Câu 1:. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức:
- Vật chất là phạm trù triết học phức tạp và có nhiều quan niệm khác nhau về
nó. Nhưng theo Lênin định nghĩa :"vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ
thực tại khách quan đem lại cho con người trong cảm giác ,được cảm giác của chúng
ta chép lại,chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác ".
- Ý thức con người là sự phản ánh thực tại khách quan, nghĩa là con người có
khả năng nhận thức được thế giới khách quan.
- CNDV biện chứng khẳng định bản chất của thế giới là vc,vc quyết định ý
thức,vc sinh ra ý thức,ý thức chỉ là sự phản ánh vc nhưng đó là sự phản ánh năng
động sáng tạo.
Vì vậy: giữa vc và ý thức có mối quan hệ biện chứng
+ Vai trò quyết định của vc với ý thức: VC quyết định ý thức bởi vì bộ não con
người là dạng vc có tổ chức cao nhất và chỉ có duy nhất ở con người.Đó là cơ quan
phản ánh cho về dạng vc.
Sự phản ánh của ý thức là sự phản ánh năng động sáng tạo hiện thực khách
quan, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.TG khách quan quyết định nội
dung và hình thức biểu hiện của ý thức.Quá trình phản ánh của ý thức chịu tác động
của các quy luật tự nhiên ,xh và điều kiện sinh hoạt vc của con người.Như vậy vc
quyết định ý thức.
+ Vai trò tác động trở lại của ý thức đối với vc:
- Sự tác động trở lại của ý thức đối với vc phải thông qua lao động thực tiễn của
con người bởi vì thông qua lao động của người khi tác động vào thế giới khách quan
đã làm cho thế giới kquan bộc lộ những thuộc tính,những quy luật từ đó con người
có thể nhận thức được dễ dàng hơn các sự vật hiện tượng trong thế giới đó,đồng thời
trong quá trình phản ánh thế giới khách quan, thế giới khách quan đã được cải biến
đi thông qua cơ quan cảm giác của con người thông qua lăng kính chủ quan của con
người.
- Với những tri thức mà ý thức mang lại giúp cho con người có thể xác định
phương hướng mục đích trong nhận thức và thực tiễn của mình đồng thời tình cảm ý
chí cung cấp cho con người sức mạnh động lực để vượt qua những khó khăn thử
thách để đạt được mục đích đã đề ra
Qui luật lượng-chất là qui luật phổ biến của thế giới nó đựơc thể hiện trong cả 3
lĩnh vực tự nhiên,XH và tư duy
Mỗi sự vật, hiện tượng đều là một thể thống nhất của 2 mặt chất và lượng và
chúng có quan hệ hữu cơ với nhau. Phép biện chứng duy vật đã đưa ra và sử dụng
các khái niệm: chất, lượng, thuộc tính, độ, điểm nút, bước nhảy để diễn đạt mối quan
hệ giữa chất và lượng trong sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng – cách
thức vận động, phát triển.
- Từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất. Sự thống nhất
giữa chất và lượng tồn tại trong một độ nhất định khi sự vật còn là nó chưa trở thành
cái khác.
Trong mối quan hệ giữa chất và lượng thì chất là mặt tương đối ổn đinh, còn
lượng là mặt biến đổi hơn. Sự vận động và phát triển của sự vật bao giờ cũng bắt đầu
từ sự thay đổi về lượng. Song không phải bất kỳ sự thay đổi nào về lượng cũng dẫn
đến sự thay đổi về chất ngay tức khắc, mặc dù bất kỳ sự thay đổi nào về lượng cũng
ảnh hưởng đến trạng thái tồn tại của sự vật. Chỉ khi nào lượng biến đổi đến một giới
hạn nhất định (điểm nút) thì mới dẫn đến sự thay đổi về chất. Sự thay đổi căn bản về
chất được gọi là bước nhảy.
