lời nói đầu
Trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Việt Nam đang thực hiện
chiến lợc hớng về xuất khẩu kết hợp song song với chiến lợc thay thế nhập khẩu.
Đây cũng là một trong những nội dung quan trọng đợc đề cập trong đại hội lần
thứ VII của Đảng cộng sản và và lần này trong đại hội IX đã khẳng định tiếp Đẩy
mạnh sản xuất, coi xuất khẩu là hớng u tiên và là trọng điểm của kinh tế đối
ngoại.
Đối với Việt Nam cũng nh tất cả các nớc trên thế giới, hoạt động xuất khẩu
đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế và xây dựng
đất nớc. Nó là một phơng tiện hữu hiệu cho phát triển kinh tế, tăng thu ngoại tệ,
phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu, cải tiến công nghệ kỹ thuật hiện đại, nâng cao
chất lợng sản phẩm. Đặc biệt là yếu tố không thể thiếu nhằm triển khai thực hiện
chơng trình CNH- HĐH đất nớc. Nhận thức rõ vấn đề này, đảng và nhà nớc ta đã
xây dng các chiến lợc phát triển dài hạn, các chơng trình, kế hoạch thực hiện
cũng nh đa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh xuất khẩu phát
triển. Đây cũng là nhiệm vụ mà đảng và nhà nớc giao cho các thành phần kinh tế
tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu, trong đó có công ty may Thăng Long .
Trong điều kiện đất nớc ta đang đổi mới hiện nay, ngành may mặc đợc coi
là một ngành quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân. Mục tiêu, chiến lợc, nhiệm
vụ của ngành là góp phần thực hiện thắng lợi đờng lối của Đảng, góp phần thắng
lợi sự nghiêp CNH - HĐN đất nớc đảm bảo nhu cầu may mặc toàn xã hội, không
ngừng tăng cờng xuất khẩu và giải quyết việc làm cho ngời lao động.
Công ty may Thăng Long là một công ty may mặc xuất khẩu đầu tiên của n-
ớc ta ra đời vào năm 1958 cùng với sự đổi mới về kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá
tập trung bao cấp sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc, công ty đã
nhanh chóng thích nghi với thị trờng, ổn định sản xuất và không ngừng phát triển
sản xuất và kinh doanh của công ty. Hàng may mặc xuất khẩu là mặt hàng chính
của công ty từ trớc tới nay. Vì vậy để tiếp cận với thị trờng nớc ngoài đòi hỏi ngày
càng cao nh hiện nay đã đặt ra cho công ty may mặc Thăng Long những cơ hội và
thử thách.
Đẩy mạnh xuất khẩu hàng may mặc, duy trì và mở rộng nhiều thị trờng nớc
mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán phức tạp có tổ chức ở cả bên trong và
bên ngoài đất nớc nhằm thu đợc ngoại tệ, những lợi ích kinh tế xã hội thúc đẩy hoạt
động xản xuất hàng hoá trong nớc phát triển góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế và
từng bớc nâng cao đời sống nhân dân. Các mối quan hệ này xuất hiện có sự phân
công lao động quốc tế và chuyên môn hoá sản xuất.
Xuất khẩu là một phơng thức kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trờng
quốc tế nhằm tạo ra doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp góp phần chuyển cơ
cấu kinh tế của đất nớc
Hoạt động xuất khẩu thể hiện sự kết hợp chặt chẽ và tối u giữa khoa học quản
lý với nghệ thuật kinh doanh của doanh nghiệp, giữa nghệ thuật kinh doanh với các
yếu tố khác nh: Pháp luật, văn hoá, khoa học kỹ thuật không những thế hoạt động
xuất khẩu còn nhằm khai thác lợi thế so sánh của từng nớc qua đó phát huy các lợi
thế bên trong và tận dụng những lợi thế bên ngoài, từ đó góp phần cải thiện đời sống
nhân dân và đẩy nhanh quá trình CNH HĐH, rút ngắn khoảng cách giữa nớc ta
với các nớc phát triển, mặt khác tạo ra doanh thu và lợi nhuận giúp doanh nghiệp
phát triển ngày một cao hơn.
