MỤC LỤC
2. Những khái niệm cơ bản: 2
3. Phạm trù VC: 2
4. Phạm trù Ý thức 3
5. Nguồn gốc TN của YT 5
6. Nguồn gốc XH của YT 7
7. N.lý về mối l.hệ phổ biến - ý nghĩa 8
8. Nguyên lý về sự pt’ - ý nghĩa 10
9. Q. luật mâu thuẫn (QL Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập) 12
10. Các loại mâu thuẫn 16
11. Phạm trù nguyên nhân kết quả 18
12. Phạm trù Khả năng - Hiện thực: 20
13. Con đường nhận thức. Từ trực quan s.động đến tư duy t. tượng, Từ tư duy t. tượng
đến thực tiễn 21
14. Nhận thức cảm tính. Ý nghĩa PPL 24
15. Nhận thức lý tính. Ý nghĩa PPL 25
16. Nội dung cơ bản của phạm trù Thực tiễn, Ý nghĩa PPL 26
17. CMR Thực tiễn là tiêu chuẩn, mục đích, động lực của Nhận thức 27
18. Định nghĩa VC của Lê nin. Ý nghĩa trong ls’ T.học 28
19. MT địa lý; ĐK TN 30
20. Tính độc lập tương đối của KTTT đối với CSHT. Ý nghĩa PPL 33
21. Cấu trúc của LLSX. Vận dụng thực tiễn 35
22. Cấu trúc của QHSX. Vận dụng thực tiễn 35
23. Phân tích, CM: PTSX là tiêu chí đánh giá sự tiến bộ của Chế độ XH 36
24. Vận dụng học thuyết về hình thái KT-XH ở nước ta 37
25. Đặc trưng của NN. Vận dụng trong thực tiễn 39
26. Hình thái YTXH - Đạo đức XH được Đảng và NN ta vận dụng vào việc hoàn thiện
hệ thống YT P.luật ntn? 40
27. Hình thái YTXH – Pháp quyền được Đảng và NN ta vận dụng vào việc hoàn thiện
hệ thống YT P.luật ntn? 41
28. Phạm trù Chân lý 42
luận hay nói một cách khác trong lúc lịch sử nhân loại đã thành văn, con người đã có chữ
viết.
d. Phương pháp nhận thức của T.học:
(1) Siêu hình: Nhận thức t.học đối với SV, HT ở trạng thái cô lập, tách rời, giữa các mặt
đối lập có một ranh giới tuyệt đối; nhận thức SV, HT không có sự vận động, nếu có chỉ là
máy móc, chỉ có sự biến đổi về lượng, nguyên nhân sự biến đổi nằm ở bên ngoài SV, HT.
(2) Biện chứng: Nhận thức t.học đối với sự vật hiện tượng trong thế giới có mối qhệ, ảnh
hưởng, ràng buộc nhau; SV,HT ở trạng thái biến đổi không ngừng; SV, HT nằm trong
khuynh hướng chung của sự pt’.
3. Phạm trù VC:
e. Khái niệm VC: Có nhiều quan điểm về VC:
- Theo chủ nghĩa Duy tâm, VC bắt nguồn từ “ý niệm”
- Thời cổ đại các nhà Duy vật thường quy VC về 1 dạng cụ thể nào đó, VD: nước, lửa …
Tuy nhiên VC không phải là lửa hay nước mà đó chỉ là một dạngc ủa VC. Các nhà T.học
trước Mác thường quy 1 dạng VC thành VC.
- Thế kỷ 17 – 18 quan niệm rằng VC là vật thể nhỏ nhất và họ cho rằng ntử là VC nhỏ bé
nhất tạo ra mọi VC.
- Cuối TK 19 đầu TK 20, khoa học đã tìm ra cấu tạo của ntử (điện tử và hạt nhân), bác
bỏ sự bất biến của ntử. theo đó các nhà Duy tâm cho rằng “VC” của chủ nghĩa Duy vật bị
biến mất, nền tảng của NCDV sụp đổ.
- Trong hoàn cảnh đó Lênin đn khái quát những thành tựu của KHọc TNhiên. đưa ra
định nghĩa về VC: “VC là một phạm trù T. học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại
cho con người trong cảm giác, được cảm giác chúng ta chép lại, chụp lại, p.ánh và tồn tại
không lệ thuộc vào cảm giác”. Với định nghĩa này Lênin đã trình bày vắn tắt nhận thức luận
DVBC. Ngoài ra còn khẳng định được con người có khả năng nhận thức và nthức là một quá
2
trình từ thấp đến cao (chép, chụp, p.ánh), đi từ hiện tượng đến bản chất. ĐN này là một bước
ngoặt trong ls’ t.học, khắc phục hạn chế của những người duy cảm, duy lý hoặc những người
tuyệt đối hoá cảm tính, mở ra con đường vô tận đối với KHBC nói chung và K.học nói riêng
2. VC và vận động
1. Ý thức:
+ ĐN: Mác: YT là h.ảnh CQ của TGKQ được di chuyển vào đầu óc con người và được cải
biến đi ở trong nó.
+ Nguồn gốc:
(1)TN:
• SP đặc biệt của 1 dạng VC là bộ óc người. Vì bản thân con người là SP của TN, là 1
q.trình tiến hoá lâu dài của TN.
• Học thuyết p.ánh cao nhất là p/ánh t.lý, ý thức: P.ánh là thuộc tính phổ biến trong mọi
dạng VC. P.ánh là sự tái tạo những đặc điểm của 1 HT VC này ở HT VC khác trong
Q.trình tác động qua lại của chúng. YT chỉ nảy sinh ở GĐ pt’ cao của TG VC cùng với
sự X.hiện con người. YT bắt nguồn từ t.tính VC – t. tính p.ánh – pt’ thành. ⇒ Bộ óc
3
người (CQ p.ánh TG VC xung quanh) cùng với TG bên ngoài tác động lên bộ óc – đó
là nguồn gốc TN của YT.
(2)XH:
• LĐ: LĐ làm cho động vật bậc cao trở thành con người (việc tìm ra lửa, nấu chín thức
ăn); Thông quan LĐ con người tích lỹ K.nghiệm, hiểu biết về sự vật, thông qua LĐ
nhằm cải tạo TG, tác động vào TG, bắt TG bộc lộ những thuộc tính, quy luật vận động
thành những hiện tượng nhất định, những h.tượng ấy tác động vào bộ óc người hình
thành tri thức TN và XH.
• Ngôn ngữ (gồm tiếng nói và chữ viết): Trong LĐ phải có tính tập thể XH vì vậy nhu
cầu trao đổi KN, tư tưởng x.hiện ⇒ NN ra đời. NN do nhu cầu LĐ và nhờ LĐ mà hình
thành, NN là HThống tín hiệu mang ndung YT, là C.cụ nhằm khái quát hoá, trừu
tượng hoá hiện thực ⇒ NN là vỏ VC của YT
f. + Bản chất của YT: YT có tính tích cực, chủ động, sáng tạo ⇒ Con người nhận
biết sự vật có tính mục đích trong quá trình nhận thức, con người chủ động
trong q.trình nhận thức mà không chỉ dừng lại ở bề ngoài, con người còn đi sâu
vào bên trong sự vật, khám phá bản chất. Đôi khi sự nhận thức có sự vượt trước,
nó hướng dẫn lại hành động của con người. VD: Kiến trúc sư xây nhà theo thiết
kế, ong thợ xây tổ theo bản năng. YT là sự p.ánh, cái p.ánh.