Như vậy, khi lựợng biến đổi đến điểm nút thì diễn ra bước nhảy, chất mới ra đời
thay thế cho chất cũ, sự vật mới ra đời thay thế cho sự vật cũ, nhưng rồi những lượng
mới này lại tiếp tục biến đổi đến điểm nút mới lại xảy ra bước nhảy mới. Cứ như
vậy, quá trình vận động, phát triển của sự vật diễn ra theo cách thức từ những thay
đổi về lựợng dẫn đến những thay đổi về chất một cách vô tận. Đó là quá trình thống
nhất giữa tính tuần tự, tiệm tiến, liên tục với tính gián đoạn, nhảy vọt trong sự vận
động, phát triển.
- Khi chất mới ra đời, nó không tồn tại một cách thụ động, mà có sự tác động trở
lại đối với lượng, được biểu hiện ở chỗ, chất mới sẽ tạo ra một lượng mới cho phù
hợp với nó để có sự thống nhất mới giữa chất và lượng. Sự quy định này có thể được
biểu hiện ở quy mô, nhịp độ và mức độ phát triển mới của lượng.
- Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải chú ý tích lũy dẫn những thay
đổi về lượng, đồng thời phải biết thực hiện kịp thời những bước nhảy khi có điều
Hoạt động thực tiễn là hoạt động lịch sử: vì nó là hoạt động cơ bản của loài
người trong sự phát triển lịch sử, là phương thức tồn tại cơ bản của loài người.
Hoạt động thực tiễn là hoạt động XH, vì nó là hoạt động phổ biến của XH loài
người.
b. Các hình thức hoạt động thực tiễn
· Thực tiễn là lao động sản xuất của cải vật chất: đây là hình thức cơ bản nhất,
giữ vai trò quyết định, chi phối các hoạt động khác còn lại như hoạt động tinh thần,
tư tưởng, lý luận, đấu tranh giai cấp, thực nghiệm XH,VH, biểu diễn nghệ thuật,
TH ,TG, đạo đức là hoạt động biến vượn thành người, tạo ra các điều kiện cơ bản
cho sự tồn tại và phát triển của XH.
· Thực tiễn là hoạt động cải biến XH: 1 hình thức cao nhất của hoạt động vật
chất gồm đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc, đấu tranh cho hòa bình
làm cho XH ngày càng tiến bộ.
· Thực nghiệm khoa học: là hình thức đặc biệt của hoạt động thực tiễn. Đó là
hoạt động được diễn ra trong điều kiện nhân tạo nhằm nhận thức và cải biến TN,
XH.
Các KH có vai trò to lớn trong việc nhận thức, tạo ra các phát minh KH và biến
những phát minh thành các giải pháp công nghệ, nghị lực, năng lực, vật liệu mới
phục vụ cho sản xuất, đời sống.
2. Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
Thực tiễn có 2 chức năng quan trọng:
· Chuyển cái tinh thần thành cái vật chất: khách quan hoá chủ quan.
· Chuyển cái vật chất thành cái tinh thần: chủ quan hoá khách quan.
a. Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức
Nhận thức ngay từ đầu đã xuất phát từ thực tiễn, do thực tiễn quy định. Chính
do yêu cầu sản xuất vật chất và đấu tranh cải tạo XH buộc con người phải nhận thức
thế giới. Nhờ có thực tiễn mà con người nhận thức ngày càng sâu sắc, đầy đủ thế giới
xung quanh.
