THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
CHĐ3K22 – NHÓM 5 Trang 1 Tiểu luận
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG
VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
CHĐ3K22 – NHÓM 5 Trang 2
I. Lý thuyết
1. Chính sách ngoại thương
1.1. Chính sách ngoại thương là gì?
Chính sách ngoại thương là chính sách của nhà nước bao gồm một hệ thống nguyên
tắc và biện pháp thích hợp được áp dụng để điều chỉnh hoạt động ngoại thương phù hợp với
lợi ích chung của Nhà nước trong từng giai đoạn. Chính sách ngoại thương là một hệ thống
chính sách của Nhà nước nó phục vụ đắc lực cho đường lối phát triển kinh tế trong mỗi thời
kỳ. Nó ảnh hưởng tới quá trình tái sản xuất xã hội và sự tham gia của nền kinh tế quốc dân
vào quá trình phân công lao động quốc tế.
1.2. Vai trò của chính sách ngoại thương trong nền kinh tế
Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước thâm nhập và mở rộng thị
trường ra nước ngoài, khai thác triệt để lợi thế so sánh của nền kinh tế trong nước.
Bảo vệ thị trường nội địa, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước đứng vững và
vươn lên trong hoạt động kinh doanh.
Chính sách ngoại thương là một bộ phận trong chính sách đối ngoại của một quốc gia.
1.3. Một số công cụ thực thi chính sách ngoại thương
1.3.1. Thuế quan
Hạn ngạch nhập khẩu thường được quy định cho một loại sản phẩm đặc biệt hay sản
phẩm và thị trường đặc biệt. Ở Việt Nam hiện nay hạn ngạch nhập khẩu chỉ áp dụng đối với
4 loại hàng: ô tô 12 chỗ ngồi, xe 2 bánh gắn máy, linh kiện điện tử LKD, SKD, nguyên liệu
phụ liệu sản xuất thuốc lá. Để quản lý nhập khẩu các nước cũng áp dụng hạn ngạch xuất
khẩu. Hạn ngạch xuất khẩu được quy định theo mặt hàng, theo nước và theo thời gian nhất
định.
1.3.2.2. Trợ cấp xuất khẩu
Trợ cấp xuất khẩu được sử dụng để hỗ trợ cho hoạt động xuất khẩu hàng hoá từ trong
nước ra nước ngoài đặc biệt là đối với hàng hoá mới tham gia xuất khẩu. Trợ cấp xuất khẩu
có thể được thực hiện bằng cách Nhà nước cấp vốn trực tiếp cho các doanh nghiệp thông
qua chính sách đầu tư, thực hiện cho vay ưu đãi thông qua chính sách tín dụng hoặc bằng
cách trợ giá.
1.3.2.3. Hạn chế xuất khẩu tự nguyện
Là một biện pháp hạn chế xuất khẩu mà một quốc gia nhập khẩu đòi hỏi quốc gia xuất
khẩu phải hạn chế bớt hàng xuất khẩu sang nước mình một cách tự nguyện, nếu không họ sẽ
áp dụng các biện pháp trả đũa kiên quyết.
Áp dụng cho các quốc gia có khối lượng xuất khẩu quá lớn ở một mặt hàng nào đó.
1.3.2.4. Các biện pháp hành chính, kỹ thuật hạn chế xuất khẩu
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
CHĐ3K22 – NHÓM 5 Trang 4
Là những tiêu chuẩn về vệ sinh, đo lường, an toàn lao động, bao bì đóng gói, đặc biệt
là tiêu chuẩn về vệ sinh thực phẩm, vệ sinh phòng dịch, tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường
sinh thái
Những quy định này có tác dụng bảo hộ đối với thị trường trong nước, hạn chế dòng vận
động của dòng hàng hóa trên thị trường thế giới.
Những nước phát triển sẽ có lợi hơn so với các nước chậm phát triển trong việc áp
dụng những quy định này.
1.3.2.5. Tín dụng xuất khẩu
Là hình thức khuyến khích xuất khẩu bằng cách nhà nước lập các quỹ tín dụng xuất
Cán cân thương mại của một quốc gia phản ánh khối lượng xuất nhập khẩu về hàng
hóa và dịch vụ của một quốc gia với các nước khác. Về mặt kinh tế, cán cân thương mại thể
hiện mối quan hệ tương quan giữa việc tăng hay giảm lượng giá trị của một nền kinh tế
nghĩa là nó phản ánh lượng tiền tăng lên hoặc giảm đi của một quốc gia trong một thời gian
nhất định.
