Tiểu luận kinh tế vĩ mô: Lạm phát - Pdf 14

TRƯỜNG Đ

VIỆ
N Đ

TIỂ
U LU
ĐỀ TÀI 6: Ạ
I HỌC KINH TẾ TP.HỒ
CHÍ MINH
N ĐÀO T
ẠO SAU ĐẠI HỌC
U LU
ẬN MÔN: KINH TẾ VĨ MÔLẠM PHÁT

GVGD : TRẦN THỊ

1.4.8 Lạm phát đẻ ra lạm phát 10
1.5 Tác động của lạm phát 10
1.5.1 Tác động phân phối lại thu nhập và của cải 11
1.5.2 Tác động đến phát triển kinh tế và việc làm 11
1.5.3 Các tác động khác 11
1.6 Lạm phát và lãi suất 12
1.6.1 Lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa 12
1.6.2 Hiệu ứng Fisher 13
1.6.3 Hai loại lãi suất thực 13
2. THỰC TRẠNG - NGUYÊN NHÂN GÂY RA LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM 15

2.1 Thực trạng lạm phát ở Việt Nam trong những năm gần đây 15
2.2 Nguyên nhân gây ra lạm phát ở Việt Nam trong những năm gần đây 22
2.2.1 Lạm phát chi phí đẩy 22
2.2.2 Nguyên nhân về phía tổng cầu 25
2.2.3 Sự phối hợp thiếu đồng bộ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ 26
2.2.4 Một số nguyên nhân khác 28
3. CÁC GIÁI PHÁP KIỀM SOÁT LẠM PHÁT CHO NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 30

3.1 Một số giải pháp kiểm soát lạm phát, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ trong ngắn hạn và dài hạn 30
3.1.1 Các giải pháp trong ngắn hạn 30
3.1.2 Các giải pháp trong dài hạn 30
3.2 Một số đề xuất của nhóm về các biện pháp kiểm soát lạm phát trong thời gian sắp tới 32
3.2.1 Tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, giải quyết điểm nghẽn nợ xấu, hàng
tồn kho. 33
3.2.2 Chính sách tiền tệ và tài khóa cần tiếp tục thận trọng và linh hoạt 36
3.2.3 Giảm chi tiêu công của chính phủ 37
3.2.4 Mở rộng lãi suất ở mức hợp lý 38
3.2.5 Kiểm soát giá 38
4. XU HƯỚNG LẠM PHÁT NĂM 2013 VÀ SO SÁNH LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM VỚI
1.2 Đo lường lạm phát
Để đo lường mức độ lạm phát mà nền kinh tế trải qua trong một thời kỳ nhất định, các
nhà thống kê kinh tế sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ lạm phát được tính bằng phần trăm thay đổi
của mức giá chung. Tỷ lệ lạm phát cho thời kỳ t được tính theo công thức sau:



=






. 100%

πt : tỷ lệ lạm phát của thời kỳ t (có thể là tháng, quí, hoặc năm)
Pt : mức giá của thời kỳ t
Pt-1 : mức giá của thời kỳ trước đó
Rõ ràng là để tính được tỷ lệ lạm phát, trước hết các nhà thống kê phải quyết định sử
dụng chỉ số giá nào để phản ánh mức giá. Như chúng ta đã biết là người ta thường sử
dụng chỉ số điều chỉnh GDP (D) và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) để đo lường mức giá
chung. Tuy nhiên, nếu mục tiêu là xác định ảnh hưởng của lạm phát đến mức sống, thì
rõ ràng chỉ số giá tiêu dùng tỏ ra thích hợp hơn. Trong thực tế, các số liệu công bố
chính thức về lạm phát trên toàn thế giới đều được tính trên cơ sở CPI.