Cách thức nhận thức: thực tiễn là tác động của con người vào đối tượng, buộc
đối tượng bộc lộ những thuộc tính, kết cấu, quy luật, trên cơ sở đó con người nhận
Quy luật kinh tế khách quan, xác định mối quan hệ biện chứng giữa LLSX và
QHSX, thể hiện trong tất cả các hình thái kinh tế - xã hội. LLSX là nội dung vật chất
của phương thức sản xuất, là yếu tố động nhất, cách mạng nhất, có tác dụng quyết
định đối với sự biến đổi của phương thức sản xuất; còn QHSX lại là hình thức xã hội
của phương thức sản xuất, là yếu tố tương đối ổn định so với LLSX. Song, trên mọi
quá trình lịch sử của sản xuất xã hội, mọi kiểu QHSX, nhất là QHSX chủ đạo, cuối
cùng vẫn phải thay đổi cho phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX, vì
sự phù hợp giữa hai mặt của phương thức sản xuất bao giờ cũng tạo điều kiện và địa
bàn cho LLSX phát triển, và cho QHSX được ổn định và phát huy tác dụng của nó
đối với LLSX. Khuynh hướng vận động của nền sản xuất xã hội là LLSX luôn biến
đổi, và một khi LLSX đã phát triển đến một trình độ nhất định (hoặc đã có sự thay
đổi về chất), thì QHSX không còn phù hợp với LLSX nữa, do đó sẽ phát sinh mâu
thuẫn ngày càng gay gắt giữa LLSX mới và QHSX đã lỗi thời, dẫn tới xung đột kinh
tế - xã hội, và cuối cùng mâu thuẫn ấy sẽ phải được giải quyết thông qua cách mạng
xã hội. QHSX mới phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX, có tác
động tích cực trở lại đối với sự phát triển của LLSX. Trái lại, nếu QHSX cũ vẫn tồn
tại, nó trở nên lỗi thời, trở thành yếu tố kìm hãm sự phát triển của LLSX. Song,
không phải chỉ trong trường hợp khi toàn bộ hệ thống QHSX cũ lỗi thời mới kìm
hãm sự phát triển của LLSX. Sự phát triển không đồng bộ của QHSX, khi có những
yếu tố vượt quá xa hoặc vẫn ở trình độ quá lạc hậu so với trình độ phát triển của
LLSX, cũng là nguyên nhân gây cản trở sự phát triển của LLSX.
Để sản xuất vật chất - cơ sở cho sự sinh tồn và phát triển của xã hội và cũng
là cơ sở hình thành nên tất cả các quan hệ xã hội khác, con người không thể không
quan hệ với nhau. Đó là yêu cầu khách quan của sự nảy sinh và phát triển của đời
sống xã hội. Mác viết: “Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có
những quan hệ nhất định, tất yếu, không tuỳ thuộc vào ý muốn của họ, tức là những
quan hệ sản xuất”. Những quan hệ đó của con người là “những quan hệ nhất định”,
không phải là những quan hệ bất kỳ nào, không phải là những quan hệ trừu tượng mà
là những quan hệ được xác định, cụ thể, hiện thực, những quan hệ trong quá trình sản
xuất ra đời sống xã hội. Những quan hệ đó không phải là những quan hệ tuỳ tiện,
đổi tất cả những quan hệ xã hội, mà trước hết là QHSX vật chất. Tính quyết định sự
thay đổi của QHSX thuộc về trình độ phát triển của LLSX. Mác khẳng định: “Khi
những tư liệu sản xuất vật chất, những LLSX mà thay đổi và phát triển thì những
quan hệ xã hội trong đó những cá nhân sản xuất, tức là những quan hệ sản xuất xã
hội, cũng thay đổi, biến đổi theo”./
Câu 4: Sự thống nhất biện chứng giửa lý luận và thực tiển:
Vấn đề quan hệ giữa lý luận và thực tiễn có tầm quan trọng đặc biệt trong triết
học xã hội của chủ nghĩa Mác. Tầm quan trọng đó không chỉ ở chỗ: "Quan điểm về
đời sống về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận
thức". Kinh nghiệm đấu tranh, bảo vệ và xây dựng tổ quốc xã hội chủ nghĩa đã đem
lại cho chúng ta bài học vô giá là: "Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành
động theo quy luật khách quan. Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật là
điều kiện đảm bảo sự lãnh đạo đúng đắn của đảng". Chính vì vậy việc tìm hiểu mối
quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn là cần thiết.