1.2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu :
Hoạt động xuất khẩu (HĐXK) thể hiện nhu cầu về hàng hoá của quốc gia
khác đối với quốc gia chủ thể. Và nó chỉ ra những lĩnh vực, sản phẩm có thể chuyên
môn hoá đợc, những công nghệ và t liệu sản xuất trong nớc còn thiếu để sản xuất ra
những sản phẩm xuất khẩu đạt đợc chất lợng quốc tế. Vì thế nó đóng vai trò quan
trọng đối với tất cả các quốc gia trên thế giới nhằm thực hiện những mục tiêu phát
triển đất nớc, mở rộng quan hệ đối ngoại. Cụ thể :
Đối với doanh nghiệp (DN)
Thúc đẩy hoạt động xuất khẩu nghĩa là mở rộng thị trờng tiêu thụ sản phẩm
của doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh. Đây là yếu tố quan
trọng nhất vì sản phảm sản xuất ra có tiêu thụ đợc thì mới thu đợc vốn, có lợi nhuận
để tái sản xuất , mở rộng sản xuất, tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển. Xuất
khẩu sẽ mạng lại cho doanh nghiệp nhiều thuận lợi, nhiều lợi ích trớc mắt và lâu dài,
tăng tài sản vô hình của doanh nghiệp trên trờng quốc tế. Đồng thời tạo thêm vốn để
nhờ sự cạnh tranh này mà chất lợng hàng hoá không ngừng đợc nâng cao lên tạo
điều kiện tăng năng lực sản xuất, thể hiện nội lực kinh tế của đất nớc không những
thế xuất khẩu phát triển sẽ phát huy cao độ tính năng động sáng tạo của mọi ngời
mọi đơn vị sản xuất kinh doanh xuất khẩu và các tổ chức xã hội.
- Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải
thiện đời sống của ngời lao động.
- Hoạt động xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy mối quan hệ kinh tế
đối ngoại của nớc ta.Thông qua hoạt động xuất khẩu môi trờng kinh tế đợc mở rộng
tính cạng tranh ngày càng cao đòi hỏi các doanh nghiệp luôn phải có sự đổi mới để
thích nghi, đáp ứng đợc nhu cầu của thị trờng. Hoạt động xuất khẩu góp phần hoàn
thiện các cơ chế quản lý xuất khẩu của nhà nớc và của từng điạ phơng phù hợp với
yêu cầu chính đáng của doang nghiệp tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu.
Mặt khác, hoạt động xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc
đẩy sản xuất trong nớc phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho hàng loạt ngành sản
xuất phát triển, đồng thời cũng thúc đẩy các ngành dịch vụ hỗ trợ hoạt động xuất
khẩu phát triển nh ngành bảo hiểm, hành hải, thông tin liên lạc quốc tế, dịch vụ tài
chính quốc tế đầu t , xuất khẩu tạo khả năng mở rộng thị tr ờng tiêu thụ sản phẩm,
tạo điều kiện tiền đề kinh tế kỹ thuật đồng thời việc nâng cao năng lực sản xuất
trong nớc. Điều đó chứng tỏ xuất khẩu là phơng tiện quan trọng tạo vốn, đa kỹ thuật
công nghệ nớc ngoài vào Việt Nam nhằm hiện đại hoá nền kinh tế của đất nớc.
2. Các hình thức xuất khẩu.
2.1. Xuất khẩu trực tiếp
Xuất khẩu trực tiếp là xuất khẩu hàng hoá do chính doanh nghiệp sản xuất
hoặc đặt mua của doanh sản xuất trong nớc, sau đó xuất khẩu những sản phẩm này
với danh nghĩa là hàng của mình.