VEPR

CÁC KÊNH TRUYỀN TẢI ĐẾN LẠM PHÁT

1.3 Phân loại lạm phát
Tùy theo tiêu thức dùng để phân loại lạm phát mà có các loại lạm phát khác
nhau. Người ta phân loại lạm phát trên cơ sở định lượng và định tính.
1.3.1 Về mặt định lượng
Đó là dựa trên tỷ lệ phần trăm lạm phát được tính trong năm, phân theo cách
này thì lạm phát có các loại sau:
* Lạm phát vừa phải: Được đặc trưng bởi giá cả tăng chậm và có thể dự đoán trước
được. Đối với các nước đang phát triển , lạm phát ở mức độ một con số thường được
coi là lạm phát vừa phải. Đó là mức lạm phát mà bình thường nền kinh tế trải qua và
ít gây tác động tiêu cực đến nền kinh tế. Lạm phát vừa phải có hai cấp độ cơ bản đó
là:
- Thiểu phát: là tỷ lệ lạm phát ở mức 3 - 4 % một năm trở xuống
- Lạm phát thấp: là mức lạm phát có tỷ lệ ở 3% đến 7% một năm
* Lạm phát cao ( lạm phát phi mã): là loại lạm phát ở mức hai đến ba con số một
năm. Loại lạm phát này tác động tiêu cực đến nền kinh tế , với những hậu quả cực kì
khó khăn cho đời sống kinh tế, xã hội, chính trị trong nước. Lạm phát phi mã được
duy trì trong thời gian dài sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng. Trong bối
cảnh đó, đồng tiền bị mất giá rất nhanh, cho nên mọi người chỉ giữ lượng tiền tối
thiểu vừa đủ cho các giao dịch hàng ngày. Mọi người có xu hướng tích trữ hàng hoá,
mua bất động sản và chuyển sang sử dụng vàng hoặc các ngoại tệ mạnh để làm
phương tiện thanh toán cho các giao dịch có giá trị lớn và tích luỹ của cải.
* Siêu lạm phát: là lạm phát mất kiểm soát, một tình trạng giá cả tăng nhanh chóng
khi tiền tệ mất giá trị. Siêu lạm phát là lạm phát ở mức 4 con số, từ 1000% trở lên.
Đặc điểm chung của mọi cuộc siêu lạm phát là sự gia tăng quá mức trong cung
tiền, điều này thường bắt nguồn từ sự cần thiết phải tài trợ cho thâm hụt ngân sách
quá lớn. Hơn nữa một khi lạm phát cao đã bắt đầu , tình hình thâm hụt ngân sách có

Giả dụ lượng cầu v

hàng khác lại tăng lên. Nế
u th
chất cứng nhắc phía dướ
i (ch
cầu giảm vẫn không giả
m giá. Trong khi
giá. Kết quả là mứ
c giá chung t
1.4.3 Lạm phát do chi phí
đ
Nếu tiề
n công danh ngh
Các xí nghiệp vì muốn bả
o toàn m
Mức giá chung của toàn th


n tệ giải thích rằng do tổng cầ
u cao hơn t
cao hơn, d
ẫn tới cung tiền phải tăng lên để
đáp
u thay
đổi

một mặt hàng giảm đi, trong khi lượ
ng c
u th

u tăng th
ì lại tăng
a các xí nghi
ệp tăng.
ăng giá t
hành sản phẩm.
1.4.4 Lạm phát do cơ cấu
Ngành kinh doanh có hi
Ngành kinh doanh không hi
lao độ
ng trong ngành mình. Nh
hiệu quả sẽ
tăng giá thành s
1.4.5 L
ạm phát do xuất khẩu
Xuất khẩu tăng dẫ
n t
huy động cho xuất khẩ
u khi
khiến tổng cung thấp hơn t

cân bằng.
1.4.6 Lạm phát do nh
ập khẩ
Sản phẩm không tự
s
khẩu tăng (do nhà cung cấ
p n
tăng giá dầu, hay do đồ
ng ti

p nư
ớc ngoài tăng giá như trong trường
OPEC
ng ti
ền trong nước xuống giá) thì giá bán s

m phát hình thành khi m
ức giá chung bị giá nhậ
p kh

ĩa cho ng
ười lao động.

n công cho người
n, ngành kinh doanh kém

c sản phẩm được
ng trong nư
ớc giảm
ng cung và t
ổng cầu mất
p kh
ẩu. Khi giá nhập
OPEC
quyết định

n phẩm đó trong
p kh
ẩu đội lên.
Cung tiền tăng (chẳng hạn do [ngân hàng trung ương] mua ngoại tệ vào để giữ