Để giải quyết vấn đề nêu trên, theo trước hết cần phải xác định rõ khái niệm
thực tiễn phân biệt nó với khái niệm hoạt động, sau đó là với khái niệm hoạt động lý
luận. Nói về thực tiễn thì có rất nhiều khái niệm, nhưng ở đây chỉ trình bày về các
khái niệm thực tiễn như sau.
Thứ nhất, thực tiễn là hình thức hoạt động đặc thù người. Khái niệm thực tiễn
đặc trưng cho hoạt động sống của xã hội loài người.
Thứ hai, thực tiễn là hoạt động người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội. Đây là
điểm khác biệt của thực tiễn so với hoạt động nhận thức.
Thứ ba, thực tiễn là hoạt động được chủ thể tiến hành để đạt tới mục đích được
đặt ra từ trước.
Thứ tư, thực tiễn mang tính chất lịch sử xã hội. Đó là những đặc điểm chung
của thực tiễn mà nhiều tác giả đã nhất trí.
Vậy có thể xác định thực tiễn là hoạt động của một chủ thể lịch sử cụ thể, trong
quá trình hoạt động ấy nó tiến hành cải tạo vật chất đối với hiện thực một cách phù
họp với các mục đích của bản thân, với mô hình lý tưởng và với trí thức của nó về
hiện thực và nhờ mối liên hệ giữa đối tượng hóa và giải đối tượng hoá trong quá
sự đối lập ấy trước hết được quy định bởi điều là: Quan hệ lý luận của con người với
thế giới không bao giờ có thề là quan hệ tuyệt đối với thực tiễn. Hơn nữa, quan hệ lý
luận luôn phục tùng thực tiễn, phục vụ thực tiễn và phát triển trên cơ sở cải tạo thực
tiễn xã hội.
Song, sự đối lập tuyệt đối đó không có nghĩa là không có sự đối lập tuyệt đối
giữa lý luận và thực tiễn. Lý luận do thực tiên chế định và phục vụ thực tiễn, chúng
có tính độc lập tương đối, mang những đặc trưng riêng của hoạt động. Cả khi tạo
thành một thể thống nhất trong khuôn khổ của hoạt động xã hội, chúng vẫn là những
mặt khác nhau của hoạt động đó. Chỉ khi được đưa vào thực tiễn, ý niệm, tư tưởng,
lý luận mới có thể "cải tạo" thế giới
Tính độc lập tương đối của lý luận là có tính chất tương đối.
Thí dụ, lý luận cách mạng hoàn toàn không phải là thực tiễn cách mạng. Tuy
nhiên vốn được sinh ra bởi các nhu cầu của thực tiễn xã hội, lý luận cách mạng trở
thành một bộ phận cấu thành tất yếu của thực tiễn xã hội. Khi tiên đoán tương lai,
bản thân lý luận bắt nguồn từ thực tiễn quá khứ và hiện tại. Lý luận hoàn thành một
chức năng nào đó trong xã hội không phải là ở ngoài khuôn khổ của thực tiễn, mà là
ở bên trong bản thân thực tiễn xã hội.
Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn, theo bản thể luận lẫn nhận thức luận.
Trước hết cần phải phân biệt tính chất của mối liên hệ này với tính chất của mối liên
hệ giữa ý thức và vật chất. Vật chất có thể tồn tại thiếu ý thức, nhưng thực tiễn không
thể tồn tại thiếu ý thức, đương nhiên là hình thức vả trình độ của ý thức có thể rất
khác nhau ( cho tới tư duy lý luận). Nếu các đặc tính "thử nhất" và "thứ hai" áp dụng
được vào quan hệ giữa vật chất và ý thức, thì chúng lại không áp dụng được vào
quan hệ giữa thực tiễn và ý thức. Mặc dù vật chất và ý thức là các mặt đối lập tương
đối về mặt bản thể luận, song vật chất là tiên đề, là nguyên nhân phát sinh của ý
thức, trong khi đó thực tiễn không thể thiếu ý thức.