Để tiến hành một thơng vụ xuất khẩu trực tiếp cần theo các bớc sau:
+ Tiến hành ký kết hợp đồng mua hàng nội địa với các đơn vị sản xuất kinh
doanh trong nớc sau đó nhận hàng và thanh toán tiền hàng cho các đơn vị sản
+ Ký hợp đồng ngoại thơng (loại hợp đồng ký kết với các đối tác nớc ngoài
có nhu cầu mua sản phẩm của doanh nghiệp), tiến hành giao hàng và thanh toán
tất cả và doanh nghiệp thanh toán cho đơn vị sản xuất).
Để kinh doanh xuất khẩu ttheo hình thức này, doanh nghiệp không cần bỏ
nhiều vốn kinh doanh nhng hiệu quả tơng đối cao, ít rủi ro thị trờng tiêu thụ chắc
chắn.Tuy nhiên, đây cũng là một hình thức phức tạp bởi nó đòi hỏi phải tìm đợc đối
tác nớc ngoài có nhu cầu. Vì thế, doanh nghiệp phải có uy tín lớn trên thị trờng và
năng động trong kinh doanh.
2.4. Gia công quốc tế.
Gia công quốc tế là một hình thức kinh doanh, trong đó bên đặt gia công ở nớc
ngoài cung cấp máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu hoặc bán thành phẩm để bên
nhận gia công tổ chức quá trình sản xuất thành phẩm theo yêu cầu của bên đặt gia
công. Toàn bộ sản phẩm làm ra bên nhân gia công sẽ giao lại cho bên đặt gia công
để nhận về một khoản thù lao (gọi là phí gia công) theo thoả thuận.
Hiện nay, hình thức gia công quốc tế đợc vận dụng khá phổ biến nhng thị tr-
ờng của nó chỉ là thị trờng một chiều, và bên đặt gia công thờng là các nớc phát
triển, còn bên nhận gia công thờng là các nớc chậm phát triển. Đó là sự khác nhau
về lợi thế so sánh của mỗi quốc gia .
Đối với bên đặt gia công, họ tìm kiếm một nguồn lao động với giá rẻ hơn giá
trong nớc nhằm giảm chi phí sản xuất tăng lợi nhuận, còn bên nhận gia công có
nguồn lao động dồi dào mong muốn có việc làm tạo thu nhập, cải thiện đời sống và
qua đó tiếp nhận những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến.
2.5. Xuất khẩu theo nghị định th.
Hình thức xuất khẩu hàng hoá này đợc ký kết theo nghị định th giữa hai
chính phủ và hàng hoá ở đây thờng là hàng trả nợ.
Xuất khẩu theo hình thức này sẽ hạn chế đợc rủi ro trong thanh toán (do nhà
nớc trả) tiết kiệm chi phí nghiên cứu thị trờng, gia cả hàng hoá dễ chấp nhận. Nhng
xuất khẩu theo hình thức này đem lại lợi nhuận không cao.
Hiện nay, hình thức này không đợc áp dụng phổ biến bởi không đem lại
nhiều lợi ích cho cả hai bên, hàng hoá không đều, phức tạp, chất lợng không cao...
2.6. Xuất khẩu tại chỗ.
Là hình thức mà hàng hoá xuất khẩu đợc bán ngay tại nớc xuất khẩu. Doanh
+ Hình thức trao đổi bù trừ: là hình thức xuất khẩu liên kết với nhập khẩu
ngay trong hợp đồng, có thể trừ trớc hay bù song song.
+ Nghiệp vụ đối lu: là hình thức một bên giao thiết bị cho bên kia rồi mua lại
thành phẩm hay bán thành phẩm.
Hình thức buôn bán đối lu có u điểm là có thể thực hiện đợc khi các bên thiếu
thị trờng tiêu thụ sản phẩm, thiếu ngoại tệ. Hơn nữa, nó tránh đợc những rủi ro do
biến động thị trờng ngoại hối gây ra. Nhng để thực hiện phơng thức giao dịch này
đòi hỏi phải tiến hành theo các yêu cầu sau:
+ Hai bên phải cùng tham gia vào cân bằng về mặt hàng hoá
+ Cùng cân bằng về giá cả
+ Cùng thoả thuận điều kiện giao hàng
Các yêu cầu trên đợc thực hiện đầy đủ sẽ tạo cho cả hai bên cùng thoả mãn
với số lợng hàng mà mình nhận đợc. Do vậy, quan hệ giữa hai quốc gia sẽ ngày
càng tốt đẹp và bền vững.