đều tăng lên, con giá trị đồng tiền thì giảm xuống. Ngược lại, những người làm công
ăn lương, những người gửi tiền, những người cho vay là bị thiệt hại.
Để tránh thiệt hại, một số nhà kinh tế đưa ra cách thức giải quyết đơn giản là lãi suất
cần được điều chỉnh cho phù hợp với tỷ lệ lạm phát. Ví dụ, lãi suất thực là 3%, tỷ lệ
tăng giá là 9%, thì lãi suất danh nghĩa là 12%. Tuy nhiên, một sự điều chỉnh cho lãi
suất phù hợp tỷ lệ lạm phát chỉ có thể thực hiện được trong điều lạm phát ở mức độ
thấp.
1.5.2 Tác động đến phát triển kinh tế và việc làm
Trong điều kiện nền kinh tế chưa dạt đến mức toàn dụng, lạm phát vừa phải
thúc đẩy sự phát triển kinh tế vì nó có tác dụng làm tăng khối tiền tệ trong lưu thông,
cung cấp thêm vốn cho các đơn vị sản suất kinh doanh, kích thích sự tiêu dùng của
chính phủ và nhân dân.
Giữa lạm phát và thất nghiệp có mối quan hệ nghịch biến: khi lạm phát tăng lên thì
thất nghiệp giảm xuống và ngược lại khi thất nghiệp giảm xuống thì lạm phát tăng lên.
Nhà linh tế học A.W. Phillips đã đưa ra “Lý thuyết đánh đổi giữa lạm phát và việc
làm”, theo đó một nước có thể mua một mức độ thất nghiệp tháp hơn nếu sẵn sàng trả
giá bằng một tỷ lệ lạm phát cao hơn.
1.5.3 Các tác động khác
Trong điều kiện lạm phát cao và không dự đoán được, cơ cấu nền kinh tế dễ bị
mất cân đối vì khi đó các nhà kinh doanh thường hướng đầu tư vào những khu vực
hàng hóa có giá cả tăng lên cao, nhưng ngành sản suất có chu kỳ ngắn, thời gian thu
hồi vốn nhanh, hạn chế đầu tư vào những ngành sản suất có chu kỳ dài, thời gian thu
hồi vốn chậm vì có nguy cơ gặp phải nhiều rủi ro. Trong lĩnh vực lưu thông, khi vật
giá tăng quá nhanh thì tình trạng đầu cơ, tích trữ hàng hóa thường là hiện tượng phổ
biến, gây nên mất cân đối giả tạo làm cho lưu thông càng thêm rối loạn. Trong điều
kiện các nhân tố khác không đổi, lạm phát xảy ra làm tăng tỷ giá hối đoái. Sự mất giá
của tiền trong nước so với ngoại tệ tạo điều kiện tăng cường tính cạnh tranh của hàng
xuất khẩu, tuy nhiên nó gây bất lợi cho hoạt động nhập khẩu. Lạm phát cao và siêu
lạm phát làm cho hoạt động của hệ thống tín dụng rơi vào tình trạng khủng hoảng.
Nguồn tiền trong xã hội bị sụt giảm nhanh chóng, nhiều ngân hàng bị phá sản vì mất

i = r + Π
Đây là đẳng thức Fisher. Đẳng thức này cho thấy lãi suất danh nghĩa có thể
thay đổi do ba nguyên nhân: (i) lãi suất thực thay đổi, (ii) tỷ lệ lạm phát thay đổi, hay
(iii) cả hai cùng thay đổi.
Theo lý thuyết định lượng, nếu số cung tiền tệ tăng 1% thì lạm phát sẽ tăng 1%.
Theo đẳng thức Fisher, 1% tăng lên của lạm phát sẽ tạo ra 1% tăng lên của lãi suất
danh nghĩa. Mối quan hệ một - một giữa tỷ lệ lạm phát và lãi suất danh nghĩa được gọi
là hiệu ứng Fisher.
1.6.3 Hai loại lãi suất thực
Phân biệt hai loại lãi suất thực: lãi suất thực “trước” và lãi suất thực “sau”.
Lãi suất thực “trước” là lãi suất thực mà người cho vay và người vay thống nhất với
nhau.
Lãi suất thực “sau” là lãi suất thực thực sự phát sinh.
Nếu ký hiệu Π