Xét về phương diện nhận thức luận, nếu vật chất và ý thức là tuyệt đối đối lập ,
thì thực tiễn và lý luận lại không tuyệt đối đối lập nhau. Trong lý luận nhận thức, tri
thức về đối tượng tuyệt đối độc lập với bản thân lý luận.
Quan hệ giữa thực tiễn và lý luận là một quá trình mang tính lịch sử - xã hội cụ
những giai cấp nhất định trong xã hội. Vì vậy, những tư tưởng cũ, lạc hậu thường
được các lực lượng xã hội phản tiến bộ lưu giữ và truyền bá nhằm chống lại các lực
lượng xã hội tiến bộ.
Thứ hai, ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội.
Trong những điều kiện nhất định, tư tưởng của con người, đặc biệt những tư tưởng
khoa học tiên tiến có thể vượt trước sự phát triển của tồn tại xã hội, dự báo được
tương lai và có tác dụng tổ chức, chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người, hướng
hoạt động đó vào việc giải quyết những nhiệm vụ mới do sự phát triển chín muồi của
đời sống vật chất của xã hội đặt ra. Tuy nhiên, suy đến cùng, khả năng phản ánh vượt
trước ý thức xã hội vẫn phụ thuộc vào tồn tại xã hội.
Thứ ba, ý thức xã hội có tính kế thừa trong sự phát triển
Lịch sử phát triển đời sống tinh thần của xã hội cho thấy rằng, những quan điểm lý
luận của mỗi thời đại không xuất hiện trên mảnh đất trống không mà được tạo ra trên
cơ sở kế thừa những tài liệu lý luận của các thời đại trước.
Do ý thức có tính kế thừa trong sự phát triển, nên không thể giải thích được một tư
tưởng nào đó nếu chỉ dựa vào những quan hệ kinh tế hiện có, không chú ý đến các
giai đoạn phát triển tư tưởng trước đó. Lịch sử phát triển của tư tưởng đã cho thấy
những giai đoạn hưng thịnh hoặc suy tàn của triết học, văn học, nghệ thuật, v.v…
nhiều khi không phù hợp hoàn toàn với những giai đoạn hưng thịnh hoặc suy tàn của
kinh tế.
Trong xã hội có giai cấp, tính chất kế thừa của ý thức xã hội gắn với tính chất giai
cấp của nó. Những giai cấp khác nhau kế thừa những nội dung ý thức khác nhau của
các thời đại trước. Các giai cấp tiên tiến tiếp nhận những di sản tư tưởng tiến bộ của
xã hội cũ để lại.
Thứ tư, sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội trong sự phát triển của
chúng.
Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội là một nguyên nhân làm cho
trong mỗi hình thái ý thức có những mặt, những tính chất không thể giải thích được
một cách trực tiếp từ tồn tại xã hội.
Lịch sử phát triển của ý thức xã hội cho thấy, thông thường ở mỗi thời đại, tùy theo
tính độc lập tưởng đối của chúng. Do đó, trong thực tiễn cải tạo xã hội cũ, xây dựng
xã hội mới cần phải được tiến hành đồng thời trên cả hai mặt tồn tại xã hội và ý thức
xã hội, trong đó việc thay đổi tồn tại xã hội cũ là điều kiện cơ bản nhất để thay đổi ý
thức xã hội cũ. Đồng thời, cũng cần thấy rằng khơng chỉ những biến đồi trong tồn tại
xã hội mới tất yếu dẫn đến những thay đổi to lớn trong đời sống tinh thần của xã hội
mà ngược lại, những tác động của đời sống tinh thần xã hội, với những điều kiện xác
định cũng có thể tạo ra những biến đổi mạnh mẽ, sâu sắc trong tồn tại xã hội./.