VC QĐ YT ntn: Nguồn gốc ra đời của YT
Nội dung của YT
Sự vận động biến đổi, pt’ của YT
YT tác động trở lại VC: Tác động chở lại = HĐ thực tiễn, cần phải có một quá trình nhận
thức;
Chủ thể: Khách quan: Độc lập không phụ thuộc vào chủ thể; Chủ quan: Phụ thuộc vào chủ
thể, năng lực của chủ thể hành động
Khách thể:
YT con người có tính tích cực, chủ động, sáng tạo giúp con người nhận thức đúng hiểu biết
được bản chất sự vật, hướng dẫn con người tác động cải tạo VC.
Ý nghĩa PPL: Giải quyết mối qhệ CQ-KQ, phải tôn trọng KQ đồng thời páht huy tính năng
động chủ quan của con người để cải tạo sự vật.
Liên hệ thực tế: Đảng ta đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật KQ trong
việc xác định mục tiêu, bước đi về xây dựng cơ sở VC, kỹ thuật, cải tạo XHCN và QLý KTế
…⇒ bài học đầu tiên của Đại hội ĐẢng V: Tôn trọng khách quan.
5. Nguồn gốc TN của YT.
Trong lịch sử t.học,vấn đề nguồn gốc, bản chất và vai trò của YT là trọng tâm của đấu
tranh giữa CNDV và CNDT. Trước Mác, các nhà t.học theo CN duy tâm cho rằng YT là cái
có trước, VC là cái có sau, YT quyết định VC. Khởi nguyên của thế giới không phải là VC
mà là “ý niệm tuyệt đối:, “ tinh thần thế giới” (Hêghen -T.học cổ điển Đức). Họ cho rằng
tinh thần là cái có trước và xem xét sự vật một cách phiến diện, tuyệt đối hoá, thần thánh hoá
một mặt, một đặc tính nào đó của quá trình nhận thức mang tính bản chất của con người
cùng với nguồn gốc nhận thức. Tách rời LĐ trí óc với LĐ chân tay và địa vị thống trị của LĐ
trí óc với LĐ chân tay trong XH cũ tạo ra quan niệm đề cao vai trò của nhân tố tinh thần.
Các nhà t.học duy vật trước Mác đã phê phán lại quan điểm trên của CNDT, không thừa
nhận tính chất siêu TN của YT, đã chỉ ra mlh khăng khít giữa VC và YT, thừa nhận VC có
trước YT, YT phụ thuộc vào VC. Do khoa học chưa pt, do ảnh hưởng của quan điểm siêu
hình-máy móc nên họ đã không giải thích đúng nguồn gốc của YT. Kết quả nhận thức của
các nhà t.học duy vật cổ đại đã đồng nhất VC với một hay một số chất cụ thể và những kết
luận nó mang tính trực quan nên ngây thơ, chất phác. Đến T.kỷ thứ 17-18 các nhà t.học
thuộc tính của bộ não người, là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não người và sự tác
động của thế giới VC xung quanh lên bộ não người. Não người lại là một dạng VC có được
nhờ sự pt tiến hoá lâu dài của TN, là một bộ phận của TN. đìeu này đã khẳng định thêm
nguồn gốc TN của YT.
Bộ óc con người là cơ quan phản ánh song chỉ riêng bộ óc người thôi thì chưa thể có YT.
Không có sự tác động của thế giới bên ngoài lên các giác quan và qua đó đến bộ óc thì hoạt
động YT không thể xảy ra. Thế giới TN là nguồn nguyên liệu cung cấp cho sự phản ánh YT.
Nội dung phản ánh của giới TN luôn vận động pt (pt đến vô cùng vô tận). Nhận thức con
người không bao giờ phản ánh toàn diện giới TN mà chỉ tiệm cận trong việc phản ánh TN.
Từ những phân tích trên ta thấy rằng TN chính là nguồn gốc ra đời của YT.
T.học Mác- Lê nin đã làm rõ nguồn gốc TN của YT. Nguồn gốc TN là ĐK cần cho sự hình
thành YT của con người.
Như vậy, YT là một phạm trù t.học quan trọng. Để cho YT ngày càng phát huy trong cuộc
sống, trong thực tiễn chúng ta cần chăm lo pt nguồn gốc TN của YT đó là chú ý đến các ĐK
đảm bảo cho con người pt về mặt thể chất. Để nâng cao thể chất cần phải:
+ Nâng cao nhận thức về dân trí,
+ Trang bị kiến thức KH,
+ Quan tâm đến đời sống VC, tinh thần, chăm lo sức khoẻ cộng đồng,
+ Đẩy mạnh phong trào tư duy thực tiễn, rèn luyện sức khoẻ, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng
+ Phổ biến kiến thức, nâng cao dinh dưỡng và chất lượng cuộc sống
nhằm làm cho con người pt toàn diện, có sức khoẻ, có trí tuệ làm cho bộ não con người ngày
càng hoàn hảo chính là không ngừng nâng cao nguồn gốc TN của YT
* Vận dụng:
Văn kiện ĐH Đảng 9 đề ra mục tiêu pt KT-XH 2001 - 2010:
- Nâng cao chỉ số HDI: phổ cập THCS, giảm tỷ lệ trẻ SDD xuống còn 20%, tăng tuổi thọ 71.
- Xoá đói giảm nghèo: NN đã đầu tư khoảng 21 nghìn tỷ đồng (từ 1992 đến nay). Xây dựng
kết cấu hạ tầng thuộc chương trình xoá đói giảm nghèo khoảng 2000 tỷ đồng trong 2 năm
gần đây (tr.244) Tỷ lệ hộ đói nghèo giảm từ 20% năm 1995 xuống 10% năm 2000. Mức tiêu
dùng bình quân đầu người tăng từ 2,6tr đ năm 95 lên 4,3 tr đ năm 2000.
- Công tác DS- KHHGĐ:
cho YT ra đời, những tiền đề, nguồn gốc TN là rất quan trọng, không thể thiếu được, song
chưa đủ, ĐK quyết định cho sự ra đời của YT là những tiền đề nguồn gốc XH. YT ra đời
cùng với quá trình hình thành bộ óc con người nhờ LĐ, ngôn ngữ và những quan hệ XH.
YT là p.trù rất cơ bản của mọi t.học nói chung cũng như của t.học Mác nói riêng. YT là
hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan được di chuyển vào trong óc của con người và
được cải biến đi ở trong đó, thông qua cảm giác, tri giác, ghi lại, chụp lại phản ánh khách
quan. YT là n.dung của phản ánh của quá trình thế giới khách quan do vậy nội dung của YT
là khách quan. Nó là h.ảnh chủ quan của t.giới khách quan di chuyển vào trong bộ óc của
con người và được cải biến đi ở trong đó nên nó đã chịu sự chi phối chủ quan của con người
được cải biến đi.