Trạng thái của cán cân thương mại thường rơi vào 3 trạng thái. Trạng thái của cán cân
thương mại được dựa vào sự chênh lệch của giá trị giao dịch xuất khẩu và nhập khẩu.
+ Khi mức chênh lệch là lớn hơn không, thì cán cân thương mại có thặng dư.
+ Khi mức chênh lệch nhỏ hơn không, thì cán cân thương mại có thâm hụt.
+ Khi mức chênh lệch đúng bằng không, cán cân thương mại ở trạng thái cân bằng.
2.3. Các nhân tố tác động đến cán cân thương mại
2.3.1. Nhập khẩu
Có xu hướng tăng khi GDP tăng và thậm chí nó còn tăng nhanh hơn. Sự gia tăng của
nhập khẩu khi GDP tăng phụ thuộc xu hướng nhập khẩu biên (Marginal propensity to
import - MPI). MPI là phần của GDP có thêm mà người dân muốn chi cho nhập khẩu. Ví
dụ, MPI bằng 0,2 nghĩa là cứ 1 đồng GDP có thêm thì người dân có xu hướng dùng 0,2
đồng cho nhập khẩu. Ngoài ra, nhập khẩu phụ thuộc giá cả tương đối giữa hàng hóa sản
xuất trong nước và hàng hóa sản xuất tại nước ngoài. Nếu giá cả trong nước tăng tương đối
so với giá thị trường quốc tế thì nhập khẩu sẽ tăng lên và ngược lại.
2.3.2. Xuất khẩu
Chủ yếu phụ thuộc vào những gì đang diễn biến tại các quốc gia khác vì xuất khẩu của
nước này chính là nhập khẩu của nước khác. Do vậy nó chủ yếu phụ thuộc vào sản lượng và
thu nhập của các quốc gia bạn hàng. Chính vì thế trong các mô hình kinh tế người ta thường
coi xuất khẩu là yếu tố tự định.
2.3.3. Tỷ giá hối đoái
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
CHĐ3K22 – NHÓM 5 Trang 6
Là nhân tố rất quan trọng đối với các quốc gia vì nó ảnh hưởng đến giá tương đối giữa
hàng hóa sản xuất trong nước với hàng hóa trên thị trường quốc tế. Khi tỷ giá của đồng tiền
của một quốc gia tăng lên thì giá cả của hàng hóa nhập khẩu sẽ trở nên rẻ hơn trong khi giá
CHĐ3K22 – NHÓM 5 Trang 7
+ Các chính sách của chính phủ đối với thương mại.
+ Thu nhập của người tiêu dùng trong nước và người tiêu dùng nước ngoài.
+ Các chu kỳ kinh tế của quốc gia và thế giới.
2.4. Tác động của cán cân thương mại đến nền kinh tế
Đối với một nền kinh tế mở, cán cân thương mại có hai tác động quan trọng:
- Xuất khẩu ròng bổ sung vào tổng cầu (AD) của nền kinh tế.
- Số nhân đầu tư tư nhân và số nhân chi tiêu chính phủ.
2.4.1 Xuất khẩu ròng và GDP cân bằng
Bảng dưới đây trình bày một nền kinh tế với các bộ phận cấu thành ban đầu như một
nền kinh tế đóng, sau đó bổ sung xuất khẩu, nhập khẩu cho nền kinh tế mở.
- Cột 1 là mức GDP ban đầu trong nền kinh tế đóng.
- Cột 2 là cầu trong nước bao gồm tổng tiêu dùng (C), đầu tư (I) và mua hàng hóa, dịch
vụ của chính phủ (G).
- Cột 3 là xuất khẩu và vì xuất khẩu phụ thuộc tình hình kinh tế của các nước bạn hàng
nên giả định nó không thay đổi.
- Cột 4 là nhập khẩu, nhập khẩu chủ yếu phụ thuộc GDP nên giả định nó luôn bằng 10%
GDP.
- Giá trị xuất khẩu ròng tại cột 5 bằng xuất khẩu trừ đi nhập khẩu, nó mang giá trị dương
nếu xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu và ngược lại, sẽ mang giá trị âm.