Tóm lại, với các hình thức xuất khẩu đợc trình bày ở trên, việc áp dụng vào
hình thức nào là tuỳ thuộc vào bản thân từng doanh nghiệp và bên đối tác tham gia
thoả hiệp. Mà mỗi hình thức dều có những mặt tích cực và mặt hạn chế, cho nên khi
tiến hành hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần nghiên cứu đánh giá xem xét nên
xuất khẩu theo hình thức nào để thu về nhiều lợi ích cho doanh nghiệp.
II. Quá trình tổ chức hoạt động xuất khẩu hàng hoá
Hoạt động xuất khẩu là một quy trình kinh doanh bao gồm bốn bớc sau. Mỗi
bớc có một đặc điểm riêng biệt và đợc tiến hành theo các cách thức nhất đinh.
1. Nghiên cứu tiếp cận thị trờng nớc ngoài.
Nghiê n cứu thị trờng nhằm nắm vững các yếu tố thị trờng, hiểu hết các quy
luật vận động của thị trờng để kịp thời đa ra các quyết định. Vì thế nó có ý nghĩa rất
quan trọng trong phát triển và nâng cao hiệu suất các quan hệ kinh tế đặc biệt là
trong hoạt động xuất khẩu của mỗi doanh nghiệp, mỗi quốc gia. Vì thế khi nghiên
cứu về thị trờng nớc ngoài, ngoài các yếu tố chính trị, luật pháp, cơ sở hạ tầng phong
tục tập quán , doanh nghiệp còn phải biểt xuất khẩu mặt hàng nào, dung l ợng thị
trờng hàng hoá là bao nhiêu, đối tác kinh doanh là ai, phơng thức giao dịch nh thế
bởi các nhân tố chu kỳ, nhân tố lũng đoạn, nhân tố cạnh tranh. Nhân tố lạm phát.
+ Phân tích thông tin về nhu cầu tiêu dùng.
Nhu cầu của thị trờng là tiêu thụ đợc, chú ý đặc biệt trong marketinh , thơng
mại quốc tế, bởi vì công việc kinh doanh đợc bắt nguồn từ nhu cầu thị trờng.
* Lựa chọn thị trờng xuất khẩu. Trớc hết cần xác định các tiêu chuẩn mà các
thị trờng đáp ứng
- Các tiêu chuẩn chung:
+ Chính trị pháp luật
+ Địa lý: khoảng cách khí hậu, sự phân bố
+ Kinh tế : Thu nhập tốc độ tăng trởng
+ Tiêu chuẩn kinh tế
0 - Các tiêu chuẩn về quy chế thơng mại và tiền tệ .
+ Bảo hộ mậu dịch: thuế quan, hạn ngạch giấy phép
+ Tình hình tiền tệ: tỷ lệ lạm phát, sức mua của đồng tiền
1 - Các tiêu chuẩn thơng mại
+ Sản xuất nội địa
+ Xuất khẩu
Các tiêu chuẩn trên phải đợc đánh giá, cân nhắc điều chỉnh theo mức độ quan
trọng. Thì thờng sau khi đánh giá họ sẽ chiếm các thị trờng, sau đó chọn thị trờng
tốt nhất.
2. Xây dựng kế hoạch kinh doanh xuất khẩu.
Kế hoạch kinh doanh xuất khẩu phải đợc xây dựng cụ thể tất cả các vấn đề
liên quan đến việc xuất khẩu.