Học thuyết phản ánh được Lê Nin phân tích từ phản ánh vật lý,sinh vật, thực vật, động vật,
quá trình tiến hoá của động vật bậc cao là phản ánh tâm lý YT của con người sự tiến hoá đến
đỉnh cao của thế giới VC là YT của bộ óc người là sản phẩm VC bậc cao của thế giới khách
quan cho ta một tâm lý YT.
Sự ra đời của bộ óc người cũng như sự hình thành của con người và XH loài người nhờ có
hoạt động LĐ và giao tiếp XH bằng ngôn ngữ. LĐ là hoạt động đặc thù của con người, làm
cho con người và XH loài người khác với động vật.Trong quá trình LĐ con người đã biết chế
tạo ra công cụ để SX ra của cải VC. Công cụ này càng pt làm tăng khả năng của con người
tác động vào TN, khám phá tìm hiểu TN, chinh phục TN để TN bộc lộ những thuộc tính của
mình. LĐ của con người là hoạt động có mục đích, tác động vào thế giới khách quan làm
biến đổi thế giới khách quan, cải tạo thế giới khách quan nhằm thoả mãn nhu cầu của con
người. Quá trình đó cũng làm biến đổi chính bản thân con người, làm cho con người ngày
7
càng nhận thức sâu hơn về thế giới khách quan. Nhờ có quá trình LĐ, mà bộ não người pt và
hoàn thiện hơn làm cho khả năng TDTT của con người cũng ngày càng pt. Hoạt động LĐ
của con người đã đưa lại cho bộ não người năng lực phản ánh sáng tạo về thế giới VC. Hoạt
động LĐ của con người đồng thời cũng là phương thức hình thành, pt YT. YT với tư cách là
hoạt động phản ánh sáng tạo không thể có được ở bên ngoài quá trình con người LĐ làm
biến đổi t.giới xung quanh. Thông qua LĐ con người tích luỹ được những kinh nghiệm LĐ
và hình thành tri thức LĐ.
của YT càng pt làm cho LĐ ngày càng sáng tạo có năng suất chất lượng cao hơn, như quan
điểm của Đảng và nhà nước ta đã xác định coi giáo dục là quốc sách, là hàng đầu để xây
dựng nguồn nhân lực, tạo cho XH, cho con người pt về nhận thức đổi mới phù hợp vơi qui
luật làm cho ng. gốc XH của YT ngày càng không ngừng pt.
7. N.lý về mối l.hệ phổ biến - ý nghĩa
1. Khái quát: Mọi sự vật - hiện tượng đều có mối l.hệ biện chứng với nhau
- Liên hệ là gì? + L.hệ có sự tác động quy định tồn tại của nhau tác động để cùng nhau pt’
+ L.hệ là KQ vốn có của mọi sự vật hiện tượng: SV nào cũng có MLH bên trong (VD:
các CQ nội tạng của con người)và MLH bên ngoài (VD: MQH với mọi người xung quanh)
+ Lhệ là phổ biến với mọi SV-HT
8
+ Lhệ giữa các SV-HT rất phong phú, nhiều vẻ, đa dạng và vai trò của nó tác
động đúngự tồn tại của SV cũng không ngang = nhau. Trong SV, HT có nhiều MLH: Bên
trong – Bên ngoài; Bản chất – Không bản chất; Nội dung – Hình thức; Nguyên nhân - Kết
quả; Chủ yếu - Thứ yếu …
2. Phân tích:
- Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa TGQ và phương pháp luận biện
chứng, nó bao hàm 1 nội dung hết sức phong phú, bởi vì đối tượng phản ánh của nó- thế giới
VC là vô cùng, vô tận. Trong đó nguyên lý về mlh phổ biến và sự pt có ý nghĩa khái quát.
Đây là 2 nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật đồng thời là đối tượng nghiên cứu
của phép biện chứng duy vật, đúng như ănghen đã định nghĩa: “Phép biện chứng chẳng qua
chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và pt của TN, của XH loài
người và của tư duy”.
- Nghiên cứu nguyên lý về mlh phổ biến của các sự vật và hiện tượng ta cần đặt nó trong sự
so sánh giữa 2 phương pháp khác nhau đó là phương pháp siêu hình và phép biện chứng duy
vật:
+ Phương pháp siêu hình coi các sự vật và hiện tượng trong thế giới là những cái tồn tại
tách rời nhau, cái này bên cạnh cái kia, hết cái này đến cái kia, giữa chúng không có mlh
ràng buộc quy định và chuyển hoá lẫn nhau hoặc nếu có chỉ là sự ngẫu nhiên hời hợt bên
ngoài, ví dụ như: giới TN vô cơ và giới TN hữu có không có liên hệ với nhau, XH loài người
nắm bắt đúng các mlh để có cách tác động phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
3. ý nghĩa của nó về phương pháp luận khoa học
- Phương pháp xem xét sự vật phải đặt trong mlh phổ biển, tức là phải có quan điểm toàn
diện, tránh quan điểm phiến diện chỉ xét sự vật, hiện tượng ở một mlh đã vội vàng kết luận
về bản chất hay về tính quy luật của chúng. Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức
về sự vật trong mlh qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật
và trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác (kể cả mlh trực tiếp và gián
tiếp) bởi chỉ trên cơ sở nhìn nhận toàn diện đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật. Đồng
thời, quan điểm toàn diện cũng đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệt từng mlh, phải biết chú ý
tới mlh bên trong, mlh bản chất, mlh chủ yếu, mlh tất nhiên để hiểu rõ bản chất của sự vật
và từ đó có phương pháp tác động phù hợp đem lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của
bản thân. Đương nhiên trong qt nhận thức và hành động, cũng cần lưu ý đến sự chuyển hoá
lẫn nhau giữa các mlh ở những ĐK xác định.
- Trong hoạt động thực tế, chúng ta không những chỉ chú ý tới những mlh nội tại mà cần
phải chú ý tới những mlh của sự vật ấy với những sự vật khác. Đồng thời phải biết sử dụng
đồng bộ các biện pháp, các phương tiện khác nhau để tác động nhằm đem lại hiệu quả cao
nhất,
4. Liên hệ thực tế:
Chúng ta dẫn ra đây ví dụ để chứng minh đó là trong giai đoạn CM dân tộc, dân chủ nhân
dân, đảng ta đã phân tích 1 cách toàn diện bản chất XH Việt nam lúc đó, XH mà thực chất là
thuộc địa, nửa phong kiến, từ đó, đảng ta đã xác định 2 mt cơ bản cần giải quyết đó là: mt
giữa nhân dân ta và CN đế quốc và mt giữa nhân dân trước hết là nông dân với g/c địa chủ
phong kiến. Trong đó xác định mt giữa nhân dân ta và CNĐQ là mt chủ yếu từ đó lãnh đạo
CM đi đến thắng lợi. Ngày nay, để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh ” 1 mặt chúng
ta phải phát huy nội lực, mặt khác phải biết tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách do xu
hướng toàn cầu hoá ⇒ điều này đã được đảng ta vận dụng một cách sáng tạo.
8. Nguyên lý về sự pt’ - ý nghĩa
1. Khái quát: Pt’ là khuynh hướng chung của mọi SV, HT
2. PT’ là gì:
• Là H.thống VĐ đặc biệt, VĐ từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện.
đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đường xoáy trôn ốc, có nghĩa quá trình pt dường như sự
vật ấy quay trở về điểm khởi đầu, song trên cơ sở mới cao hơn. Trên cơ sở khái quát sự pt
của mọi sự vật, hiện tượng tồn tại trong hiện thực, quan điểm duy vật vật biện chứng khẳng
định: sự pt là 1 phạm trù t.học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ
đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật
- Quan điểm duy vật biện chứng khẳng định: nguồn gốc của sự pt nằm trong bản thân sự
vật, đó là mt trong chính bản thân sự vật quy định, đó là quá trình giải quyết liên tục mt trong
bản thân sự vật, do đó chính là quá trình tự thân của mọi sự vật. Quan điểm này đối lập với
quan điểm duy tâm hay tôn giáo, đi tìm nguồn gốc của sự pt ở thần linh, thượng đế, các lực
lượng siêu nhiên hay ở trong YT của con người.
Theo quan điểm biện chứng, sự pt không khái quát sự vận động nói chung mà sự pt chỉ là
một trường hợp đặc biệt của sự vận động. Trong quá trình pt của mình, trong sự vật sẽ hình
thành dần dần những quy định mới cao hơn về chất, sẽ làm thay đổi mlh, cơ cấu, phương
thức tồn tại và vận động, chức năng vốn có theo chiều hướng ngày càng hoàn thiện.
Sự pt thể hiện rất khác nhau trong hiện thực, tuỳ theo hình thức tồn tại cụ thể của các dạng
VC. Sự pt của giới vô cơ biểu hiện dưới dạng biến đổi, các yếu tố và hệ thống VC, sự tác
động qua lại giữa chúng và trong những ĐK nhất định sẽ làm nảy sinh các hợp chất phức tạp,
từ đó cũng làm xuất hiện những hợp chất hữu cơ ban đầu tiền đề của sự sống. Trong giới hữu
cơ, sự pt thể hiện ở khả năng thích nghi của sinh vật với sự biến đổi phức tạp của MT. Sự pt
của XH loài người biểu hiện ở năng lực chinh phục TN (chứng minh) và cải biến XH cũng
như bản thân con người. Sự pt của tư duy thể hiện ở khả năng nhận thức ngày càng sâu sắc,
đầu đủ, chính xác hơn về hiện thực. Sự pt của mỗi con người ở khả năng tự hoàn thiện về cả
thể chất lẫn tinh thần phù hợp với sự vận động và pt của MT.
Theo quan điểm biện chứng, sự pt bao giờ cũng mang tính khách quan bởi vì nguồn gốc
của sự pt nằm ngay trong bản thân sự vật, là quá trình giải quyết liên tục các mt nảy sinh
trong sự tồn tại và vận động của sự vật nhờ đó sự vật luôn luôn pt ⇒ vì vậy, sự pt là tiến
trình khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn, nguyện vọng, ý chí, YT của con người. Mặt
khác, sự pt mang tính phổ biến, nó diễn ra ở mọi lĩnh vực TN, XH và tư duy. Ngay cả các
khái niệm, các phạm trù trong hiện thực cũng luôn pt.
- Sự pt có tính đa dạng và phong phú, khuynh hướng pt là khuynh hướng chung của mọi sự
theo quy luật tiến hoá của lịch sử loài người nhất định sẽ tiến tới CNXH. Tuy trong vài thập
kỷ tới có chiến tranh cục bộ, xung đột, khủng bố nhưng hoà bình, hợp tác và pt vẫn là xu thế
lớn, phản ánh đòi hỏi bức xúc của mỗi quốc gia.
Thực tế cho thấy, để xác định đường lối, chủ trương của từng giai đoạn CM, của từng thời
kỳ XD đất nước, bao giờ đảng ta cũng phân tích tình hình cụ thể của đất nước ta cũng như
bối cảnh qtế diễn ra trong từng giai đoạn và từng thời kỳ đó, chính vì vậy mà đảng ta đã lãnh
đạo đất nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, vượt qua mọi thăng trầm, kiên trì đ.lối
đưa đất nước ta tiến lên CNXH mà mục tiêu trước mắt trong giai đoạn hiện nay là “dân giàu,
nước mạnh, XH công bằng, dân chủ, văn minh”.
9. Q. luật mâu thuẫn (QL Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập)
1. Khái niệm:
Mâu thuẫn: Sự TN và ĐT giữa các mặt đối lập
Các mặt đối lập: những ytố, b.phận, t.tích bên trong sự vật nó có liên hệ tác động lẫn nhau,
nhưng có chiều hướng pt’ trái ngược nhau. ⇒ Cứ hai mặt đlập qhệ với nhau thì hình thành 1
MT, nhiều mặt độc lập qhệ với nhau thì hình thành nhiều MT.
Sự TN’: Sự quan hệ tác động ngang nhau của sự vật làm cho chưa bị phá vỡ thành cái khác.
(VD: trong cơ thể có sự bài tiết và hấp thụ)
Sự đấu tranh: Sự bài trừ, phủ định, chuyển hoá lẫn nhau của các mặt đối lập vì nó thống
nhất trong chiều hướng trái ngược nhau (VD: trong XH: Giai cấp Tư sản và Vô sản)
12
b. Phân tích:
Trong cuộc sống hàng ngày, con người dần dần nhận thức được tính trật tự và mlh có tính
lặp lại của các hiện tượng, từ đó hình thành khái niệm “quy luật”. Quy luật là mlh bản chất,
tất nhiên, phổ biến và lặp lại giữa các mặt các yếu tố, thuộc tính bên trong của mỗi sự vật,
hay giữa các sự vật, hiện tượng với nhau. Với tư cách là một khoa học, phép biện chứng duy
vật nghiên cứu những quy luật phổ biến tác động trong tất cả các lĩnh vực TN, XH và tư duy
con người. Một trong những quy luật đó là quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối
lập (hay còn gọi là quy luật mt) - hạt nhân của phép biện chứng.
Về vấn đề này, các nhà t.học trước Mác đã có những quan niệm phủ nhận bên trong của
các sự vật hiện tượng, chỉ thừa nhận sự đối kháng, sự xung đột giữa các sự vật và hiện tượng
Mt có 2 mặt đối lập nhưng không phải bất kỳ mặt đối lập nào cũng tạo thành mt. Chỉ
những mặt đối lập nào nằm trong một chỉnh thể, có liên hệ khăng khít với nhau , tác động
qua lại với nhau mới tạo thành mt. Mt là một chỉnh thể, trong đó 2 mặt đối lập vừa thống
nhất với nhau, vừa đấu tranh với nhau.