là tỷ lệ lạm phát thực tế và Π
e
là tỷ lệ lạm phát kỳ vọng thì lãi
suất thực trước là i-Π
e
và lãi suất thực sau là i-Π. Hai loại lãi suất thực này khác nhau
khi tỷ lệ lạm phát thực Π khác với tỷ lệ lạm phát kì vọng Π
e
.
Lãi suất danh nghĩa không thể điều chỉnh theo lạm phát thực tế vì lạm phát
thực tế không được biết khi lãi suất danh nghĩa được ấn định. Lãi suất danh nghĩa chỉ
có thể điều chỉnh theo lạm phát kỳ vọng. Vì vậy, hiệu ứng Fisher có thể được viết
chính xác hơn như sau:
i = r – Π
e

2008 là 18,0 tỷ USD, năm 2009 gần 12,9 tỷ USD, năm 2010 khoảng 12 tỷ USD). Điều
này đã tác động tiêu cực tới cán cân thanh toán, dự trữ ngoại hối và tạo sức ép lên tỷ
giá. Giá USD trên thế giới giảm, nhưng ở trong nước vẫn tăng (năm 2008 tăng 6,31%,
năm 2009 tăng 10,7%, 11 tháng năm 2010 tăng 6,63%), làm tăng mạnh gánh nặng lạm
phát …
Tuy nhiên, lạm phát như con ngựa bất kham đã tăng cao trở lại trong năm 2011
lên đến 18,23% mặc dù Chính phủ đã có nghị quyết 11 đưa ra một hệ thống giải pháp
toàn diện để kiềm chế lạm phát ngay từ đầu năm 2011.
Chỉ số giá tiêu dùng CPI năm 2012 diễn biến ngoài dự kiến và không tuân theo quy
luật của những năm trước đó: Ngoại trừ 2 tháng đầu năm, lạm phát tăng cao do yếu tố
mùa vụ với mức tăng lần lượt là 1% và 1,37% so với tháng trước, chỉ số CPI từ tháng
3 tới tháng 8 chỉ tăng rất chậm.
Đặc biệt, trong tháng 6 và tháng 7/2012, lạm phát đã ở mức âm (với mức tăng
CPI lần lượt là -0,26% và -0,29% so với tháng trước). Qua đó, lạm phát so với cùng
kỳ cũng đã giảm nhanh từ 17,27% vào tháng 1/2012 xuống mức 5,04% trong tháng
8/2012. Vào thời điểm đó, xu hướng trên của lạm phát đã làm dấy lên mối quan ngại
về suy giảm kinh tế và gia tăng tỷ lệ thất nghiệp. Tuy nhiên, trong tháng 8 và tháng 9,
lạm phát đã đảo chiều hoàn toàn với mức tăng trong 2 tháng lần lượt là 0,63% và
2,2% so với tháng trước. Đặc biệt, mức tăng của lạm phát tháng 9 (2,2%) còn vượt
ngoài dự báo của nhiều chuyên gia. Song bước sang những tháng cuối năm 2012, lạm
phát đã hạ nhiệt, mức tăng CPI trong 3 tháng 10, 11 và 12 lần lượt là 0,85%, 0,47% và
0,27% so với tháng trước. Tính đến hết tháng 12/2012, lạm phát tăng 6,81% so với
tháng 12/2011, thấp hơn so với mức tăng của năm 2011 (18,13%) và năm 2010
(11,75%). Như vậy là lạm phát năm 2012 đã dừng ở mức dưới 7% - đạt được mục tiêu
của Quốc hội đề ra.
Năm 2013 đã đi được 3 tháng. Tháng 1/2013, CPI đã tăng tới 1,25%. Lạm phát
tháng 2 tuy chỉ tăng 1,32% so với tháng 1, nhưng tính chung 2 tháng đầu năm, CPI đã
tăng 2,59% so với tháng 12/2012. Như vậy, với mục tiêu lạm phát năm 2013 ở mức 6-
6,5%, thì trong 10 tháng còn lại, CPI sẽ chỉ được phép tăng dưới 0,4%/tháng. Rõ ràng,
đây là mục tiêu khó khả thi trong bối cảnh nhiều yếu tố đe dọa lạm phát đang rình rập.