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
CHĐ3K22 – NHÓM 5 Trang 8
- Sau khi cộng giá trị đóng góp của xuất khẩu ròng vào cầu nội địa để tạo thành tổng chi
tiêu và chính là tổng cầu ta được giá trị ghi tại cột 6.
Hình vẽ sau minh họa cho ví dụ với các thông số trong bảng trên. Trong đó các kí hiệu:
- C (consumption) là tiêu dùng của tất cả các cá nhân (hộ gia đình) trong nền kinh tế.
- I (gross investment) là đầu tư của các nhà kinh doanh vào cơ sở kinh doanh. Đây được
coi là tiêu dùng của các nhà đầu tư. Lưu ý, đừng lẫn lộn điều này với đầu tư mang tính
đầu cơ tích trữ vào thị trường chứng khoán và trái phiếu.
nền kinh tế đặc biệt quan trọng. Từ ví dụ trên có thể dễ dàng suy ra nếu xu hướng nhập khẩu
biên là 0,75 thì số nhân là 1 nghĩa là hiệu ứng số nhân đã bị triệt tiêu hoàn toàn bởi rò rỉ qua
nhập khẩu.
II. Thực trạng và nguyên nhân tại Việt Nam
1. Thực trạng chính sách ngoại thương ở Việt Nam
1.1. Các biện pháp thuế quan
Nhìn chung chính sách thuế quan của các quốc gia trong điều kiện hiện nay đều có ảnh
hưởng nới lỏng sự hạn chế thương mại, từng bước giảm dần các mức thuế trên cơ sở các
hiệp định đa phương và song phương. Thương lượng trong việc xây dựng biểu thuế quan
được coi như là một đặc trưng cơ bản của chính sách thuế xuất nhập khẩu trong những thập
kỷ gần đây. Sự hình thành của các liên minh thuế quan đã có những ảnh hưởng nhất định
đến lượng hàng hóa được trao đổi giữa các nước trong liên minh và các nước ngoài liên
minh. Điều này dường như đã trở thành một xu hướng trong việc hoạch định chính sách
thuế quan hiện nay nhằm tự do hóa thương mại giữa các nước trong khu vực và bảo hộ thị
trường khu vực trước sự cạnh tranh của hàng hóa đến từ bên ngoài. Theo đó, Việt Nam cam
kết ràng buộc trong WTO như sau:
Một số mặt hàng đang có mức thuế cao từ trên 20% sẽ được cắt giảm thuế ngay sau khi
gia nhập. Những nhóm mặt hàng có cam kết cắt giảm thuế nhiều nhất gồm: Hàng dệt
may, cá và sản phẩm cá, gỗ và giấy, hàng chế tạo khác, máy móc thiết bị - điện tử.
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
CHĐ3K22 – NHÓM 5 Trang 10
Trong toàn bộ biểu cam kết, Việt Nam sẽ cắt giảm thuế với khoảng 3.800 dòng thuế
(chiếm 35,5% số dòng của biểu thuế); ràng buộc ở mức thuế hiện hành với khoảng
3.700 dòng (chiếm 34,5% số dòng của biểu thuế); ràng buộc theo mức thuế trần – cao
hơn mức thuế suất hiện hành với 3.170 dòng thuế (chiếm 30% số dòng của biểu thuế),
chủ yếu là đối với các nhóm hàng như: Xăng dầu, kim loại, hoá chất, một số phương
tiện vận tải…
Việt Nam cũng cam kết tham gia một số Hiệp định tự do hoá theo ngành. Những ngành
mà Việt Nam cam kết tham gia đầy đủ là sản phẩm công nghệ thông tin (ITA), dệt may
và thiết bị y tế. Những ngành mà Việt Nam tham gia một phần là các thiết bị máy bay,
mức bảo hộ nhất định.
Thuận lợi và hạn chế trong chính sách thuế xuất nhập khẩu VN hiện nay
Thuận lợi
Chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hiện hành đã có nhiều thay đổi căn bản và
hoàn thiện hơn nhiều so với trước đây. Cụ thể:
Biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu hiện hành được xây dựng trên cơ sơ danh mục điều hòa
(HS) 1996 của Hội đồng hợp tác hải quan thế giới, đã bước đầu tạo điều kiện thuận lợi
cho việc phân loại hàng hóa dựa trên cấu tạo, đặc điểm của hàng hóa góp phần làm cho
chính sách thuế xuất nhập khẩu dần dần phù hợp với thông lệ quốc tế.
