- Tạp chí chứng khoán số 8 tháng 8/2013
7.
Bài viết: “Kinh nghiệm quản lý thị trường vàng và huy động vàng của Ấn Độ”, TS Tô Ánh
Dương – Viện kinh tế Việt Nam.
8.
Bài viết “Tự do hóa các giao dịch tài chính quốc tế trong điều kiện hội nhập”, Nguyễn Quang
Thép, Tạp chí ngân hàng số 13/2006
9.
Khóa luận: “Chính sách quản lý ngoại hối của ngân hàng nhà nước Việt Nam trong thời kỳ hậu
khủng hoảng tài chính”
…………