Trong mt 2 mặt đối lập có quan hệ thống nhất với nhau. Thống nhất là 2 mặt đối lập liên
hệ với nhau, ràng buộc nhau và qui định lẫn nhau mặt này lấy mặt kia làm tiền đề tồn tại của
mình. Chính còn có sự thống nhất mà sự vật tồn tại, không bị phá vỡ. Do vậy, sự thống nhất
luôn luôn có xu hướng duy trì sự tồn tại của sự vật. (Trong cơ thể sinh vật, 2mặt đối lập đồng
13
hoá và dị hoá thống nhất với nhau, nếu chỉ là 1 quá trình thì sinh vật sẽ chết. Trong XH tư
bản, g/c vô sản và g/c tư sản là 2 mặt đối lập thống nhất với nhau, nếu không có g/c vô sản
tồn tại với tư cách là 1 g/c bán sức LĐ cho nhà tư bản, thì cũng không có g/c tư sản tồn tại
với tư cách là 1 g/c mua sức LĐ của g/c vô sản để bóc lột giá trị thặng dư )
"thống nhất" trong qui luật mt còn gọi là "đồng nhất","đồng nhất"và "thống nhất" trong
trường hợp này là đồng nghĩa với nhau. Là sự thừa nhận tìm ra những khuynh hướng mt, bài
trừ lẫn nhau, đối lập, trong tất cả các hiện tượng và quá trình của giới TN kể cả trong tinh
thần và XH.
"đồng nhất" còn có nghĩa là chuyển hoá lẫn nhau giữa các mặt đối lập. Trong trường này
"đồng nhất"không đồng nghĩa với khái niệm " thống nhất" nói trên. Lênin viết"Phép biện
chứng là học thuyết vạch ra rằng những mặt đối lập làm thế nào mà có thể và thường trở
thành đồng nhất, bằng cách chuyển hoá lẫn nhau, tại sao lý trí con người không nên xem
những mặt đối lập là chết, cứng đờ, mà sinh động, có ĐK, năng động, chuyển hoá lẫn nhau"
CNDV biện chứng khẳng định sự đồng nhất không tách rời với sự khác nhau, sự đối lập.
Mỗi sự vật vừa là bản thân nó, vừa là một cái khác với bản thân nó. Trong sự đồng nhất đã
bao hàm sự khác nhau, sự đối lập, phép biện chứng đối lập với phép siêu hình. Những người
theo quan điểm siêu hình hiểu sự thống nhất một cách phiến diện, cứng đờ, sự vật là một cái
gì đồng nhất thuần tuý, không có đối lập, không chuyển hoá.
Trong mt sự thống nhất giữa các mặt đối lập không tách rời sự đấu tranh giữa chúng.
Đây là sự thống nhất của 2 mặt đối lập, hai mặt đối lập này không nằm yên bên nhau mà
chúng luôn đấu tranh với nhau. "Đấu tranh" giữa các mặt đối lập có nghĩa là các mặt đối lập
quan, vốn có của sự vật. Đến một lúc nào đó sự cân bằng này không còn nữa dẫn đến mt và
đấu tranh giữa các mặt đối lập. Ví dụ: g/c tư sản bóc lột g/c vô sản càng nhiều sẽ tích luỹ
được nhiều của cải và ngày càng giàu có. Trong khi đó, g/c vô sản bị bóc lột nhiều sẽ ngày
càng nghèo đi. Điều đó dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo trong XH ngày càng sâu sắc và cuộc
đấu tranh giữa g/c tư sản và g/c vô sản ngày càng trở nên gay gắt dẫn đến g/c vs tiến hành
CM lật đổ g/c ts, và sự thống nhất giữa 2 g/c này chỉ là tạm thời.
Còn sự đ/t giữa các mđl là có tính chất tuyệt đối, nghĩa là nó phá vỡ sự ổn định đẫn đến sự
chuyển hoá về chất của các sự vật và hiện tượng. Tính tuyệt đối của đấu tranh giữa các mặt
đối lập gắn liền với sự tự thân vận động, tự thân pt diễn ra không ngừng của các sự vật và
hiện tượng trong thế giới VC. Đấu tranh dẫn đến trực tiếp phủ định mặt đối lập bên kia hoặc
chuyển hoá lẫn nhau dẫn đến sự vật cũ mất đi và sự vật mới ra đời.
Về mối quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập Lê nin viết:"Sự thống
nhất (phù hợp, đồng nhất, tác dụng ngang nhau) của các mặt đối lập là có ĐK, tạm thời,
thoáng qua, tương đối. Sự đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng
như sự pt, sự vận động là tuyệt đối"
Về sự chuyển hoá của các mặt đối lập, Lênin viết:"Không phải chỉ là sự thống nhất của các
mặt đối lập, mà còn là những chuyển hoá của mỗi qui định, chất, đặc trưng, mặt, thuộc tính
sang mỗi cái khác(sang cái đối lập với nó). Do đó, ta không nên hiểu sự chuyển hoá lẫn nhau
giữa các mặt đối lập 1cách đơn giản, máy móc, chỉ căn cứ vào hình thức bên ngoài, chỉ nói
về sự chuyển hoá vị trí của chúng. Sự vật và hiện tượng trong thế giới là muôn hình muôn
vẻ, nên sự chuyển của các mặt đối lập cũng rất khác nhau. Ăngghen khái quát, những mặt
đối lập của mt"thông qua sự đấu tranh thường xuyên của chúng và sự chuyển hoá cuối cùng
của chúng. Từ mặt đối lập này thành mặt đối lập kia , hoặc lên những hình thức cao hơn , đã
quy định sự sống của giới TN''.
Phải căn cứ vào từng sự vật để phân tích sự chuyển hoá của các mặt đối lập. Có nghĩa là 2
mặt đối lập chuyển hoá lẫn nhau, hoặc cả hai chuyển thành những chất mới.
ý nghĩa phương pháp luận:
- Mt là khách quan vốn có của sự vật do đó khi xem xét sự vật chúng ta phải phân tích được
các mt của sự vật. Khi phân tích mt, phải xem xét quá trình phát sinh, pt của từng mt, xem
xét vai trò, vị trí, các mối quan hệ lẫn nhau của các mt; phải xem xét quá trình phát sinh, pt
phá hoại CĐ XHCN và nền độc lập dân tộc của nhân dân ta.Vì vậy để thực hiện mục tiêu dân
giàu nước mạnh XH công bằng văn minh theo con đường XHCN điều quan trọng nhất là
phải cải biến căn bản tình trạng kt XH kém pt chiến thắng những lực lượng vẫn trở việc thực
hiện mục tiêu đó trước hết là các thế lực thù địch chống độc lập dân tộc và CNXH. Để giải
quyết mt trên đây ,đảng ta chủ trương :
- Xd nhà nước pháp quyền kiểu mới nhà nước của dân do dân và vì dân,lấy liên minh công
nông trí làm nền tảng do ĐCS lãnh đạo;
- XD nền kt sx hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của
nhà nước XHCN.pt LLSX theo hướng CN hoá HĐ hoá những chuyên nghành kt mũi
nhọn,ứng dụng nhanh chóng những thành tựu KHKT và Công nghệ tiên tiến nhằm tạo ra
những bước pt mói về chất của sự pt sức sx XH.Thiêt lập qhệ sx từ thấp đến cao với sự đa
dạng hình thức sở hữu.XD nền văn hoá mới con ng mới thực hiện chính sách đối nội đoàn
kết dân tộc,chính sách đối ngoại hoà bình hợp tác hữu nghịvới tát cả các dân tộc.trung thành
với CNXH,XD và bảo vệ vững chắc tổ quốc XHCN xd đảng trong sạch và vững mạnh.
10. Các loại mâu thuẫn
1. KN mặt đối lập: là những mặt có những đặc điểm, những thuộc tính, những tính quy
định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau tồn tại một cách khách quan trong TN, XH
và tư duy.
b. KN mâu thuẫn: Các mặt đối lập nằm trong sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau
tạo thành mâu thuẫn BC.