Thuế suất thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cũng được thiết kế hợp lý hơn. Hiện nay đối
với phần lớn hàng xuất khẩu có thuế suất 0%, trừ một số mặt hàng như dầu thô, một số
loại quặng và song mây. Thuế nhập khẩu được quy định có 3 mức: thuế suất ưu đãi,
thuế suất thông thường và thuế suất ưu đãi đặc biệt để áp dụng trong những trường hợp
khác nhau tùy thuộc vào mức độ quan hệ thương mại giữa VN với các nước, tạo thuận
lợi trong đàm phán về thuế, phù hợp với các quy định quốc tế mà nước ta cam kết thực
hiện.
Mức thuế nhập khẩu tối đa có xu hướng giảm, nhà nước còn quy định bỏ áp dụng giá tối
thiểu đối với tất cả các mặt hàng nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài.
Công tác quản lý thực thi chính sách thuế xuất nhập khẩu được hoàn thiện hơn. Các thủ
tục hải quan tinh gọn, tạo điều kiện tốt cho hoạt động xuất nhập khẩu.
Hạn chế
Về thuế suất thuế nhập khẩu: thuế nhập khẩu hiện nay với chức năng bảo vệ sản xuất
trong nước nên thuế xuất thường xuyên được thay đổi cho phù hợp với những mặt hàng
trong nước đã sản xuất được, chính điều này cũng tạo ra những lệch lạc trong định hướng
đầu tư trong nước, đặc biệt là trong thu hút đầu tư nước ngoài.
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
CHĐ3K22 – NHÓM 5 Trang 12
Hệ thống chính sách thuế hiện nay vẫn còn phức tạp và thiếu tính ổn định, làm cho chi
phí quản lý thu thuế lớn, ảnh hưởng tới hiệu quả thu thuế, tạo điều kiện cho việc trốn thuế
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
CHĐ3K22 – NHÓM 5 Trang 13
đường mía khác có thuế suất thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch ở mức 80%. Đối với đường
loại khác, đã pha thêm hương liệu hoặc chất màu có thuế suất thuế nhập khẩu ngoài hạn
ngạch ở mức 100%
Các mặt hàng như trứng chim và trứng gia cầm nguyên vỏ, tươi, đã bảo quản, hoặc đã
làm chín có thuế suất nhập khẩu ngoài hạn ngạch là 80%.
1.2.1.2. Thép
Theo Tổng cục hải quan, trong 2 tháng đầu năm 2013, tổng lượng nhập khẩu sắt thép
là 1,3 triệu tấn, tăng 9,3% trị giá 941 triệu USD, nhập khẩu từ Nhật, Trung Quốc, Đài Loan
tăng so cùng kì năm 2012.
Đáng chú ý là những sản phẩm thép Trung Quốc đã lợi dụng chính sách thuế của VN
để cạnh tranh không lành mạnh. Lợi dụng quy định thép hợp kim được hưởng thuế suất 0%
nhiều nhà nhập khẩu đã phù phép thép xây dựng sang thép hợp kim, bàn thấp hơn 300-500
nghìn / tấn so với thép trong nước, ảnh hưởng đến tiêu thụ trong nước. Ví như thép cuộn ở
VN cơ cấu 20-25% nay tụt xuống 20% nghĩa là thép nước ngoài đã chiếm mất thị phần. Đã
có quy định nguyên tố Bo từ 0,0008% là thép hợp kim, nếu thay đổi phải thay cả quy định
này vì liên quan đến quy chuẩn thế giới. M ặt khác do chính sách quản lý hàng nhập khẩu
còn khá lỏng lẻo, chưa bảo vệ được hàng sản xuất trong nước. Do đó về chính sách, Nhà
nước cũng cần điều chỉnh lại, bản thân các doanh nghiệp cũng cần nổ lực đổi mới công
nghệ, tiết kiệm chi phí nhằm nâng cao hơn nữa khả năng cạnh tranh để có thể vượt qua giai
đoạn khó khăn hiện nay
1.2.2. Trợ cấp xuất khẩu
Việt Nam trợ cấp một số mặt hàng sau:
Gạo: Hỗ trợ lãi suất thu mua lúa gạo trong vụ thu hoạch, hỗ trợ lãi suất cho doanh
nghiệp xuất khẩu gạo, hỗ trợ lãi suất xuất khẩu gạo trả chậm, bù lỗ cho doanh nghiệp
xuất khẩu gạo, thưởng xuất khẩu.