108,3
123,0
106,9
109,2
118,6
109,2
50
60
70
80
90
100
110
120
130
50
100
150
200
250
300
350
400
450
500
1999 2001 2003 2005 2007 2009 2011 2013
Tỷ lệ lạm phát ở VN
Lạm phát so với năm 2000 (trục chính)
Lạm phát so với năm trước (trục phụ)
-1,6

6,9
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
Lạm phát và tăng trưởng GDP
Tăng trưởng GDP
Lạm phát
2001
2004 2007
Lương tối thiểu9,2
18,6
9,2
2010
2011
2012
Tăng trưởng GDP
Lạm phát
2010 2012Từ năm 2004, Việt Nam đã và đang trải qua giai đoạn lạm phát cao hơn, dao
động lớn hơn và kéo dài hơn so với các đối tác thương mại của mình.
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008-2009 đã góp phần làm giảm lạm phát ở Việt

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Nhìn vào diễn biến của lạm phát những năm 2004-2012 có thể thấy, tính "chu kỳ"
nhất định đối với lạm phát ở nước ta. Trong 9 năm (2004-2012), vòng xoáy lạm phát
lặp lại theo chu kỳ 3 năm 1 lần: 2 năm tăng vọt lên và 1 năm giảm sâu đột ngột (trong
3 năm 2004-2006: mức CPI trong các năm đó lần lượt là 9,5%; 8,4% và 6,6%; Giai
đoạn 2007-2009, CPI lần lượt là: 12,6%; 19,9% và 6,5%; Giai đoạn 2010-2012:
11,8%; 18,13% và 6,81%). Nếu như tính chu kỳ của lạm phát như các năm trước đó,
lạm phát năm 2013 và 2014 có thể tăng lên.

Những nghiên cứu gần đây về lạm phát ở Việt Nam xoay quanh các nhân tố:
CPI, cung tiền, lãi suất, tỷ giá, sản lượng,giá dầu và giá gạo thế giới.
Tổng quan các nghiên cứu đã có về các nhân tố quyết định lạm phát ở Việt Nam cho
thấy:
- Hầu hết các nghiên cứu chỉ lấy giá dầu quốc tế (và đôi khi giá gạo quốc tế) làm đại
diện cho các nhân tố cung, bỏ qua các nhân tố khác như chi phí sản xuất, giáđôn và
các yếu tố cứng nhắc khác.
- Hầu hết các nghiên cứu (ngoại trừ Phạm Thế Anh (2009) với số liệu cập nhật
đếncuối năm 2008) đều lạc hậu về số liệu và do đó không tính đến những lần lạm
phátgia tăng gần đây cũng như cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008-2009 đã
dẫnđến một loạt những thay đổi trong môi trường và chính sách vĩ mô.
- Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về vai trò của tiền tệ là trái ngược nhau cóthể là
do các giai đoạn nghiên cứu khác nhau, tần suất của số liệu khác nhau vàphương pháp
ước lượng khác nhau.
- Mặt khác, các nghiên cứu đều khá đồng nhất về vai trò quan trọng của lạm phát
trong quá khứ đối với lạm phát hiện tại và vai trò rất nhỏ của tỷ giá và giá cả quốc tế.