* Xây dựng kế hoạch tạo nguồn hàng: Nguồn hàng xây dựng đợc tạo bằng
cách:
Đối với doanh nghiệp sản xuất thì tạo nguồn hàng là việc tổ chức hàng hoá
theo yêu cầu của khách hàng. Các doanh nghiệp sản xuất cần phải trang bị máy
móc, nhà xởng nhiên liệu để sản xuất ra sản phẩm xuất khẩu. Kế hoạch tổ chức sản
xuất phải lập chi tiết, hoạch toán chi phí cụ thể cho từng đối tợng. Vấn đề công nhân
cũng là một vấn đề quan trọng, số lợng công nhân, trình độ, chi phí. Đặc biệt trình
13 Chấp nhận: là đồng ý hoàn toàn bộ tất cả các diều kiện trong th chào hàng.
14 Xác nhận: hai bên mua bán thống nhất với nhau về các điều kiện đã giao
dịch. Họ đồng ý với nhau và đồng ý thành lập văn bản xác nhận ( thờng lập thành
hai bản )
Ngày nay tồn tại hai loại giao dịch:
15 - Giao dịch trực tiếp: là giao dịch mà ngời mua và ngời bán thoả thuận bàn
bạc trực tiếp.
16 - Giao dịch gián tiếp: là giao dịch thông qua các tổ chức trung gian.
Tuỳ theo trờng hợp cụ thể mà các doanh nghịêp chọn phơng thức giao dịch
thích hợp. Trong thực tế hiện nay, giao dịch trực tiếp đợc áp dụng rộng rãi bởi giảm
đợc chi phí trung gian, dễ dàng thống nhất, có điều kiện tiếp xúc với thị trờng,
khách hàng, chủ động trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá
* Ký kết hợp đồng
Việc giao dịch đàm phán có kết quả tốt thì coi nh đã hoàn thành công việc ký
kết hợp đồng. Ký kết hợp đồng có thể ký kết trực tiếp hay thông qua tài liệu
Khi ký kết cần chú ý đến vấn đề địa điểm thời gian và tuỳ từng trờng hợp mà
chon hình thức ký kết.
4. Tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu.
Để thực hiện hợp đồng xuất khẩu thì doanh nghiệp phải thực hiện các công
việc khác nhau. Tuỳ theo điều khoản hợp đồng mà doanh nghiệp phải làm một số
công việc nào đó. Thông thờng các doanh nghiệp cần thực hiện các công việc đợc
mô tả theo sơ đồ.
Sơ đồ : Quy trình xuất khẩu
III. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động xuất khẩu và các yếu tố ảnh hởng đến
hoạt động xuất khẩu hàng hoá
1. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá
Việc đánh giá hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp là một việc cần thiết.
Bởi vì nó cho phép doanh nghiệp xác định đợc hiệu quả của một hợp đồng xuất
khẩu và của công việc kinh doanh. Qua việc đánh giá doanh nghiệp sẽ thấy đợc hạn
chế của hoạt động để lần sau khắc phục đồng thời phát huy những u điểm, những
18 Công thức tính lợi nhuận
P = TR - TC
trong đó : P : là lợi nhuận
IR: là tổng doanh thu
TC: là tổng chi phí
- Tỉ suất lợi nhuận:Tỷ suất lợi nhuận là chỉ tiêu tơng đối phản ánh tỷ lệ phần
trăm (%) của lợi nhuận trên tổng doanh thu
Công thức tính: P = P/TR*100
Trong đó: P là tỷ suất lợi nhuận
- Hệ số sinh lời của chi phí P
Công thức tính: P = P/TC*100
Trong đó P là hệ số sinh lời của chi phí
Chỉ tiêu P nói lên rằng: tỷ lệ % lãi so với tổng chi phí của doanh nghiệp sau
khi thực hiện hợp đồng, hay khả năng sinh lời của một đồng chi phí. Chỉ tiêu này có
thể so sánh với tỷ suất lãi của ngân hàng hay so với một tiêu chuẩn nào đó.
19 - Chỉ tiêu tỷ suất ngoại tệ xuất khẩu là tỷ lệ giữa tổng chi phí tính bằng ngoại
tệ trên doanh thu tính bằng ngoại tệ. Chỉ tiêu này đem so sánh với tỷ giá hối đoái
của ngân hàng, nếu chỉ tiêu trên bé hơn tỷ giá thì thực hiện đờng lối có hiệu quả và
ngợc lại.