Cà phê: Hoàn phụ thu, bù lỗ cho tạm trữ cà phê xuất khẩu, bù lỗ cho doanh nghiệp xuất
khẩu cà phê, hỗ trợ lãi suất tạm trữ, thưởng xuất khẩu.
Rau quả hộp: Hỗ trợ xuất khẩu cho dưa chuột, dứa hộp, thưởng xuất khẩu.
lĩnh vực hỗ trợ xuất khẩu, hiện VDB có khoảng 390 doanh nghiệp là những khách hàng
truyền thống và kim ngạch xuất khẩu hàng đầu trong cả nước. Tổng giải ngân là 76.000
tỷ, riêng 2009 VDB giải ngân 31.000 tỷ. Vốn tín dụng xuất khẩu VDB cho vay thương
xuyên chiếm đến 35-60% kim ngạch xuất khẩu mặt hàng thủy sản, 35-55% mặt hàng
tàu biển, 15-25% mặt hàng cà phê. Hiện có trên 60% DN XK thủy sản hàng đầu của
Việt Nam có quan hệ tín dụng với VDB.
Thưởng xuất khẩu: đã được áp dụng từ năm 1998, số tiền thưởng đều tăng qua mỗi
năm.
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
CHĐ3K22 – NHÓM 5 Trang 15 1.2.3. Các biện pháp hành chính kỹ thuật hạn chế nhập khẩu
Hiện nay các hệ thống rào cản kỹ thuật mà tiêu biểu là TBT (rào cản kỹ thuật) và SPS
(biện pháp kiểm dịch động thực vật) ở Việt Nam được bổ sung khá nhiều nhưng thực tế
chúng ta chưa sử dụng chúng như những hàng rào bảo hộ giống như các nước phát triển.
Tình trạng hàng hoá kém chất lượng vẫn tràn lan trên thị trường Việt Nam đã làm xôn xao
dư luận đặc biệt từ sau khi gia nhập WTO.
Các bộ tiêu chẩn TCVN được ban hành hầu như không còn phù hợp với xu thế phát
triển nhanh về công nghệ , về yêu cầu bảo vệ môi trường. Ví như trong ngành dệt có gần
200 tiêu chuẩn, thì có tới 72 tiêu chuẩn cần phải xem xét hoặc thay thế, 49 tiêu chuẩn cần
được xây dựng mới, tập trung vào các phương pháp xác định tồn dư kim loại và hoá chất có
tác động đến con người…
1.2.4. Giấy phép nhập khẩu
1999
1066,210
2000
15810,595
2001
19612,744
2002
22216,368
2003
đạt 28 tỷ USD, tăng 34,7%, chiếm 50,3%. Theo đánh giá của Tổng cục Thống kê, tuy kim
ngạch hàng hoá xuất khẩu năm 2008 tăng khá cao so với năm 2007 nhưng nếu loại trừ trị
giá tái xuất sắt, thép, vàng và yếu tố tăng giá của 8 mặt hàng chủ yếu (dầu thô, than đá, gạo,
cà phê, cao su, hạt tiêu, hạt điều, chè) thì kim ngạch hàng hoá xuất khẩu chỉ tăng 13,5%.
Về nhập khẩu:
Trong 5 tháng đầu năm, nhập siêu tăng mạnh, cao hơn gần 3,4 lần so với cùng kỳ năm
2007, lên tới 14,4 tỷ USD. Nhưng liên tiếp trong 7 tháng còn lại, nhập siêu được kiềm chế ở
mức thấp; một trong những nguyên nhân chính là do giá hàng nhập khẩu trên thị trường thế
giới giảm mạnh, đặc biệt là xăng dầu.
Tính chung cả năm 2008, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu ước tính 80,4 tỷ USD, tăng
28,3% so với năm 2007, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 51,8 tỷ USD, tăng 26,5%;
khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 28,6 tỷ USD, tăng 31,7%. Nếu loại trừ yếu tố tăng giá
của một số mặt hàng thì kim ngạch nhập khẩu năm nay chỉ tăng 21,4% so với năm 2007.
Năm2009, do những hậu quả còn tồn đọng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm
2008, nên cán cân thương mại Việt Nam vẫn nằm trong tình trạng thâm hụt cao. Tuy nhiên,
con số thâm hụt đã giảm hơn so với năm trước.
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
CHĐ3K22 – NHÓM 5 Trang 17
Về xuất khẩu:
Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá năm 2009 đạt khoảng 56,6 tỷ USD, giảm 9,7% so
với năm 2008 và bằng 87,6% kế hoạch (kế hoạch điều chỉnh tăng 3% của Quốc hội). Kim
ngạch của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 29,85 tỷ USD, chiếm
52,8% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, giảm 13,5% so với năm 2008; của khu vực doanh
nghiệp 100% vốn trong nước đạt 26,7 tỷ USD, chiếm 47,2%. giảm 5,1%, so với năm 2008.
Về nhập khẩu:
Kim ngạch nhập khẩu hàng hoá năm 2009 khoảng 68,8 tỷ USD, giảm 14,7% so với
năm 2008 (năm 2008 so với 2007 tăng 28,7%), trong đó khối doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài đạt 24,87 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 36,1% tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước,
giảm 10,8%; Kim ngạch nhập khẩu của khối doanh nghiệp 100% vốn trong nước đạt 43,96
Cán cân thương mại Việt Nam-Ấn Độ sắp cân bằng
Cũng theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, trong năm 2012 Việt Nam nhập
khẩu hàng hóa có xuất xứ từ Ấn Độ đạt 2,16 tỷ USD, trong khi xuất khẩu của Việt Nam
vào thị trường này đạt 1,78 tỷ USD.
Thâm hụt thương mại hàng hóa của Việt Nam từ thị trường này đã được giảm xuống
còn 378 triệu USD, chưa bằng một nửa mức thâm hụt thương mại của năm 2011. Với xu
hướng này, cán cân thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và Ấn Độ đang được kỳ vọng sẽ
cân bằng trong năm 2013.
Thâm hụt thương mại của Việt Nam từ Ấn Độ đã giảm xuống đáng kể trong những
năm gần đây là nhờ xuất khẩu tăng trưởng rất mạnh (năm 2010 và 2011 tăng lần lượt là
236%, 157%). Trong đó, hai mặt hàng chính xuất khẩu sang thị trường này tăng mạnh gồm:
điện thoại các loại và linh kiện; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện. Tổng kim ngạch
của hai nhóm hàng này chiếm lần lượt là 30% và 35% trong tổng trị giá hàng hóa của Việt
Nam xuất khẩu sang Ấn Độ trong năm 2011 và 2012.
Cùng chung xu hướng với tình hình nhập khẩu của cả nước, nhập khẩu hàng hóa từ Ấn
Độ giảm 7,9% trong năm 2012, đạt trị giá 2,16 tỷ USD. Trong đó, Ấn Độ dẫn đầu về xuất
khẩu ngô vào Việt Nam, đứng thứ 2 về xuất khẩu dược phẩm, nguyên phụ liệu dược phẩm
và đứng thứ 3 về xuất khẩu bông, nguyên phụ liệu dệt may.
Nhóm hàng thức ăn gia súc năm 2011 dẫn đầu về nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam
nhưng lại giảm mạnh trong năm 2012, chủ yếu do giảm nhập khẩu khô dầu đậu tương.
Ngược lại nhập khẩu ngô hạt từ thị trường này lại tăng mạnh và vươn lên dẫn đầu trong năm
2012.
Số liệu thống kê hải quan mới nhất cũng cho thấy, trong tháng đầu tiên của năm 2013,
tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam và Ấn Độ đạt gần 420 triệu USD, tăng
114,5 % so với tháng 12-2012, trong đó, nhập khẩu đạt 246 triệu USD, tăng 14,5% và xuất
khẩu là 173 triệu USD, tăng 14,4%. Cán cân thương mại hàng hóa với Ấn Độ vì vậy thâm
hụt hơn 73 triệu USD, tăng 14,9% so với tháng 12-2012.
Việt Nam có cán cân thanh toán cân bằng nhất châu Á - Theo TTVN/ANZ
Theo ANZ, cán cân tài khoản vãng lai hàm ý rằng so với Trung Quốc và Ấn Độ, Việt
Nam vẫn là một thị trường mang lại nhiều cơ hội đầu tư và lợi nhuận hơn.
Á) hoặc tăng đầu tư ra nước ngoài (một kịch bản ít được mong đợi hơn).