khu vực, cơ cấu chi phí sả
n
ảnh hưởng của mặt bằng

không tránh khỏi. Giai đoạ
n
ạm phát ở Việt Nam trong những n
ăm g

g
iới tăng:
ế
giới đã tăng mạnh trong nửa đầu nă
m
ư
ởng từ cuộc khủng hoảng tài chính thế

cho
lạm phát của Việt Nam duy trì ở m

u
năm 2010 trở lại đây giá cả hàng hó
a

việc mức độ mở cửa cao của nền kinh t
ế
l
ớn hơn 150%) đã khiến chi phí nguy
ên v

giới, đây là một

c thấp trong năm
a
đã tăng cao đột
ế
Việt Nam (tỷ lệ
ên v
ật liệu đầu vào
l
ực tăng giá trong

u
thô giai đoạn
u/GDP khá
cao ở mức

n. Cùng với đó,
nh
ập khẩu lớn nhất

p khẩu. Do vậy,
tron
g nước là điều
chung
tăng 132%,
giá năng lượng tăng 90,9%, giá lương thực tăng 151,2%; với độ mở cửa nền kinh
tế lớn và tỷ lệ nhập khẩu/GDP cao, những biến động về giá thế giới sẽ tác động tới
nền kinh tế nước ta trên diện rộng hơn so với các nước. Giá trên thị trường quốc tế
tăng tác động đến giá cả trong nước qua hàng hóa nhập khẩu, đồng thời cũng ảnh

trong công tác quản lý của khu vực này thể hiện: chưa minh bạch hóa hoạt động và
công khai thông tin; chủ sở hữu nhà nước chưa thực sự trở thành một nhà đấu
tư; chưa chuyên nghiệp theo kinh tế thị trường; công tác giám sát còn thiếu
tách bạch giữa quản lý và điều hành, giữa chủ thể giám sát và đối tượng giám sát.
Bốn là, việc đầu tư tràn lan, dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm, dẫn đến hiệu
quả đầu tư không cao và tạo gánh nặng về vốn cho nền kinh tế. Bên cạnh đó,
việc triển khai cùng một lúc nhiều chương trình tín dụng đầu tư phát triển của
nhà nước và tín dụng chính sách với lãi suất ưu đãi, trong khi hiệu quả đầu tư thấp
cũng làm tăng thêm chi phí vốn cho nền kinh tế.
- Đồng Việt Nam mất giá so với USD trong nhiều năm qua cũng ảnh hưởng
trực tiếp đến giá cả hàng hóa trong nước, tác động đáng kể đến lạm phát. Trong giai
đoạn 2006 - 2010, tỷ giá tăng 21,2%. Với cơ cấu xuất nhập khẩu của Việt Nam,
trong đó xuất khẩu phụ thuộc vào hàng nhập khẩu từ nước ngoài và với tỷ trọng
nhập khẩu/GDP cao thì việc đồng Việt Nam mất giá sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mức
giá cả trong nước. Bên cạnh đó, việc điều chỉnh giảm giá trị tiền nội tệ để khuyến
khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu cũng phần nào làm tăng giá thành sản xuất, đẩy
giá bán lẻ tăng cao. Sự mất cân đối về cán cân thương mại cũng gây thiếu hụt ngoại
tệ, tác động đến giá cả, lạm phát trong nước.
- Giá vàng thế giới liên tục tăng ở mức hai chữ số kể từ năm 2009 đến nay,
cộng thêm yếu tố tâm lý, đầu cơ, đã đẩy giá vàng trong nước tăng mạnh và nhiều
thời điểm tăng nhanh hơn tốc độ tăng của giá vàng thế giới (có thời điểm chênh lệch
giá vàng trong nước cao hơn giá vàng thế giới trên 3 triệu đồng/lượng), khiến cho
nhu cầu nhập khẩu vàng gia tăng và tạo sức ép lớn lên tỷ giá. Diễn biến này tác
động đến tâm lý và lòng tin của người dân vào đồng nội tệ, dẫn đến lạm phát có xu
hướng tăng theo hình xoắn ốc. Với mức tăng 64,32% trong năm 2009, 30% trong
năm 2010 và 15,33% trong 8 tháng đầu 2011, giá vàng trong nước đã tác động
không nhỏ đến tốc độ tăng của chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam trong những năm
qua.
2.2.2 Nguyên nhân về phía tổng cầu
- Việc nới lỏng cung tiền và tăng trưởng tín dụng trong một thời gian dài là một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status