3. Các loại mâu thuẫn:
Mâu thuẫn bên trong: Là sự tác động qua lại giũa các mặt, các khuynh hướng đối lập của
cùng một sự vật.
Mâu thuẫn bên ngoài: là mâu thuẫn diễn ra trong mối quan hệ giữa sự vật đó với sự vật
khác.
Mâu thuẫn cơ bản: là mâu thuẫn quy định bản chất, q.định sự p.triển ở tất cả các g.đoạn của
sự vật nó tồn tại trong suốt quá trình tồn tại các sự vật. MTCB được g.quyết thì SV sẽ thay
đổi căn bản về chất.
MT không cơ bản: MT chỉ đặc t rưng cho một cho một phương diện nào đó của sự vật, nó
không quy định bản chất của sự vật. MT nảy sinh hay được g.quyết không làm cho SV thay
đối trong sự tác động qua lại của các mặt đối lập thì đấu tranh của các mặt đối lập quy định
một cách tất yếu sự thay đổi đang tác động vàlàm cho thống nhất phát triển. Khi 2 mặt đối
lập xung đột gay gắt đã đủ đk chúng sẽ chuyển hoá lẫn nhau mâu thuẫn được giải quyết .nhờ
đó mà thể thống nhất cũ được thay thế bằng thể thống nhất mới; sự vật cũ mất đi sự mới ra
đời thay thế. Lênin viết: “Sự phát triển là một cuộc “đấu tranh” giữa các mặt đối lập”. Tuy
nhiên không có thống nhất của các mặt đối lập thì cũng không có đấu tranh giữa chúng.
Thống nhất và đấu tranh không thể tách rời nhau trong mâu thuẫn BC. Sự vận động và phát
triển bao giờ cũng là sự thống nhất giữa tính ổn định và tính thay đổi Do đó mâu thuẫn chính
là nguồn gốc của sự vận động và sự phát triển.
5. Ý nghĩa PPL:
Trong HĐTT phải đi sâu n.cứu phát hiện tìm ra MT của SV. Muốn vậy trong một thể
thống nhất phải tìm ra những mặt, những khuynh hướng trái ngược nhau, tức là tìm những
mặt đối lập và tìm ra những mối lhệ, tác động qua lại lẫn nhau giữa những mặt đ.lập đó
Khi pt’MT phải xem xét q.trình phát sinh, pt’ của từng MT, vai trò, vị trí và mối quan hệ
lẫn nhau của các MT; phải xem xét q.trình phát sinh, pt’ và vị trí của từng mặt đối lập, mối
quan hệ tác động qua lại giữa chúng, ĐK chuyển hoá lẫn nhau giữa chúng, để hiều rõ sự VĐ,
pt’ và ĐK để G.quyết MT.
Để thúc đẩy sự pt’ phải tìm mọi cách để giải quyết MT. Không được điều hoà MT. Việc
ĐT g.quyết MT phải phù hợp với trình độ pt’ mâu thuẫn. Phải tìm ra phương thức, p.tiện để
g.quyết MT. Một mặt phải chống lại t hái độ chủ quan, nóng vội; mặt khác phải tích cực thúc
đẩy các ĐK khách quan để làm các Đk giải quyết MT đi đến chín mồi. Các MT khác nhau
phải có cách giải quyết khác nhau.
17
11. Phạm trù nguyên nhân kết quả.
Khái quát: P.ánh mối q.hệ sản sinh ra nhau giữa các SV,HT trong hiện thực KQuan
Khái niệm P.trù: Để trao đổi tư tưởng cho nhau con người thường phải sử dụng những khái
niệm nhất định. Tuỳ theo mức độ bao quát của khái niệm mà chúng ta có các khái niệm rộng
hay hẹp khác nhau. Khái niệm rộng nhất gọi là phạm trù. Phạm trù là những khái niệm rộng
nhất phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mlh chung, cơ bản nhất của các sự vật
và hiện tượng thuộc một lĩnh vực nhất định. Mỗi môn KH chuyên ngành đều có phạm trù
trong bản thân sự vật. Họ cho rằng, mlh nhân quả là do thượng đế sinh ra hoặc do cảm giác
của con người quy định.
Tính phổ biến thể hiện mọi sự vật, hiện tượng trong TN và trong XH đều có nguyên nhân
nhất định gây ra. Không có hiện tượng nào không có nguyên nhân, chỉ có điều là nguyên
nhân đó đã được nhận thức hay chưa mà thôi. Không nên đồng nhất vấn đề nhận thức của
con người về mlh nhân quả với vấn đề tồn tại của mlh đó trong hiện thực.
Tính tất yếu thể hiện: cùng một nguyên nhân nhất định, trong những ĐK giống nhau sẽ
gây ra kết quả như nhau. tuy nhiên trong thực tế không thể có sự vật nào tồn tại trong những
ĐK, hoàn cảnh hoàn toàn giống nhau. Do vậy tính tất yếu của mlh nhân quả trên thực tế phải
được hiểu là : nguyên nhân tác động trong những ĐK và hoàn cảnh càng ít khác nhau bao
nhiêu thì kết quả do chúng gây ra càng giống nhau bấy nhiêu.
18
Giữa nguyên nhân và kết quả có mối quan hệ biện chứng với nhau:
Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả, vì vậy nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả.
Còn kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau khi nguyên nhân xuất hiện. Tuy nhiên, không phải
sự nối tiếp nào trong thời gian của các hiện tượng nào cũng đều biểu hiện mlh nhân quả.
Ví dụ: Ngày luôn luôn đến sau đêm, sấm luôn luôn đến sau chớp như thế không có nghĩa là
đêm là nguyên nhân của ngày, chớp là nguyên nhân của sấm
Vì vậy khi nói về mlh nhân quả mà chỉ nói đến tính liên tục, nối tiếp nhau về thời gian thì
chưa đủ. Cái phân biệt giữa mlh nhân quả với sự liên hệ nối tiếp nhau về mặt thời gian là ở
chỗ giữa nguyên nhân và kết quả còn có mối quan hệ sản sinh, quan hệ trong đó nguyên
nhân sinh ra kết quả. ở ví dụ thứ nhất, nguyên nhân là do sự quay quanh trục của trái đất mà
luôn luôn có phần nửa trái đất phô ra ánh sáng mặt trời, còn nửa phần bị che khuất. ở ví dụ
thứ 2 nguyên nhân là do sự phóng điện rất mạnh của các đám mây tích điện, nhưng tốc độ
lan truyền của ánh sáng lớn hơn tốc độ lan truyền của âm thanh nên ta thấy chớp trước, nghe
tiếng sấm sau
Sự phối hợp tác động của nhiều nguyên nhân "hay là nguyên nhân tổng hợp” đòi hỏi
chúng ta phải phân tích tính chất, vai trò của từng loại nguyên nhân đối với kết quả cũng như
sự liên hệ, ảnh hưởng lẫn nhau của các nguyên nhân đó.