Trung Quốc và Ấn Độ tuy đều có thặng dự thương mại, song đầu tư ra nước ngoài lại
tăng mạnh hơn tiêu dùng trong nước, cho thấy ngày càng ít cơ hội đầu tư và tạo lợi nhuận
tại 2 nước này. Báo cáo của ANZ chỉ ra rằng việc có những lệch lạc trong thay đổi tài khoản
vãng lai của hai nền kinh tế lớn của khu vực cho thấy còn rất nhiều điều cần làm để đưa tăng
trưởng kinh tế khu vực theo hướng ổn định, an toàn và bớt phụ thuộc hơn, dựa trên cơ sở
tiêu dùng nội địa.
2.2. Nguyên nhân
2.2.1. Chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư
Căn nguyên gốc rễ của thâm hụt thương mại là sự chênh lệch tiết kiệm - đầu tư trong
nước chưa được giải quyết triệt để. Chừng nào chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư còn chưa
được thu hẹp thì vấn đề nhập siêu chắc chắn sẽ tiếp tục kéo dài. Trong thời gian, do tiết
kiệm trong nước thấp không đủ đáp ứng nhu cầu đầu tư tăng cao nhưng kém hiệu quả,
không sử dụng hết các nguồn lực làm tăng trưởng kinh tế dưới mức tiềm năng, nhất là
nguồn vốn nhà nước. Đầu tư tăng, làm nhập khẩu tăng theo, nhưng kém hiệu quả đã không
bù đắp nỗi nhập khẩu dẫn đến thâm hụt cán cân thương mại. Kèm theo đó là tình trạng độc
quyền, bảo hộ, bao cấp, chính sách thương mại chưa minh bạch, khó tiên liệu, phân biệt đối
xử dẫn đến tình trạng tham nhũng, gian lận làm hiệu quả đầu tư kém, lãng phí, tăng giá hàng
nhập khẩu.
2.2.2. Do lạm phát cao và chính sách tỷ giá “cố định linh hoạt” của Việt Nam gắn với
đồng Đô La Mỹ
Với chính sách tỷ giá được coi là “cố định linh hoạt” của Việt Nam gắn với đồng đôla
Mỹ, diễn biến tỷ giá một số thời điểm chưa theo kịp với thực tế của thị trường trong điều
kiện chính sách tiền tệ nới lỏng, tỷ giá hầu như cố định đã góp phần làm giảm kim ngạch
xuất khẩu, tăng kim ngạch nhập khẩu. Mặc dù tỷ giá danh nghĩa USD/VND có xu hướng
tăng lên theo thời gian và biên độ giao động được điều chỉnh linh hoạt tùy từng hoàn cảnh
kinh tế cụ thể. Tuy nhiên, diễn biến tỷ giá thực RER và REER có xu hướng giảm dần trong
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
CHĐ3K22 – NHÓM 5 Trang 22
những năm gần đây do chênh lệch tốc độ lạm phát của Việt Nam so với Mỹ và các nước đối
cầu khắt khe của thế giới. Bởi vậy ngay cả những nguyên liệu có thể sản xuất được trong
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
CHĐ3K22 – NHÓM 5 Trang 23
nước, chúng ta vẫn phải nhập khẩu nhiều. Chẳng hạn, lượng gạo của Việt Nam chỉ đứng sau
Thái Lan nhưng chúng ta lại phải chịu mức giá thấp hơn rất nhiều. Hàng loạt người dân nuôi
cá tra, cá ba sa dư cá, trong khi nguồn nguyên liệu cho các doanh nghiệp lại thiếu hụt. Chất
lượng cà phê, cao su của Việt Nam bị phản ánh trong những năm gần đây, chất lượng gạo
không tốt, chứa quá nhiều độc tố, cá nuôi có quá nhiều dư chất chính chất lượng hàng hoá
của Việt Nam đã dẫn đến việc nhập khẩu quá nhiều nguyên vật liệu không cần thiết.
Quá trình công nghiệp hoá đang diễn ra mạnh mẽ nên nhu cầu thay thế thiết bị lạc hậu
bằng cách nhập khẩu công nghệ từ các nước phát triển góp phần làm gia tăng nhu cầu nhập
khẩu chung.
Ngoài ra, lộ trình tự do hoá thương mại của Việt Nam nhất là kể từ năm 2007 - năm
Việt Nam trở thành thành viên WTO đã thu hút một nguồn vốn FDI khá lớn hàng năm và
kèm theo đó là nhu cầu nhập khẩu trang thiết bị, dây chuyền sản xuất phục vụ đầu tư.
Ngoài những nguyên nhân làm gia tăng việc nhập khẩu như đã nêu trên, nguyên nhân
nhập khẩu tăng cao còn phải kể đến:
Tỷ lệ nhập khẩu trong sản phẩm xuất khẩu ở mức khá cao dẫn tới thực tế là nếu xuất
khẩu muốn tăng lên thì nhất thiết nhập khẩu sẽ tăng.
Thu nhập ở Việt Nam tăng lên sẽ tạo thêm nhu cầu đối với hàng tiêu dùng và xa xỉ
phẩm.
Đầu cơ bất động sản và các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn cũng là lý do dẫn tới nhập
khẩu gia tăng trong những năm gần đây.
Sự biến động trong giá hàng hoá thế giới dẫn tới hoạt động đầu cơ hàng hoá, nên nhiều
hàng hoá được nhập khẩu để tích trữ trước khi giá tăng.
2.2.4. Chính sách giảm thuế nhập khẩu thực hiện theo các cam kết trong thỏa thuận
thương mại khu vực và trong WTO
Bên cạnh những tác động thuận lợi khi mở cửa hội nhập, nới lỏng các rào cản thương
mại, và đặc biệt là gia nhập WTO, Việt Nam cũng gặp phải những thách thức. Việt Nam
đang trong thời kỳ thực hiện các cam kết về giảm thuế quan và các hạn chế thương mại, mở
tục giảm nhưng nhập khẩu của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn tăng cao, vì
phần lớn là nhập nguyên vật liệu để gia công, lắp ráp.
Theo Bộ Công thương, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Liên minh
châu Âu (EU) có dấu hiệu giảm không chỉ tác động đến việc hoàn thành mục tiêu xuất khẩu
năm 2012 của ngành Dệt may mà còn là dấu hiệu đáng lo ngại về khả năng đơn hàng tiếp
tục giảm trong năm 2013.
Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), tình hình thị trường gạo thế giới trong
thời gian tới vẫn trong xu hướng sụt giảm do thiếu nhu cầu. Châu Phi tồn kho nhiều nên nhu
cầu mua gạo sẽ chậm hơn. Trong khi đó, việc Philippines và Indonesia tuyên bố không nhập
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
CHĐ3K22 – NHÓM 5 Trang 25
khẩu trong năm 2013 làm tăng thêm áp lực trì trệ của thị trường. Cạnh tranh xuất khẩu gạo
giữa Việt Nam, Ấn Độ, Pakistan được dự báo có thể sẽ gay gắt hơn. Thị trường nhập khẩu
thời gian tới sẽ tùy thuộc vào nhu cầu từ Indonesia và Trung Quốc.
Dự báo của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam cũng cho thấy, xuất
khẩu thủy sản năm 2013 vẫn sẽ tiếp tục gặp khó khăn khi sẽ phải nhập khẩu nguyên liệu
thủy sản phục vụ cho sản xuất nhiều hơn, tăng 30% so với năm 2012 với kim ngạch đạt
trung bình 65 - 70 triệu USD/tháng. Dự báo kim ngạch xuất khẩu thủy sản nói chung sẽ
giảm 1,5 - 2% so với năm 2012.
Ngoài ra, sự cạnh tranh về xuất khẩu thủy sản trên thế giới sẽ ngày càng gay gắt, trong
đó Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ có xu hướng hạ giá bán sản phẩm tôm, Bangladesh bắt đầu
thúc đẩy sản xuất tôm thẻ chân trắng tạo áp lực lên mặt hàng tôm xuất khẩu của Việt Nam.
Nhìn về triển vọng của các thị trường lớn, xất khẩu của Việt Nam vào EU trong năm
2013 được dự báo tăng khoảng 10%, song phải cố gắng mới có thể đạt được mức tăng này.
Dù hiện nay kinh tế thế giới vẫn chưa hồi phục, các đơn hàng xuất khẩu giảm sút nhưng một
số dự báo cho rằng, trong năm 2013, Mỹ sẽ là thị trường xuất khẩu lý tưởng cho các quốc
gia, trong đó có Việt Nam.
2.3.2 Về nhập khẩu:
Dù hàng loạt giải pháp khẩn cấp đã được Chính phủ như ban hành hạn ngạch thuế
quan, áp dụng cấp phép nhập khẩu tự động, tăng thuế nhập khẩu nhưng đều không