Tỷ suất ngoại xuất khẩu = Chi phí (VND)/Doanh thu (ngoại tệ)
*Chỉ tiêu phản ánh kết quả định tính.
Hợp đồng xuất khẩu cũng nh hợp đồng kinh doanh khác của doanh nghiệp,
nó không chỉ nhằm vào mục tiêu lợi nhuận mà còn nhiều mục tiêu khác nh: mở
rộng thị trờng, định vị sẩn phẩm, cạnh tranh.
Có nhiều doanh nghiệp chịu lỗ để đạt đợc mục tiêu về cạnh tranh, mở rộng thị
trờng, khả năng thâm nhập và mở rộng thị trờng, kết quả này có đợc sau một thời
gian nỗ lực không ngừng của doanh nghiệp trong việc thúc đẩy các hợp đồng xuất
khẩu của mình. Kết quả này biểu hiện ở thị trờng xuất khẩu hiện có của doanh
nghiệp, khả năng mở rộng sang các thị trờng khác, mối quan hệ với khách hàng đợc
mở rộng đến đâu, khả năng khai thác thực hiện các thị trờng.
cao hơn, sẽ xuất khẩu nhiều hơn.
+ Biện pháp marketing: biện pháp này nâng cao thế lực của doanh nghiệp trớc
các đối thủ cạnh tranh, marketing giúp các doanh nghiệp quảng cáo các sản phẩm
của mình cho nhiều ngời biết, biện pháp marketing giúp cho doanh nghiệp nâng cao
uy tín của mình quảng cáo, xúc tiến bán hàng giới thiệu cho ngời tiêu dùng biết chất
lợng, giá cả của sản phẩm mình.
+ Các dịch vụ đi kèm: Doanh nghiệp muốn tiêu thụ đợc nhiều sản phẩm thì
dịch vụ bán hàng phải phát triển những dịch vụ này giúp tạo tâm lý tích cực cho ng-
ời mua, khi mua và tiêu dùng hàng hoá và sau nữa cũng thể hiện trách nhiệm xã hội
và đạo đức trong kinh doanh của doanh nghiệp. Đây cũng là một vũ khí trong cạnh
tranh lành mạnh và hữu hiệu.
2.1.2. Trình độ quản lý của doanh nghiệp.
+ Ban lãnh đạo doanh nghiệp: là bộ phận đầu não của doanh nghiệp là nơi
xây dựng những chiến lợc kinh doanh cho doanh nghiệp đề ra mục tiêu đồng thời
giám sát, kiểm tra việc thực hiện các kế hoạch đã đề ra. Trình độ quản lý kinh doanh
của ban lãnh đạo có ảnh hởng trực tiếp tới hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp.
Một chiến lợc doanh nghiệp đúng đắn phù hợp với tình hình thực tế của thị trờng và
của doanh nghiệp và chỉ đạo điều hành giỏi của các cán bộ doanh nghiệp sẽ là cơ sở
để doanh nghiệp thực hiện có hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
+ Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp
Cơ cấu tổ chức đúng đắn sẽ phát huy đợc trí tuệ của tất cả các thành viên
trong doanh nghiệp phát huy tinh thần đoàn kết và sức mạnh tập thể, đồng thời vẫn
đảm bảo cho việc ra quyết định sản xuất kinh doanh đợc nhanh chóng và chính xác.
Cơ cấu tổ chức hợp lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong việc phối hợp giải quyết
những vấn đề nảy sinh đối phó đợc với những biến đổi của môi trờng kinh doanh và
nắm bắt kịp thời các cơ hội một cách nhanh nhất hiệu quả nhất.
+ Đội ngũ cán bộ quản trị kinh doanh xuất khẩu: Đóng vai trò quyết định đến
sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp trên thơng trờng.
Hoạt động xuất khẩu chỉ có thể tiến hành khi có sự nghiên cứu tỷ mỷ về thị trờng
hàng hoá, dịch vụ, về các đối tác các đối thủ cạnh tranh, về phơng thức giao dịch,
pháp luật của mỗi nớc phụ thuộc rất lớn vào trình độ phát triển kinh tế của từng nớc.
Các yếu tố pháp luật chi phối mạnh mẽ đến mọi hoạt động của nên kinh tế và xã hội
đang phát triển trong nớc đó. Nó quy định phạm vi nội dung và mức độ hoạt động
của tất cả các doanh nghiệp không chỉ trong một quốc gia mà cả trên thị trờng quốc
tế. Vì vậy doanh nghiệp xuất khẩu phải hiểu rõ môi trờng pháp luật của quốc gia
mình và các quốc gia mà doanh nghiệp tham gia xuất khẩu hàng hoá sang hoặc dự
định xuất khẩu sang. Hoạt động xuất khẩu chịu ảnh hởng mạnh mẽ các mặt sau:
+ Các quy định về thuế, chủng loại, khối lợng, quy cách
+ Quy định về hợp đồng, giao dịch bảo vệ quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ.
+ Các quy định về quy chế sử dụng lao động, tiền lơng tiền thởng, bảo hiểm
phúc lợi.
+ Quy định về cạnh tranh độc quyền.
+ Quy định về tự do mậu dịch hay xây dựng nên các hàng rào thếu quan chặt
chẽ.
Nh vậy: một mặt các yếu tố pháp luật có thể tạo điều kiện thuận lợi các doanh
nghiệp trong hoạt động xuất khẩu bằng những chính sách u đãi, hỗ trợ nhng mặt
khác nó cũng ra hàng rào cản trở sự hoạt động của doanh nghiệp xuất khẩu khi buôn
bán ra nớc ngoài hay căn cứ khi doanh nghiệp thâm nhập vào thị trờng nội địa, gây
khó khăn cho doanh nghiệp tận dụng cơ hội mở rộng hoạt động kinh doanh.
2.2.3. Các yếu tố về văn hoá xã hội.
Các yếu tố về văn hoá xã hội tạo nên các loại hình khác nhau của nhu cầu thị
trờng, là nền tảng cho sự xuất hiện thị yếu tiêu dùng, sự yêu thích trong tiêu dùng
sản phẩm cũng nh sự tăng trởng của các đoạn thị trờng mới. Đồng thời các xu hớng
vận động của các yếu tố văn hoá xã hội cũng thờng xuyên phản ánh những tác động
do những điều kiện về kinh tế và khoa học công nghệ mang lại.
Các doanh nghiệp xuất khẩu chỉ có thể thành công trên thị trờng quốc tế khi
có những hiểu biết nhất định về môi trờng văn hoá của các quốc gia, khu vực thị tr-
ờng mà mình dự định đa hàng hoá vào để đa ra các quyết định phù hợp với nền văn
hoá xã hội ở khu vực thị trờng đó.
2.2.4. Các yếu tố kinh tế.
ngày càng làm cho các doanh nghiệp đạt đợc trình độ công nghiệp hoá cao, quy mô
tăng lên, tiết kiệm đợc chi phí sản xuất, hạ giá thành, chất lơng sản phẩm đợc đồng
bộ và đợc nâng cao lên rất nhiều. Sự phát triển của khoa học công nghệ đẩy mạnh sự
phân công và hợp tác lao động quốc tế, mở rộng quan hệ giữa các khối quốc gia tạo
điều kiện cho hoạt đông xuất khẩu
2.2.6. Nhân tố chính trị.
Thơng mại quốc tế có liên quan rất nhiều quốc gia trên toàn thế giới, do vậy
tình hình chính trị xã hội của mỗi quốc gia hay của khu vực đều có ảnh hởng đến
tình hình kinh doanh xuất khẩu của các doanh nghiệp. Chính vì thế ngới làm kinh
doanh xuất khẩu phải nắm rõ tình hình chính trị xã hội của các nớc liên quan bởi vì
tình hình chính trị xã hội sẽ ảnh hởng tới hoạt đông kinh doanh xuất khẩu qua các