Câu 5: Quan hệ biện chứng giửa tồn tại XH và ý thức XH:
1/. Vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội.
Cơng lao to lớn của C.Mác và Ăngghen là phát triển chủ nghĩa duy vật đến đỉnh
cao, xây dựng quan điểm duy vật về lịch sử và lần đầu tiên giải quyết một cách khoa
học vấn đề sự hình thành và phát triển của ý thức xã hội. Các ơng đã chứng minh
rằng, đời sống tinh thần của xã hội hình thành và phát triển trên cơ sở của đời sống
vật chất, rằng khơng thể tìm nguồn gốc của tư tưởng, tâm lý xã hội trong bản thân
nó, nghĩa là khơng thể tìm trong đầu óc con người mà phải tìm trong hiện thực vật
chất.
Sự biến đổi của một thời đại nào đó cũng sẽ khơng thể giải thích được nếu chỉ
căn cứ vào ý thức của thời đại ấy.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử chỉ rõ rằng tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, ý
thức xã hội là sự phản ánh của tồn tại xã hội, phụ thuộc vào tồn tại xã hội. Mỗi khi
tồn tại xã hội, nhất là phương thức sản xuất biến đổi thì những tư tưởng và lý luận xã
hội, những quan điểm về chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, văn hóa, nghệ
thuật, v.v. sớm muộn sẽ biến đổi theo. Cho nên ở những thời kỳ lịch sử khác nhau
nếu chúng ta thấy có những lý luận, quan điểm, tư tưởng xã hội khác nhau thì đó là
do những điều kiện khác nhau của đời sống vật chất quyết định.
Quan điểm duy vật lịch sử về nguồn gốc của ý thức xã hội khơng phải dừng lại
ở chỗ xác định sự phụ thuộc của ý thức xã hội vào tồn tại xã hội, mà còn chỉ ra rằng,
tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội không phải một cách giản đơn trực tiếp mà
thường thông qua các khâu trung gian. Không phải bất cứ tư tưởng, quan niệm, lý
luận hình thái ý thức xã hội nào cũng phản ánh rõ ràng và trực tiếp những quan hệ
Vì vậy, những tư tưởng cũ, lạc hậu thường được các lực lượng xã hội phản tiến
bộ lưu giữ và truyền bá nhằm chống lại các lực lượng xã hội tiến bộ. Những ý thức
lạc hậu, tiêu cực không mất đi một cách dễ dàng.
Vì vậy, trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới phải thường xuyên tăng cường
công tác tư tưởng, đấu tranh chống lại những âm mưu và hành động phá hoại của
những lực lượng thù địch về mặt tư tưởng, kiên trì xoá bỏ những tàn dư ý thức cũ,
đồng thời ra sức phát huy những truyền thống tư tưởng tốt đẹp.
- ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội:
Khi khẳng định tính thường lạc hậu hơn của ý thức xã hội so với tồn tại xã hội,
triết học mácxít đồng thời thừa nhận rằng, trong những điều kiện nhất định, tư tưởng
của con người, đặc biệt những tư tưởng khoa học tiên tiến có thể vượt trước sự phát
triển của tồn tại xã hội, dự báo được tương lai và có tác dụng tổ chức, chỉ đạo hoạt
động thực tiễn của con người, hướng hoạt động đó vào việc giải quyết những nhiệm
vụ mới do sự phát triển chín muồi của đời sống vật chất của xã hội đặt ra.
Khi nói tư tưởng tiên tiến có thể đi trước tồn tại xã hội, dự kiến được quá trình
khách quan của sự phát triển xã hội thì không có nghĩa nói rằng trong trường hợp
này ý thức xã hội không còn bị tồn tại xã hội quyết định nữa. Tư tưởng khoa học tiên
tiến không thoát ly tồn tại xã hội, mà phản ánh chính xác, sâu sắc tồn tại xã hội.
