KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA CON LAI GIỮA VỊT SM VÀ VỊT ĐỐM
Nguyễn Đức Trọng, Nguyễn Văn Duy,
1
Hoàng Văn Tiệu, Vương Thị Lan Anh,
Đặng Thị Vui, Phạm Văn Chung, Nguyễn Thị Thúy Nghĩa,
Đồng Thị Quyên
Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại Xuyên;
1
Viện Chăn Nuôi
Tóm tắt
Vịt SM (T) được nhập vào Việt Nam từ hang Chery Valley của Vương quốc Anh, vịt Đốm (P) là giống vịt
nội của Việt Nam có nguồn gốc ở Lạng Sơn, khi lai xuôi và ngược thu được con lai TP và PT.
Con lai nuôi sinh sản có tuổi đẻ 159 - 161 ngày tuổi, con lai có ưu thế lai về năng suất trứng đến 42 tuần đẻ
là 23,8% và 22,9% tương ứng ở cặp lai TP và PT, đến 52 tuần đẻ ưu thế lai về khối lượng trứng của vịt lai TP và PT
là 17,7% và 16,9%.
Con lai nuôi thương phẩm có tỷ lệ nuôi sống đạt cao 95,0 - 100,0% con lai thể hiện ưu thế lai về sức sống,
con lai có ưu thế lai dương về khối lượng cơ thể so với vịt SM và vịt Đốm, con lai nuôi ngoài sản xuất có khả năng
sản xuất tốt. Vịt lai có khả năng thích nghi và sản xuất tốt trong điều kiện chăn nuôi và khí hậu của nước ta.
1. Đặt vấn đề
Trong những năm qua công tác giống thủy cầm đã đạt được nhiều tiến bộ, công tác chọn
lọc dòng giống mới, đặc biệt là công tác lai tạo giữa các giống, các dòng với nhau để tận dụng ưu
thế lai của con lai nhằm mang lại hiệu quả sản xuất cao nhất.
Giống vịt siêu thịt SM đã được phát triển ở nước ta từ những năm 90 của thế kỷ trước nó
đã mở ra niềm năng phát triển cho ngành chăn nuôi thủy cầm của nước ta với năng suất và khả
năng sản xuất trứng cao, theo Hoàng Thị Lan và cs (2007) cho biết: vịt SM thế hệ thứ 5 có tỷ lệ
nuôi sống ở dòng trống và dòng mái đều cao (98,1 và 98,7%), khối lượng cơ thể của vịt khi vào
đẻ ở dòng trống 2938g, dòng mái đạt 2558g, năng suất trứng dòng trống là 174,83 quả/mái/40
tuần đẻ và dòng mái năng suất trứng là 183,5 quả/mái/40 tuần đẻ.
Vịt Đốm (con Pất Lài) là một giống vịt nội có nguồn gốc ở Lạng Sơn, vịt có sức chống
- Giai đoạn vịt con:
+ Vịt lai SM x Đốm (TP): 84 con 1 ngày tuổi (60 mái + 24 đực)
+ Vịt lai Đốm x SM (PT): 84 con 1 ngày tuổi (60 mái + 24 đực)
+ Vịt SM: 84 con 1 ngày tuổi (60 mái + 24 đực)
+ Vịt Đốm: 84 con 1 ngày tuổi (60 mái + 24 đực)
- Giai đoạn vịt hậu bị:
+ Vịt lai SM x Đốm (TP): 62 con (50 mái + 12 đực)
+ Vịt lai Đốm x SM (PT): 62 con (50 mái + 12 đực)
+ Vịt SM: 62 con (50 mái + 12 đực)
+ Vịt Đốm: 62 con (50 mái + 12 đực)
- Giai đoạn vịt sinh sản:
+ Vịt lai SM x Đốm (TP): 54 con (45 mái + 9 đực)
+ Vịt lai Đốm x SM (PT): 54 con (45 mái + 9 đực)
+ Vịt SM: 54 con (45 mái + 9 đực)
+ Vịt Đốm: 54 con (45 mái + 9 đực)
* Thí nghiệm theo dõi khả năng cho thịt của vịt nuôi vỗ béo
+ Vịt lai SM x Đốm (TP): 40 con 1 ngày tuổi (20 mái + 20 đực)
+ Vịt lai Đốm x SM (PT): 40 con 1 ngày tuổi (20 mái + 20 đực)
+ Vịt SM: 40 con 1 ngày tuổi (20 mái + 20 đực)
+ Vịt Đốm: 40 con 1 ngày tuổi (20 mái + 20 đực) 2.3.2. Phương pháp chăm sóc, nuôi dưỡng
Vịt thí nghiệm được nuôi theo quy trình chăn nuôi, thú y của Trung tâm Nghiên cứu Vịt
Đại Xuyên. Vịt nuôi sinh sản được cho ăn hạn chế từ 1 ngày tuổi đến khi vào đẻ cho ăn tự do, vịt
nuôi thương phẩm cho ăn tự do từ 1 ngày tuổi đến 10 tuần tuổi.
2.3.3. Các chỉ tiêu theo dõi
ỷ lệ nuôi sống, khối lượng cơ thể ở các tuần tuổi, tuổi đẻ, khối lượng vào đẻ, tỷ lệ đẻ,
năng suất trứng/mái/42 tuần đẻ và năng suất trứng/mái/năm, tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng, Ưu
thế lai về năng suất trứng, một số chỉ tiêu chất lượng trứng, Ưu thế lai về khối lượng cơ thể khi
(%)
0
84
-
84
-
84
-
84
-
1 - 2
83
98,8
84
100,0
84
100,0
82
97,6
3 - 4
83
100,0
84
100,0
83
98,8
82
100,0
5 - 6
83
60
96,8
61
98,8
13 - 14
61
98,8
62
100,0
60
100,0
61
100,0
15 - 16
61
100,0
62
100,0
60
100,0
61
100,0
17 - 18
61
100,0
62
100,0
60
100,0
61
TB 0 - 24
97,6
96,4
95,2
95,2 Biểu đồ 1. Biểu diễn tỷ lệ nuôi sống giai đoạn 0 - 24 tuần tuổi (%)
Qua kết quả bảng 1 cho thấy vịt lai có sức sống cao hơn so với vịt thuần, tỷ lệ nuôi sống
của giai đoạn vịt con và giai đoạn vịt hậu bị của con lai là 97,6% ở vịt TP và 96,4% ở vịt PT,
trong khi đó tỷ lệ nuôi sống của vịt Đốm và SM là 95,2%. Theo Phạm Văn Trượng (1995) cho
biết con lai thường có ưu thế lai so với bố mẹ của chúng về tỷ lệ nuôi sống.
Kết quả nghiên cứu trên con lai giữa vịt Cỏ và vịt CV 2000 cho thấy tỷ lệ nuôi sống đạt
98,5% và tỷ lệ nuôi sống này cao hơn so với cả bố và mẹ lai (Doãn Văn Xuân và Nguyễn Đức
Trọng, 2005). Theo Ngô Văn Vĩnh và cs (2009) cho biết con lai giữa ngan R71 và vịt M14, M15
có tỷ lệ nuôi sống đạt cao 95,0 - 100%. Như vậy qua đây có thể thấy con lai giữa các giống khác
cho thể hiện ưu thế lai rõ rệt về tỷ lệ nuôi sống.
Kết quả bảng 1 còn cho thấy vịt chết chủ yếu ở giai đoạn 1 - 4 tuần tuổi điều này là do
khả năng thích nghi của vịt với điều kiện môi trường thay đổi môi trường từ máy ấp nở ra ngoài
chưa ổn định.
3.1.2. Khối lượng cơ thể của vịt lai ở các tuần tuổi
Vịt thí nghiệm được cho ăn hạn chế theo tiêu chuẩn giống từ 1 ngày tuổi, mỗi tuần được
cân một lần vào sáng sớm trước khi cho ăn, khối lượng cơ thể được thể hiện ở bảng 2 và đồ thị 1.
Bảng 2. Khối lượng cơ thể của vịt lai ở các tuần tuổi
Tuần
tuổi
139,8
c
2,0
172,1
b
2,1
110,0
b
2,2
186,7
a
2,9
4
1029,4
a
13,3
1008,1
a
8,6
583,5
b
6,5
1011,6
a
7,2
8
2023,5
a
22,2
1875,6
1720,0
d
12,8
2600,0
a
16,0
20
2648,4
b
63,2
2587,7
b
25,3
1787,5
c
13,9
2949,2
a
15,6
24
2864,5
b
31,4
2785,2
b
26,6
1809,2
c
15,2
3012,3
2798,4
2703,7
1789,2
3012,3
Tỷ lệ đẻ
%
68,3
67,8
48,4
67,7
Năng suất trứng/42 tuần đẻ
quả
220,3
218,7
142,3
213,5
Năng suất trứng/52 tuần đẻ
quả
248,6
246,9
176,2
246,3
TTTA/10 trứng/42 tuần đẻ
g
3,41
3,45
3,77
3,91
TTTA/10 trứng/52 tuần đẻ
g
ứng là 220,3 quả/mái/42 tuần đẻ và 248,6 quả/mái/52 tuần đẻ; thấp nhất là tỷ lệ đẻ của vịt Đốm
48,4% năng suất trứng đạt được ở 42 tuần đẻ là 142,3 quả/mái và ở 52 tuần đẻ năng suất trứng
của vịt Đốm là 176,2 quả/mái.
Khi tính toán ưu thế lai về năng suất trứng của vịt lai ở 42 tuần đẻ ưu thế lai của vịt TP là
23,8% và vịt PT là 22,9%; ưu thế lai về năng suất trứng ở 52 tuần đẻ của vịt TP là 17,% và vịt
PT là 16,9%.
3.1.4. Một số chỉ tiêu chất lượng trứng của vịt lai
Để đánh giá chất lượng trứng của vịt lai, trứng được khảo sát vào tuần đẻ thứ 10 khi vịt
đẻ đạt đỉnh cao. Kết quả thế hiện ở bảng 4.
Bảng 4. Một số chỉ tiêu chất lượng trứng của vịt lai
Chỉ tiêu
ĐVT
TP
PT
Vịt Đốm
Vịt SM
Mean
SE
Mean
SE
Mean
SE
Mean
SE
P
g
84,83
0,94
83,99
0,96
36,25
-
31,47
-
TL l trắng
%
53,23
-
52,92
-
49,64
-
57,42
-
TL vỏ
%
12,63
-
12,97
-
14,11
-
11,11
-
Độ dày vỏ
cm
0,375
0,006
0,372
0,005
quả
6000
6000
3500
6000
Số lượng trứng có phôi
quả
5660
5629
3212
5614
Tỷ lệ phôi
%
94,33
93,82
91,77
93,57
Số trứng nở thành vịt con
quả
4792
4717
2736
4744
Tỷ lệ nở/trứng vào ấp
%
79,87
78,62
78,17
79,06
Tỷ lệ nở/trứng có phôi
(%)
n
TLNS
(%)
0
40
-
40
-
40
-
40
-
1
40
100,0
40
100,0
40
100,0
39
97,5
2
40
100,0
40
100,0
39
97,5
39
100,0
39
100,0
38
97,4
38
97,4
7
40
100,0
38
97,4
38
100,0
38
100,0
8
38
100,0
36
100,0
36
100,0
36
100,0
9
36
100,0
34
100,0
Phùng Đức Tiến và cs (2009) con lai giữa vịt SM với vịt M3 và Super Heavy có tỷ lệ nuôi sống
đạt từ 96,00 - 98,00% và có ưu thế lai về tỷ lệ nuôi sống từ 0,71 - 1,03%.
3.1.7. Khối lượng cơ thể ở các tuần tuổi
Hàng tuần vịt lai được cân cố định vào một ngày trong tuần và sáng sớm, kết quả khối
lượng cơ thể được thể hiện ở bảng 7 và đồ thị 2.
Qua bảng 7 cho thấy khối lượng cơ thể của vịt lai nuôi thương phẩm nằm trong khoảng
khối lượng của vịt SM và vịt Đốm, khối lượng cơ thể của vịt SM ở 7 tuần tuổi đạt 2928,4g; tiếp
đến là khối lượng của vịt PT đạt 226,5g; vịt TP khối lượng cơ thể 7 tuần tuổi là 2258,9g và thấp
nhất ở vịt Đốm 1420,6g.
Bảng 7. Khối lượng cơ thể của vịt lai ở các tuần tuổi (g/con)
Tuần
tuổi
TP (n = 40)
PT (n = 40)
Đốm (n = 40)
SM (n = 40)
Mean
SE
Mean
Mean
SE
Mean
Mean
SE
Mean
Mean
SE
Mean
1nt
39,7
7,1
277,9
d
6,7
404,6
a
5,5
3
619,8
b
11,4
623,6
b
21,5
453,7
c
10,1
780,1
a
9,5
4
1062,6
b
12,2
1054,7
b
15,9
726,7
c
11,6
2258,9
b
30,3
2266,5
b
39,7
1420,6
c
16,1
2928,4
a
38,6
8
2463,7
b
31,6
2430,6
b
44,2
1617,2
c
18,3
3175,9
a
44,9
9
2630,7
b
36,1
2593,2
Đồ thị 2. Biểu diễn khối lượng vịt lai nuôi thương phẩm ở các tuần tuổi (g/con)
3.1.8. Ưu thế lai về khối lượng cơ thể của vịt nuôi thương phẩm
Kết quả ưu thế lai về khối lượng cơ thể của vịt lai nuôi thương phẩm so với vịt thuần thể
hiện ở bảng 8.
Vịt TP ở tuần tuổi 1 và 2 có ưu thế lai âm về khối lượng cơ thể từ -1,4 đến -11,7%. Ưu
thế lai so với trung bình khối lượng của bố mẹ lai cao nhất ở tuần tuổi thứ 6 đạt 5,3%. Qua kết
quả ưu thế lai trên cũng khẳng định hơn về con lai TP có sức sản xuất cao hơn so với con lai PT.
Bảng 8. Ưu thế lai về khối lượng cơ thể của vịt nuôi thương phẩm
Tuần tuổi
P vịt Đốm
(g)
P vịt SM
(g)
Vịt lai TP
Vịt lai PT
P (g)
H (%)
P (g)
H (%)
1
113,2
171,3
125,6
-11,7
142,3
0,0
2
277,9
404,6
1941,1
2,9
7
1420,6
2928,4
2258,9
5,1
2266,5
4,2
8
1617,2
3175,9
2463,7
2,8
2430,6
1,4
9
1717,3
3329,4
2630,7
4,3
2593,2
2,8
10
1776,9
3487,5
2749,4
4,5
2690,9
2,2
1433,0
2929,5
TL thịt xẻ
%
64,5
64,1
56,3
70,2
TL thịt lườn
%
13,3
12,8
10,9
15,2
TL thịt đùi
%
14,7
14,9
13,5
14,2
ĐD lông cánh
cm
10,1
10,9
9,5
14,7
TTTA/kg P
kg
2,23
2,26
11,7
15,9
TL thịt đùi
%
13,5
13,7
15,1
12,5
ĐD lông cánh
cm
12,5
13,0
11,8
17,4
TTTA/kg P
kg
2,46
2,48
2,50
2,58
9 tuần tuổi n
con
2
2
14,6
19,3
TTTA/kg P
kg
2,73
2,75
2,79
2,70
10 tuần tuổi n
con
2
2
2
2
P sống
g
2771,5
2703,5
1790,0
3583,5
TL thịt xẻ
%
71,2
70,9
đạt 15,2% như vậy đối với vịt SM có thể giết thịt tại 7 tuần tuổi như kết quả nghiên cứu trên vịt
SM2 có tuổi giết thịt ở 7 tuần tuổi là thích hợp (Nguyễn Đức Trọng và cs, 2005). Vịt Đốm tỷ lệ
thịt xẻ thấp đến 10 tuần tuổi mới có 65,9% và tiêu tốn thức ăn là 2,9kg/kg khối lượng, đối với
con lai TP và PT tỷ lệ thịt xẻ của con lai TP đạt 69,5% ở 9 tuần tuổi cao hơn con lai PT 68,7% và
tiêu tốn thức ăn đến tuần tuổi này là 2,73 và 2,75kg/kg khối lượng. Tỷ lệ thịt xẻ ở 10 tuần tuổi
của vịt lai TP là 71,2% và vịt lai PT đạt 70,9% , tiêu tốn thức ăn là 2,86 và 2,87 tương ứng ở vịt
TP và PT.
3.2. Khả năng sản xuất của con lai nuôi ngoài sản xuất
Con lai ngoài sản xuất được nuôi tại 3 tỉnh Hà Giang, Quảng Bình và Lạng Sơn, nuôi
theo dõi sinh sản và khả năng cho thịt, kết quả được trình bày tại bảng 10.
Bảng 10. Khả năng sản xuất của con lai nuôi ngoài sản xuất
Chỉ tiêu
ĐVT
Hà Giang
Quảng Bình
Lạng Sơn
Vịt lai nuôi sinh sản
Tỷ lệ nuôi sống đến 24 tuần tuổi
%
95,00
93,33
98,33
Tuổi đẻ
ngày
160
155
96,59
P cơ thể 70 ngày
g/con
2579,6
2600,1
2587,4
TTTA/kg P
kg
2,89
2,85
2,92
Kết quả bảng 10 cho thấy vịt lai nuôi sinh sản tại 3 tỉnh có tỷ lệ nuôi sống đạt cao 93,33 -
98,33%, kết quả tỷ lệ nuôi sống cũng đạt tương đương so với vịt lai nuôi thí nghiệm tại Trung
tâm Nghiên cứu Vịt Đại Xuyên, tuổi đẻ của vịt nuôi tại Quảng Bình có sớm hơn 155 ngày điều
này là do tại Quảng Bình thời tiết nắng nhiều hơn nên vịt phát dục sớm hơn, tuổi đẻ của vịt
nuooit ại Hà Giang và Lạng Sơn là 160 ngày và 159 ngày. Năng suất trứng đạt được của vịt lai là
240,71 - 244,76 quả/mái/52 tuần đẻ và tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng là 3,92 - 3,96 kg.
Đối với vịt nuôi thương phẩm, tỷ lệ nuôi sống cũng đạt cao 96,59 - 99,71% điều này cũng
thể hiện rõ con lai có sức sống tốt với điều kiện Việt Nam, khối lượng cơ thể ở 70 ngày tuổi đạt
2579,6 - 2600,1g/con với tiêu tốn thức ăn/kg khối lượng là 2,85 - 2,92kg. Qua kết quả này cho
thấy vịt lai nuôi ngoài sản xuất cho kết quả tốt, phù hợp với điều kiện chăn nuôi của nước ta.
4. Kết luận và đề nghị
4.1. Kết luận 4.1.1. Đối với vịt lai nuôi sinh sản
Vịt thí nghiệm có tỷ lệ nuôi sống giai đoạn vịt con và hậu bị đạt cao. Tuổi đẻ của vịt lai
TP (159 ngày) sớm hơn so với vịt PT và vịt SM, năng suất trứng của vịt lai có ưu thế lai dương,
ưu thế lai về năng suất trứng của vịt TP ở 42 tuần đẻ đạt 23,8% và vịt PT là 22,9%; tính đến 52
Xuyên. Tuyển tập các công trình nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi vịt - ngan (1980 -
2005). Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr 15 - 22.
7. Phạm Văn Trượng (1995). Nghiên cứu Khả năng sản xuất của các tổ hợp lai giữa vịt CV Super M với vịt
Anh Đào Hung, Anh Đào Tiệp nhập nội. Luận án Phó tiến sỹ Khoa học Nông nghiệp, Viện Khoa học
Nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội. 8. Doãn Văn Xuân, Nguyễn Đức Trọng (2005). Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và sinh sản của các cặp lai
giữa vịt Cỏ và vịt CV. 2000 Layer. Tóm tắt BC Khoa học Viện Chăn nuôi năm 2004, Hà Nội, tr 95 - 99.
9. Ngô Văn Vĩnh, Nguyễn Đức Trọng, Hoàng Văn Tiệu, Nguyễn Văn Duy, Đặng Thị Vui và Nguyễn Thị Thúy
Nghĩa. Xác định cặp lai thích hợp giữa ngan và vịt chuyên thịt trong sản xuất con lai. Báo cáo Khoa học
Viện Chăn nuôi năm 2008, Phần Di truyền giống Vật nuôi, Hà Nội, tr 187 - 194.