Trong hiện thực, mlh nhân quả biểu hiện rất phức tạp, một kết quả thông thường phải do
19
ý nghĩa p.pháp luận:
Mlh nhân quả là có tính khách quan, không có một sự vật, hiện tượng nào trong thế giới
VC tồn tại mà lại không có nguyên nhân. Có những nguyên nhân mà hiện nay con người
chưa khám phá ra, nhưng rồi dần dần con người sẽ phát hiện được. Nh vụ của nhận thức KH
là khám phá những điều hiện nay loài người chưa biết. Mối quan hệ nhân quả trang bị cho
chúng ta quan điểm đúng đắn về “ quyết định luận" duy vật. Thừa nhận quan điểm nhân quả,
nhưng những người theo quan điểm duy vật biện chứng đồng thời khẳng định vai tròcủa con
người trong việc vận động qui luật vì mục đích của mình. Đó là chỗ khác giữa người duy vật
với những người dt theo "thuyết định mệnh".
Vì nguyên nhân luôn có trước kết quả nên muốn tìm nguyên nhân của một hiện tượng nào
đấy cần tìm trong những ĐK những mlh xảy ra trước khi hiện tượng đó xuất hiện.
Một sự vật, hiện tượng có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra. Những nguyên nhân này có vị
trí rất khác nhau trong việc hình thành kết quả. Vì vậy, trong hoạt động thực tiễn, chúng ta
cần phân loại các nguyên nhân (bên trong hay bên ngoài, trực tiếp hay gián tiếp, chủ yếu hay
thứ yếu ,đồng thời phải nắm được những nguyên nhân tác động cùng chiều hoặc khác
chiều để tạo ra sức mạnh tổng hợp và hạn chế những ng.nhân nghịch chiều.
Kết quả do nguyên nhân sinh ra, nhưng kết quả không tồn tại một cách thụ động. Vì vậy
phải biết khai thác, vận dụng các kết quả đã đạt được để nâng cao nhận thức và tiếp tục thúc
đẩy sự vật pt.
Vận dụng thực tiễn: Tận dụng những kết quả đã đạt được trong pt’ ktế để pt’ giáo dục.
12. Phạm trù Khả năng - Hiện thực:
Khái quát: Phạm trù Hiện thực và khả năng dùng để p.ánh mối qhệ biện chứng giữa hiện
thực và khả năng.
Khái niệm P.trù:. Phạm trù là những khái niệm rộng nhất phản ánh những mặt, những thuộc
tính, những mlh chung, cơ bản nhất của các sự vật và hiện tượng thuộc một lĩnh vực nhất
định. Mỗi môn KH chuyên ngành đều có phạm trù riêng của mình.
KN H.thực: những gì hiện có, hiện đang tồn tại thực sự.
KN K.năng: Nhưng gì hiện chưa có, nhưng sẽ có, sẽ tới khi có các ĐK tương ứng.
Knăng là một sự tồn tại đặc biệt: SV được nói tới trong khả năng thì chưa tồn tại nhưng bản
theo những chiều hướng nhất định bằng cách tạo ra những ĐK tương ứng. Không thấy vao
trò của nhận tố chủ quan của con người sẽ rơi vào sai lầm hữu khuynh chịu bó tay, khuất
phục trước hoàn cảnh. Tuy nhiên cũng không được tuyệt đối vai trò của nhân tố chủ quan
mà xem thường ĐK khách qua. Như vậyt chúng ta sẽ rơi vào sai lầm chủ quan, mạo hiểm,
duy ý chí.
Ý nghĩa PPL: Vì thực hiễn là cái tồn tại thực sự, còn KN là cái hiện chưa có, nên trong hoạt
động thực tiễn cần dựa vào hiện thực, không được dựa vào KN để dịnh ra chủ trương,
phương hướng hành động của mình. Trong HĐTT, nếu chỉ dựa vào cái ở dạng KN thì sẽ rơi
vào ảo tưởng.
KN là cái chưa tồn tại thật sự nhưng nó cúng biểu hiện khuỳnh hướng pt’ của sự vật trong
trương lai. Do đó, tuy không dựa vào khả năng nhưng chúng ta cũng phải tính đến các khả
năng để việc đề ra các chủ trương, khoạch hành động sát hợp hơn. Phải phân biệt được các
loại khả năng, t ừ đó mới tạo ĐK biến KN thành HT, thúc đẩy sự pt’.
Trong XH việc biến KN thành HT phục thuộc rất lớn vào HĐ của con người. Vì vậy cta
phải chú ý đến việc phát huy nguồn lực của con người tạo ra những ĐK thuận lợi cho vc phát
huy tính năng đông, sáng tạo của mỗi con người để biến KN thành Ht thúc đảy XH pt’.
Thực tiễn: Đảng ta chỉ rõ: “Lấy việc p/huy n/lực con người là nhân tố cơ bản cho sự pt’
nhanh tróng, bền vững của đất nước. Tuy nhiên cần tránh 2 thái cực sai lầm, một là tuyệt đối
hoá vai trò chủ quan; hai là hạ thấp vai trò nhận tố chủ quan trong việc biến khả năng thành
hiện thực”.
13. Con đường nhận thức. Từ trực quan s.động đến tư duy t. tượng,
Từ tư duy t. tượng đến thực tiễn.
i. Khái niệm
Nhận thức: Nhận thức là một Qtrình p.ánh TG KQ.
Thực tiễn: Là toàn bộ những HĐ VC có mục đích, mang tính ls’ – XH của con người nhằm
cải biến TN và XH.
TQSĐ: SV, HT tác động trực tiếp vào các giác quan
TDTT: Nhận thức khái quát ở trình độ cao.
ii. Con đường biện chứng của nhận thức:
Lênin nói “ Từ TQSĐ đến TDTT và từ TDTT đến thực tiễn - đó là con đường biện chứng
hơn.
- Nhận thức của con người có nguồn gốc ở thế giới VC; nhưng cơ sở chủ yếu và trực tiếp
nhất của nhận thức là thực tiễn. Con người là chủ thể của nhận thức trước hết vì nó đã là chủ
thể trong hoạt động thực tiễn của mình.
Như vậy, CNDVBC khẳng định nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc
con người, coi cơ sở, mục đích của nhận thức là thực tiễn.
Nhận thức dựa trên cơ sở thực tiễn nhưng nhận thức diễn ra như thế nào? Lê-nin khái quát
"Từ TQSĐ đến TDTT và từ TDTT đến thực tiễn - đó là con đường biện chứng của sự nhận
thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan".
TQSĐ (giai đoạn nhận thức cảm tính) là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức, gắn
liền với thực tiễn. TQSĐ là phản ánh trực tiếp khách thể bằng các giác quan và diễn ra với
các hình thức cơ bản kế tiếp nhau như: cảm giác, tri giác và biểu tượng.
Cảm giác là phương thức đầu tiên, đơn giản nhất của nhận thức cảm tính, phản ánh những
mặt, những thuộc tính riêng lẻ của sự vật, hiện tượng. Thí dụ: những cảm giác về màu sắc,
mùi vị, độ rắn cảm giác được hình thành do sự tác động trực tiếp của những thuộc tính
riêng lẻ của khách thể lên giác quan con người, biến "năng lượng của sự kích thích bên ngoài
thành một sự kiện thuộc về YT" . Như vậy, nguồn gốc và nội dung của cảm giác là thế giới
khách quan, bản chất của cảm giác là "hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan".
Cảm giác có vai trò to lớn trong quá trình nhận thức vì cảm giác đem lại những tài liệu
đầu tiên cho quá trình nhận thức. Tất cả những phương thức tiếp theo của nhận thức đều dựa
trên những tài liệu do cảm giác cung cấp. Từ những cảm giác, nhận thức cảm tính chuyển
sang hình thức cao hơn đó là tri giác.
Tri giác là phương thức cơ bản của nhận thức cảm tính, nó không phản ánh các thuộc tính
riêng lẻ của sự vật như cảm giác,mà tri giác phản ánh đối tượng trong tính toàn vẹn trực tiếp,
là sự tổng hợp nhiều thuộc tính khác nhau của sự vật do những cảm giác đem lại. Cũng như
22
cảm giác, tri giác mang tính trực tiếp, có nghĩa là không có đối tượng trực tiếp và các giác
quan thì không có quá trình tri giác, vì thế nó không thể phản ánh được quá khứ và tương lai.
Từ những tri giác nhận thức cảm tính chuyển sang phương thức cao hơn đó là biểu tượng.
Đây là phương thức cao nhất và phức tạp nhất của nhận thức cảm tính.
Khác với khái niệm phản ánh những thuộc tính chung bản chất của các sự vật, hiện tượng,
phán đoán phản ánh những mlh giữa các sự vật, hiện tượng và các mặt trong chúng. Cho nên
phán đoán là hình thức biểu đạt các qui luật khách quan.
Suy luận là phương thức cơ bản của tư duy trìu tượng. Nếu phương thức của các phán
đoán là sự liên hệ giữa các khái niệm thì suy luận là sự liên hệ giữa các phán đoán. Suy luận
là quá trình đi đến một phán đoán mới từ những phán đoán tiền đề. vd: Từ hai phán đoán
tiền đề: "Mọi kim loại đều dẫn điện", "Đồng là kim loại" đi đến một phán đoán mới - phán
đoán kết luận "Đồng dẫn điện"
Suy luận là một phương tiện hùng mạnh của tư duy trìu tượng thể hiện quá trình vận động
của tư duy đi từ những cái đã biết đến nhận thức những cái chưa biết một cách gián tiếp. Có
thể nói toàn bộ các KH được xây dựng trên hệ thống suy luận và nhờ có suy luận mà con
người ngày càng nhận thức sâu sắc hơn, đầy đủ hơn hiện thực khách quan.
Như vậy, TQSĐ và tư duy trìu tượng là 2 giai đoạn của một quá trình nhận thức, tuy có
những khác biệt về vị trí và mức độ phản ánh, nhưng giữa chúng có sự liên hệ, tác động qua
23
lại. Trong lịch sử t.học có những khuynh hướng tách rời và tuyệt đối hoá một trong hai giai
đoạn nhận thức. Thực tế, nhận thức lý tính không thể thực hiện được nếu thiếu những tài
liệu do nhận thức cảm tính đem lại. TQSĐ là cơ sở tất yếu của tư duy lô-gic, tư duy trìu
tượng. Ngược lại, nhận thức lý tính sẽ làm cho nhận thức cảm tính sâu sắc hơn, chính xác
hơn.
Từ TQSĐ ⇒ TDTT là 1 qtrình nhảy vọt về chất đối với QTrình nhận thức của con người.
Đó là từ sự hiểu biết bề ngoài đến hiểu biết bản chất bên trong của sự vật.
Từ TDTT⇒ thực tiễn đó là qtrình nhận thức hoá mô hình nhận thức con người trong tư
duy; Ttiền trở thành mục đích của qtrình nhận thức; Ttiền trở thành t/chuẩn kiểm nghiệm
nhận thức đúng hay sai. Khi được thực tiễn kiểm nghiệm đúng thì tri thức trở thành c.lý.
TDTT phải trở về thực tiễn là để áp dụng vào thực tiễn, giúp cho hoạt động thực tiễn có hiệu
quả.
Chân lý là tri thức đúng được thực tiến kiểm nghiệm được gọi là nhận thức chân lý.
Từ TDTT ⇒ t.tiền là mổ bước nhảy vọt về chất trong quá trình nhận thức. Trong qtrình
nhận thức TQSĐ tác động đến TDTT và TDTT tác động trở lại lẫn nhau trong từng giai đoạn
nhau của các giác quan nhưng đã có sự tham gia của các yếu tố p.tích, t.hợp và ít nhiều
mang tính trìu tượng hoá.
24
Nếu chỉ dừng lại ở cảm giác thì nhận thức mới chỉ hiểu biết được từng thuộc tính riêng lẻ
của sự vật. Muốn tìm hiểu bản chất của SV, HT ta phải nắm được tương đối toàn vẹn các
thuộc tính của SV,HT ấy. Vì vậy chúng ta không chỉ dừng lại ở cảm giác mà phải tiến lên Tri
giác.So với cảm giác thì tri giác là hình thức nhận thức cao hơn, đầy đủ hơn, phong phú
hơn Tuy nhiên đến tri giác con người mới chỉ có được những hình ảnh trực quan và tương
đối hoàn chỉnh về đối tượng. Trong khi đó nhận thức không phải lúc nào cũng đòi hỏi các sự
vật xuất hiện trước giác quan, nhiều khi nó chỉ xuất hiện một lần rồi biến đổi, nhưng con
người cũng vẫn phải nhận thức về nó. Như vậy ở đây đã xuất hiện 1 MT giữa các SV hiện có
với thực tế SV không hiệ có trước các giác quan con người. Để giải quyết MT này nhận thức
phải chuyển lên một nấc thang cao hơn là biểu tượng.
Như vậy c/giác, t/giác và b/tượng là những giai đoạn kế tiếp nhau của hình thức nhận
thức cảm tính. Trong nhận thức cảm tính đã tồn tại cả cái bản chất lẫn cái không bản chất,
cái tất yếu và ngẫu nhiên, cả cái bên trong lẫn bên ngoài của SV, nhưng con người chưa phân
biệt được chúng.
b. Ý nghĩa PPL:
Nhận thức cảm tính là một nấc thang hợp thành chu trình nhận thức. Tuy nhiên nếu chỉ
dừng lại ở nhận thức cảm tính sẽ gặp phải mâu thuẫn giữa 1 bên là thực trạng chưa phân biệt
được đâu là cái bản chất, tất yếu, bên trong, đâu là cái không bane chất, ngẫu nhiên, bên
ngoài với một nhu cầu tất yếu phải phân biệt cái đó thì con người mới có thể năm được quy
luật VĐ và pt’ của sự vật. Khi giải quyết MT ấy nhận thức sẽ vượt lên 1 trình độ mới, cao
hơn về chất. Đó là trình độ nhận thức lý tính hay còn gọi là giai đoạn TDTT.
15. Nhận thức lý tính. Ý nghĩa PPL
1. Nhận thức lý tính:
Là giai đoạn phản ánh gián tiếp, trừu tượng và khái quát những thuộc tính, những đắc
điểm về bản chất của đối tượng. Nhận thức lý tính hay TDTT được thể hiện ở các hình thức
như khái niệm, phán đoán và suy luận.
Khái niệm: là hình thức CB của TDTT P.ánh những đặc tính bản chất của SV. Sự hình