- ý thức xã hội có tính kế thừa trong sự phát triển của mình:
Lịch sử phát triển đời sống tinh thần của xã hội cho thấy rằng, những quan điểm
lý luận của mỗi thời đại không xuất hiện trên mảnh đất trống không mà được tạo ra
trên cơ sở kế thừa những tài liệu lý luận của các thời đại trước.
Do ý thức có tính kế thừa trong sự phát triển, nên không thể giải thích được một
tư tưởng nào đó nếu chỉ dựa vào những quan hệ kinh tế hiện có, không chú ý đến các
giai đoạn phát triển tư tưởng trước đó.
Lịch sử phát triển của tư tưởng cho thấy những giai đoạn hưng thịnh hoặc suy
tàn của triết học, văn học, nghệ thuật, v.v. nhiều khi không phù hợp hoàn toàn với
những giai đoạn hưng thịnh hoặc suy tàn của kinh tế.
Tính chất kế thừa trong sự phát triển của tư tưởng là một trong những nguyên
nhân nói rõ vì sao một nước có trình độ phát triển tương đối kém về kinh tế nhưng tư
chất.
Lịch sử phát triển của ý thức xã hội cho thấy, thông thường ở mỗi thời đại, tùy theo
những hoàn cảnh lịch sử cụ thể có những hình thái ý thức nào đó nổi lên hàng đầu và
tác động mạnh đến các hình thái ý thức khác.
Trong sự tác động lẫn nhau giữa các hình thái ý thức, ý thức chính trị có vai trò
đặc biệt quan trọng, ý thức chính trị của giai cấp cách mạng định hướng cho sự phát
triển theo chiều hướng tiến bộ của các hình thái ý thức khác.
Trong điều kiện của nước ta hiện nay, những hoạt động tư tưởng như triết học,
văn học nghệ thuật, v.v. mà tách rời đường lối chính trị đúng đắn của Đảng sẽ không
tránh khỏi rơi vào những quan điểm sai lầm, không thể đóng góp tích cực vào sự
nghiệp cách mạng của nhân dân.
- ý thức xã hội tác động trở lại tồn tại xã hội:
Chủ nghĩa duy vật lịch sử không những chống lại quan điểm duy tâm tuyệt đối
hóa vai trò của ý thức xã hội, mà còn bác bỏ quan điểm duy vật tầm thường, hay chủ
nghĩa duy vật kinh tế phủ nhận tác dụng tích cực của ý thức xã hội trong đời sống xã
hội. Ăngghen viết: "Sự phát triển của chính trị, pháp luật, triết học, tôn giáo, văn học,
nghệ thuật v.v. đều dựa trên cơ sở sự phát triển kinh tế. Nhưng tất cả chúng cũng có
ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng đến cơ sở kinh tế".
Mức độ ảnh hưởng của tư tưởng đối với sự phát triển xã hội phụ thuộc vào
những điều kiện lịch sử cụ thể; vào tính chất của các mối quan hệ kinh tế mà trên đó
tư tưởng nảy sinh; vai trò lịch sử của giai cấp mang ngọn cờ tư tưởng; vào mức độ
phản ánh đúng đắn của tư tưởng đối với các nhu cầu phát triển xã hội; vào mức độ
mở rộng của tư tưởng trong quần chúng. Cũng do đó, cần phải phân biệt vai trò của ý
thức tư tưởng tiến bộ và ý thức tư tưởng phản tiến bộ đối với sự phát triển xã hội.
Như vậy, nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử về tính độc lập tương đối của
ý thức xã hội chỉ ra bức tranh phức tạp của lịch sử phát triển của ý thức xã hội và của
đời sống tinh thần xã hội nói chung; nó bác bỏ mọi quan điểm siêu hình, máy móc,
tầm thường về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội./