Tiểu luận: Lạm phát Việt Nam giai đoạn 2006 2010, thực trạng và giải pháp - Pdf 14

“Lạm phát Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010, thực trạng và giải pháp”
Giáo viên hướng dẫn: TS. Vũ Thị Minh Hằng

Nhóm thực hiện: Nhóm 12 – Lớp Đêm 01 – Cao học K19
- 1 -

Tiểu luận Lạm phát Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010,
thực trạng và giải pháp
“Lạm phát Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010, thực trạng và giải pháp”
Giáo viên hướng dẫn: TS. Vũ Thị Minh Hằng

Nhóm thực hiện: Nhóm 12 – Lớp Đêm 01 – Cao học K19
- 2 -
Chương 1: MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1. KHÁI NIỆM VỀ LẠM PHÁT

Giáo viên hướng dẫn: TS. Vũ Thị Minh Hằng

Nhóm thực hiện: Nhóm 12 – Lớp Đêm 01 – Cao học K19
- 3 -
3. BIỂU HIỆN CỦA LẠM PHÁT:
Mức giá chung của hàng hóa dịch vụ tăng lên trong một khoảng thời gian nhất
định, giá trị đồng tiền giảm.

4. ĐO LƯỜNG LẠM PHÁT:
Lạm phát được đặc trưng bởi chỉ số lạm phát tính bằng GNP danh nghĩa/GNP
thực tế. Trong thực tế nó được thay thế bằng chỉ số giá tiêu dùng hoặc chỉ số giá bán
buôn.
I
p
= ∑ip . d .
(ip: chỉ số giá cả từng loại nhóm hàng; d: tỷ trọng mức tiêu dùng của từng loại hàng)
Một cách tính chỉ số lạm phát (tỷ lệ lạm phát) khác dựa vào tỷ lệ thay đổi của
chỉ số giá.
Tỷ lệ lạm phát: là tỷ lệ tăng hàng năm (%) trong mức giá trung bình của hàng
hóa dịch vụ. Tỷ lệ lạm phát được đo bằng tỷ lệ (%) thay đổi của chỉ số giá cả. Chỉ số
giá cả có các loại như sau: chỉ số giá tiêu dùng (CPI), chỉ số giá sản xuất (PPI).

Chỉ số giá năm (t) – Chỉ số giá năm (t-1)
r(t) =
% Chỉ số giá năm (t-1)
Trong đó:
Giá trung bình của túi thị trường năm (t)

nền kinh tế hoạt động bình thường, đời sống của người lao động ổn định. Sự ổn định
đó được biểu hiện: giá cả tăng lên chậm, lãi suất tiền gửi không cao, không xảy ra với
tình trạng mua bán và tích trữ hàng hoá với số lượng lớn…Có thể nói lạm phát vừa
phải tạo tâm lý cho người lao động chỉ trông chờ vào thu nhập. Trong thời gian này
các hãng kinh doanh có khoảng thu nhập ổn định, ít rủi ro nên sẵn sàng đầu tư cho
sản xuất, kinh doanh.

- Lạm phát phi mã : Lạm phát xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với tỷ lệ 2
con số 1 năm. Ở mức 2 con số, lạm phát làm cho giá cả chung tăng lên nhanh chóng,
gây biến động lớn về kinh tế, các hợp đồng được chỉ số hoá. Lúc này người dân tích
trữ hàng hoá, vàng bạc, bất động sản và không bao giờ cho vay tiền ở mức lãi suất
bình thường. Loại này khi đã trở nên vững chắc sẽ gây ra những biến dạng kinh tế
nghiêm trọng.
- Siêu lạm phát: Xảy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao vượt xa
lạm phát phi mã, nó như một căn bệnh chết người, tốc độ lưu thông tiền tệ tăng kinh
khủng, giá cả tăng nhanh và không ổn định, tiền lương thực tế của người lao động bị
giảm mạnh, tiền tệ mất giá nhanh chóng, thông tin không còn chính xác, các yếu tố
thị trường biến dạng và hoạt động sản xuất kinh doanh lâm vào tình trạng rối loạn.
Tuy nhiên siêu lạm phát rất ít khi xảy ra.
Lịch sử của lạm phát cũng chỉ ra rằng, lạm phát ở các nước đang phát triển thường
diễn ra trong thời gian dài, vì vậy hiệu quả của nó phức tạp và trầm trọng hơn. Vì vậy các
nhà kinh tế đã chia lạm phát thành 3 loại: Lạm phát kinh niên kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ
“Lạm phát Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010, thực trạng và giải pháp”
Giáo viên hướng dẫn: TS. Vũ Thị Minh Hằng

Nhóm thực hiện: Nhóm 12 – Lớp Đêm 01 – Cao học K19
- 5 -

Lạm phát thúc đẩy quá trình đầu cơ tích trữ dẫn đến khan hiếm hàng hoá.
Thậm chí khi lạm phát trở nên khó phán đoán thì việc đầu tư vốn vào lĩnh vực sản
“Lạm phát Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010, thực trạng và giải pháp”
Giáo viên hướng dẫn: TS. Vũ Thị Minh Hằng

Nhóm thực hiện: Nhóm 12 – Lớp Đêm 01 – Cao học K19
- 6 -
xuất sẽ gặp phải rủi ro cao. Do đó nhiều người tham gia vào lĩnh vực lưu thông nên
lĩnh vực này trở nên hỗn loạn. Tiền ở trong tay những người vừa mới bán hàng xong
lại nhanh chóng bị đẩy vào kênh lưu thông, tốc độ lưu thông tiền tệ tăng vọt và điều
này làm thúc đẩy lạm phát gia tăng.
7.3. Đối với lĩnh vực tiền tệ, tín dụng:
Lạm phát làm cho quan hệ tín dụng, thương mại và ngân hàng bị thu hẹp. Số
người gửi tiền vào ngân hàng giảm đi rất nhiều. Về phía hệ thống ngân hàng, do
lượng tiền gửi vào giảm mạnh nên không đáp ứng được nhu cầu của người đi vay,
cộng với việc sụt giá của đồng tiền quá nhanh, sự điều chỉnh lãi suất tiền gửi không
làm an tâm những người hiện có lượng tiền mặt nhàn rỗi trong tay. Về phía người đi
vay, họ là những người có lợi lớn nhờ sự mất giá đồng tiền một cách nhanh chóng.
Do vậy, hoạt động của hệ thống ngân hàng không còn bình thường nữa. Chức năng
kinh doanh tiền tệ bị hạn chế, các chức năng của tiền tệ không còn nguyên vẹn bởi
khi có lạm phát thì chẳng có ai tích trữ của cải hình thức tiền mặt.
7.4. Đối với chính sách kinh tế tài chính của Nhà nước:
Lạm phát gây ra sự biến động lớn trong giá cả và sản lượng hàng hoá. Khi lạm
phát xảy ra những thông tin trong xã hội bị phá huỷ do biến động của giá cả làm cho
thị trường bị rối loạn. Người ta khó phân biệt được những doanh nghiệp làm ăn tốt và
kém. Đồng thời lạm phát làm cho nhà nước thiếu vốn, do đó nhà nước không còn đủ
sức cung cấp tiền cho các khoản dành cho phúc lợi xã hội bị cắt giảm… các ngành,

8.17%
8.38%
6.23%
5.32%
0.00%
5.00%
10.00%
15.00%
20.00%
25.00%
2006 2007 2008 2009
CPI
GDP

(Nguồn: Tổng CụcThống Kê)
1. CÁC LOẠI LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM:

Theo các chuyên gia, lạm phát hiện tại ở Việt Nam là sự tích hợp của lạm phát
tiền tệ, lạm phát cầu kéo và lạm phát chi phí đẩy, ba loại này tác động lẫn nhau làm
cho tình trạng nay càng trở nên xấu hơn.
1.1. Lạm phát tiền tệ:
Do việc thực thi chính sách chính sách tiền tệ không nghiêm, quản lý yếu
kém… dẫn tới lượng cung tiền trong lưu thông đã vượt quá lượng tiền cần có trên thị
trường nhiều lần do đó dẫn tới lạm phát.
Sự mất cân đối cơ cấu đầu tư và kém hiệu quả - đặc biệt là khu vực đầu tư công
với những khoản chi tiêu ngân sách (cụ thể là: chi tiêu ngân sách năm sau cao hơn năm
trước, các vụ việc tiêu cực, hiệu quả chi tiêu ngân sách thấp, nhiều công trình kéo dài,
tốn kém, hiệu quả thấp ) đã đưa một lượng tiền mặt lớn ra thị trường.
“Lạm phát Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010, thực trạng và giải pháp”
Giáo viên hướng dẫn: TS. Vũ Thị Minh Hằng

2008 dẫn tới mất cân đối cung cầu làm lạm phát tăng cao.
1.3. Lạm phát chi phí đẩy:

Nguyên nhân là giá vật tư đầu vào tăng. Trong năm qua, nhiều loại nguyên vật
liệu giá tăng rất cao như dầu mỏ, than đá, sắt thép, nhựa, … Những loại chi phí tăng
“Lạm phát Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010, thực trạng và giải pháp”
Giáo viên hướng dẫn: TS. Vũ Thị Minh Hằng

Nhóm thực hiện: Nhóm 12 – Lớp Đêm 01 – Cao học K19
- 9 -
lên đó đã tác động tới hầu hết các nền kinh tế, tạo nên chi phí đầu vào rất cao đối với
nhiều loại hàng hoá, dẫn tới chi phí sản xuất cao, buộc các doanh nghiệp tăng giá bán
hàng hoá của mình. Làn sóng tăng giá này làm giá cả chung trên thị trường tăng mạnh
mẽ, đẩy nền kinh tế tới lạm phát.
Năm 2007 và năm 2008, giá dầu tăng cao tác động tới hầu hết các ngành sản
xuất trong nước, dẫn tới tăng giá bán ở đầu ra. Giá dầu tăng đã thực sự đẩy lạm phát
cao. Do vậy, việc nhập khẩu các yếu tố đầu vào từ những nền kinh tế tăng trưởng nóng
cũng bao hàm việc nhập cả những yếu tố lạm phát của các nền kinh tế đó.

2. CÁC NHÓM NGUYÊN NHÂN GÂY LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM:

Theo TS Nguyễn Đình Thọ, Đại học ngoại thương Hà Nội thì cho rằng tại thời
điểm năm năm 2007 lạm phát ở Việt Nam hội tụ đủ các nguyên nhân như sau:
2.1. Nhóm thứ nhất có nguồn gốc từ các yếu tố bên trong của nền kinh tế.:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định trong nhiều năm qua và việc gia nhập WTO
đầu năm 2007 đã tạo thêm động lực phát triển cho nền kinh tế Việt Nam. Sự mở rộng
mạnh mẽ của nhu cầu chi tiêu, đầu tư tư nhân và công cộng là nhân tố làm cho tổng

đã là 21,42%. Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam luôn cao hơn gấp đôi mức lạm phát của
một số nước trong khu vực.
Tác động của lạm phát do chi phí đẩy ở Việt Nam thường cao hơn gấp đôi các
nước khác trong khu vực là do Việt Nam thực thi chính sách neo giá đồng nội tệ với
USD. Kết quả là, trong khoảng thời gian từ tháng 1-2004 đến nay, đồng Việt Nam có
xu hướng mất giá danh nghĩa, trong khi đồng tiền của các nước khác trong khu vực có
xu hướng lên giá danh nghĩa so với đồng USD.
Giá hàng hóa, nguyên liệu trên thế giới tăng mạnh trong thời gian gần đây là do
tăng trưởng cầu thế giới tăng nhanh hơn tốc độ tăng cung với bằng chứng là lượng
hàng tồn kho hàng hóa nguyên liệu giảm mạnh. Đồng USD mất giá danh nghĩa làm
cho giá hàng hóa tính theo đồng tiền khác như EUR, GBP giảm tương đối và càng
khuyến khích cầu. Bên cạnh đó, các quỹ đầu tư trên thế giới gia tăng mua hàng hóa đề
phòng vệ rủi ro mất giá USD. Kết quả là giá hàng hóa nguyên liệu tăng lên cao hơn
mức bình thường, tăng do tăng cầu và tăng do USD mất giá.
Các nước trong khu vực có điều chỉnh nâng giá nội tệ tương ứng với mức mất
giá danh nghĩa của Mỹ (đo bằng chỉ số tỷ giá hiệu lực danh nghĩa NEER) sẽ điều
chỉnh giảm được tác động tăng giá do mất giá đồng USD. Hình 3 minh họa mức biến
động giá lương thực theo nội tệ của các nước so với giá danh nghĩa của đồng USD và
tỷ giá hiệu lực danh nghĩa (NEER). Có thể nhận thấy, giá lương thực thế giới tính theo
VNĐ cao hơn mức giá tính theo USD do đồng Việt Nam mất giá so với USD. Giá
“Lạm phát Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010, thực trạng và giải pháp”
Giáo viên hướng dẫn: TS. Vũ Thị Minh Hằng

Nhóm thực hiện: Nhóm 12 – Lớp Đêm 01 – Cao học K19
- 11 -
lương thực theo bạt (Thái Lan) và nhân dân tệ (Trung Quốc) còn có phần rẻ hơn mức
tỷ giá hiệu lực danh nghĩa (NEER) của Mỹ. Chính nhờ chính sách tỷ giá linh hoạt,

Nhóm thực hiện: Nhóm 12 – Lớp Đêm 01 – Cao học K19
- 12 -
cho quí IV năm 2007, và ngay cả khi lạm phát lên tới 15,7% vào tháng 2-2008, thì
lương thực thực phẩm góp tới 10,8%. Tháng 3 và tháng 4, tỷ lệ lạm phát so với cùng
kỳ năm trước là 19,4% và 21,4%, phần đóng góp của lạm phát giá lương thực, thực
phẩm là 13,1% và 14,6%.
3. DIỄN BIẾN NĂM NĂM 2009 VÀ DỰ BÁO 2010:

Theo nhận định thì năm 2009, lạm phát chưa bùng phát là bởi kinh tế suy giảm
- người tiêu dùng đang lo tiết kiệm để phòng ngừa rủi ro nên cầu về tiêu dùng còn yếu.
Trong năm 2010, kinh tế vượt khỏi suy thoái thì cầu về tiêu dùng sẽ tăng mạnh và gây
áp lực lạm phát.
Năm 2009, giá cả các mặt hàng tiêu dùng không tạo thành cú sốc như năm
2008, kể cả gạo. Diễn biến giá tiêu dùng hàng tháng trong năm 2009 đã được phục hồi
lại sau những những bất thường của hai năm 2007 và 2008. Năm nay, giá cả được dự
báo là sẽ có tăng nhưng không tạo yếu tố gây sốc lớn, nếu không có gì quá bất thường (Nguồn: Tổng CụcThống Kê)
Năm 2010, kinh tế thế giới phục hồi và nhập khẩu đầu vào sẽ tăng giá nhưng
kinh tế thế giới cũng không thể phục hồi nhanh được. Với mục tiêu kiềm chế nhập
“Lạm phát Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010, thực trạng và giải pháp”
Giáo viên hướng dẫn: TS. Vũ Thị Minh Hằng


Giáo viên hướng dẫn: TS. Vũ Thị Minh Hằng

Nhóm thực hiện: Nhóm 12 – Lớp Đêm 01 – Cao học K19
- 14 -
Theo ông Vũ Đình Ánh: “Các mục tiêu của năm 2010 như tốc độ tăng
trưởng 6,5%, lạm phát khoảng 7% có thể đạt được thông qua các biện pháp không
mang tính cấp bách, tình thế, mà gắn với chiến lược phát triển tổng thể tái cơ cấu nền
kinh tế đảm bảo tăng trưởng ổn định, bền vững và hiệu quả hơn… Xét đến mục tiêu
tăng GDP 6,5% trong năm nay, tôi chưa thấy có yếu tố nào là động lực cho tăng
trưởng cả. Đầu tư thì chắc là không thể thêm nữa vì đã tăng cao quá rồi, bởi nếu ICOR
(hệ số sinh lời từ đồng vốn đầu tư) tạm tính là 8 thì đầu tư ít nhất phải tăng 45%! Bội
chi năm tới là 6,2% GDP, theo tôi là hơi cao, nên chắc cũng phải thắt chặt chi tiêu.
Còn tín dụng năm nay đã cao, nếu năm tới khống chế mức 25% thì rất khó có thể đáp
ứng đủ nguồn lực để đảm bảo tăng trưởng 6,5%. Soát lại các yếu tố để đảm bảo tăng
trưởng, tôi không thấy khả năng nào có thể đảm bảo mức tăng trưởng 6,5% cả… Cho
nên, nếu Chính phủ mở một yếu tố nào đó, mà mở quá mức đến không kiểm soát được
thì sẽ tạo ra lạm phát. Đó là cái đáng ngại của năm 2010, mà tôi nói phụ thuộc vào
chính sách là vì thế”.
Lo ngại của các chuyên gia trong nước cũng chính là những điểm lưu ý đối với
Việt Nam trong báo cáo mới đây của các tổ chức quốc tế là kinh tế có điều kiện hồi
phục, thoát khỏi ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nhưng lạm phát cao có thể
trở lại Cụ thể, ADB dự báo, nếu Chính phủ không thông qua các biện pháp kích
thích tài khóa bổ sung, nếu các chính sách thắt chặt tiền tệ vẫn được duy trì thì tăng
trưởng GDP của Việt Nam sẽ lên 6,5% vào năm 2010 và lạm phát là 8,5%.
Còn IMF cho rằng, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong năm 2010 ở mức
6% nhưng lạm phát có thể tăng từ 7% trong năm 2009 có thể lên 2 con số do tăng
trưởng tín dụng mạnh, đồng thời giá hàng hóa thế giới cao trở lại cũng sẽ tác động đến

tăng dẫn đến chi phí đầu tư tăng hơn trước do đó sẽ làm giảm nhiệt tình mở rộng chi
tiêu đầu tư. Hơn nữa, trong khi khống chế lạm phát thì đòi hỏi chính phủ phải thắt lưng
buộc bụng trong chi tiêu bằng các giải pháp tăng thuế thu nhập, giảm chi tiêu. Tăng
thuế làm giảm nhiệt tình làm việc và giảm chi tiêu đầu tư khu vực doanh nghiệp. Giảm
chi tiêu chính phủ sẽ có khả năng giảm chi tiêu phát triển, làm chậm tăng trưởng của
những nước đang phát triển trong quá trình công nghiệp hóa.
Theo thuyết tiền tệ Friedman, “tăng lãi suất ngân hàng cao hơn mức lạm phát”.
Muốn khắc phục lạm phát cần phải thi hành chính sách “hạn chế tiền tệ” hay “khắc
khổ” thu, tăng tín dụng của ngân hàng trung ương, hạn chế tăng lương, duy trì thất
nghiệp ở mức thấp.
Các cách tiếp cận khác:
- Đối với mọi cuộc siêu lạm phát và lạm phát phi mã, hầu như đều gắn liền
với sự tăng trưởng nhanh chóng về tiền tệ, thâm hụt ngân sách lớn… nên đề
ra những biện pháp giảm mạnh tốc độ tăng cung tiền, cắt giảm mạnh mẽ chi
“Lạm phát Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010, thực trạng và giải pháp”
Giáo viên hướng dẫn: TS. Vũ Thị Minh Hằng

Nhóm thực hiện: Nhóm 12 – Lớp Đêm 01 – Cao học K19
- 16 -
tiêu và kiểm soát có hiệu quả việc tăng lương danh nghĩa, chặn đứng và đẩy
lùi lạm phát.
- Đối với lạm phát vừa phải, muốn kiềm chế và đẩy lùi từ từ xuống mức thấp
hơn cũng đòi hỏi áp dụn chính sách nói trên. Tuy nhiên biện pháp nàykéo
theo sự suy thoái và thất nghiệp – một giá đắt – nên việc kiểm soát chính
sách tiền tệ tài khóa trở nên phức tạp và đòi hỏi phải hết sức thận trọng.
Có thể xóa bỏ lạm phát hay không? Cái giá phải trả của việc xóa bỏ hoàn toàn
lạm phát không tương xứng với lợi ích đem lại của nó, vì vậy các quốc gia thường

thương mại gia tăng lãi suất tín dụng thì sẽ làm cản trở đầu tư của khu vực doanh
nghiệp. Như vậy, thắt chặt tiền tệ có thể bình ổn lạm phát nhưng nguy cơ về sự phát
triển bền vững hệ thống tài chính cũng như cản trở đầu tư khu vực tư nhân là cái giá
phải trả.
1.3. Giảm thuế nhập khẩu hoặc áp dụng giá trần: cho các mặt hàng chiến lược
cũng có thể tạm thời bình ổn được lạm phát. Thông thường hai công cụ này được
chính phủ áp dụng đồng thời cho một loại hàng hóa chiến lược nào đó. Ví dụ việc
giảm thuế nhập khẩu xăng dầu sẽ kèm theo giá xăng dầu được chỉ đạo bởi chính phủ.
Thuế nhập khẩu xăng dầu thấp hơn nhưng giá xăng bán ra thị trường cũng thấp hơn
giá trị của nó. Khi đó chính phủ hàng ngày chi ra hàng tỉ để ổn định lạm phát. Mức
thuế thấp hơn sẽ làm thất thu ngân sách trong điều kiện những khoản chi bắt buộc vẫn
tồn tại. Hệ quả là khoản vay nợ trong và ngoài nước sẽ tăng lên đáng kể. Ngoài ra khi
duy trì một mức giá thấp hơn cân bằng thị trường thì sẽ có hiện tượng cầu vượt cung,
điều này tất yếu dẫn đến một thị trường chợ đen và nạn đầu cơ.
Có quá nhiều công cụ để chính phủ có thể bình ổn lạm phát chi phí đẩy nhưng
hầu như không có một giải pháp nào hoàn hảo. Lạm phát là một chủ đề nhạy cảm với
mọi người. Chúng ta phải nhìn thẳng vào một thực tế rằng: khắc phục lạm phát luôn
luôn có giá phải trả. Neo tỉ giá quá mức sẽ dẫn đến mất cạnh tranh ngoại thương. Thắt
chặt tiền tệ quá liều sẽ dẫn đến một hệ thống ngân hàng mong manh, giảm nhiệt tình
đầu tư của khu vực tư nhân. Giảm thuế trong điều kiện chi ngân sách không thể kiểm
soát thì sẽ dẫn đến khủng hoảng nợ nước ngoài. Áp dụng giá trần dễ tạo điều kiện cho
các hoạt động đầu cơ trục lợi. Các hệ quả này dẫn đến chi phí đánh đổi của nền kinh tế
khi khắc phục lạm phát là tăng trưởng chậm hơn, thất nghiệp nhiều hơn. Nói như thế
thì không có nghĩa là nên làm ngơ với lạm phát mà hãy nhìn nhận lạm phát đang ở
mức độ nào, thuộc loại nào để từ đó chính phủ và các nhà chính sách có những liệu
pháp thích hợp nhưng không chủ quan để tiến đến ổn định nền kinh tế.
“Lạm phát Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010, thực trạng và giải pháp”
Giáo viên hướng dẫn: TS. Vũ Thị Minh Hằng
b. Nghiêm khắc khống chế giá cả và bảo vệ lợi ích của người sản xuất và
người người tiêu dùng;
c. Bảo đảm cân bằng thu chi tài chính, sử dụng biện pháp tài chính ngân
hàng để khống chế lạm phát;
“Lạm phát Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010, thực trạng và giải pháp”
Giáo viên hướng dẫn: TS. Vũ Thị Minh Hằng

Nhóm thực hiện: Nhóm 12 – Lớp Đêm 01 – Cao học K19
- 19 -
d. Tăng cường quản lý ngoại hối, khống chế lạm phát;
e. Sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài;
f. Qui định những hành vi của xí nghiệp và thương nhân phối hợp chặt với
chính phủ.
2.3. Thực tiễn tại Việt Nam trong thời gian qua:
2.3.1. Thực trạng kiểm soát bằng các công vụ của chính sách tiền tệ những
năm qua:
a. Dự trữ bắt buộc:
Năm 1991-1992, các ngân hàng quốc doanh ngoài số vốn dự trữ tối thiểu theo
luật định còn có một lượng vốn tiền gửi khá lớn tại Ngân hàng Trung Ương. Điều này
trong một chừng mực nhất định đã vô hiệu hoá công cụ dự trữ bắt buộc vì như vậy khi
nâng cao hay hạ thấp tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì hầu như cũng chẳng ảnh hưởng gì đến
khả năng thanh toán và khối lượng tín dụng cung ứng. Mặt khác một số vấn đề tồn tại
về mặt nghiệp vụ và tổ chức thực hiện dự trữ bắt buộc đã giảm tính chất nhaỵ cảm của
công cụ.
Thời gian qua ngân hàng nhà nước cũng đã sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc
nhằm mục tiêu góp phần điều hành chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ và đã đạt
được một số kết quả nhất định trong việc kiểm soát lạm phát ở mức thấp

cách đầy đủ là vô cùng quan trọng và cấp thiết.
d. Lãi suất:
Tháng 06/1992, Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh lãi suất theo hướng: “Đảm
bảo lãi suất dương - Quy định mức lãi suất cho vay tối đa và mức lãi suất tiền gửi tối
thiểu, còn mức lãi suất cụ thể sẽ do các ngân hàng thương mại quyết định - Xoá bỏ cơ
chế nhiều mức lãi suất, thực hiện chính sách lãi suất bình đẳng”. Đây là bước cải tiến
cơ bản, từng bước tự do hoá lãi suất.
Trong những năm tiếp theo biện pháp chủ yếu là nâng cao lãi suất bằng biện
pháp hành chính lên mức cao, thực hiện thắt chặt tín dụng cấp cho khu vực kinh tế
quốc doanh và ngân sách nhà nước. Quyết định 381/QĐ-NH ngày 28-12-1995 quy
định kể từ ngày 01/01/1996, lãi suất trần chính thức trở thành một trong những công
cụ chủ chốt để điều hành chính sách tiền tệ. Bước đầu áp dụng không tránh khỏi những
vướng mắc nhưng sau một thời gian khá ngắn, hệ thống ngân hàng thương mại dường
như đã thích nghi được với cơ chế lãi suất trần, tự điều chỉnh nhằm tối ưu hoá cơ cấu
tín dụng và cân đối tài chính để sẵn sàng ứng chiếu với 5 lần điều chỉnh giảm trần lãi
suất của Ngân hàng Nhà nước trong 2 năm 1996-1997 và lần đầu chỉnh tăng lãi suất
trần gần đây trong tháng 01/1998.
“Lạm phát Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010, thực trạng và giải pháp”
Giáo viên hướng dẫn: TS. Vũ Thị Minh Hằng

Nhóm thực hiện: Nhóm 12 – Lớp Đêm 01 – Cao học K19
- 21 -
Thành quả lớn nhất mà cơ chế lãi suất trần mang lại chính là đã tạo ra các cơ
hội giảm chi phí một cách bình đẳng đối với mọi thành phần doanh nghiệp , tăng
cường thêm động lực cho guồng máy kinh tế cũng như gópphần kiềm chế tốt tốc độ
lạm phát.
Qua thực tiễn cho thấy, trong những năm gần đây chính sách lãi suất của Ngân

Nhóm thực hiện: Nhóm 12 – Lớp Đêm 01 – Cao học K19
- 22 -
a. Thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt:
Kiên quyết thắt chặt tiền tệ, nhưng bảo đảm tính thanh khoản của nền kinh tế và
hoạt động của ngân hàng, tổ chức tín dụng, tạo điều kiện cho sản xuất hàng hoá và
xuất khẩu phát triển.
b. Cắt giảm đầu tư công và chi phí thường xuyên của các cơ quan sử
dụng ngân sách, kiểm soát chặt chẽ đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước, cố
gắng giảm tỷ lệ thâm hụt ngân sách: quy định cụ thể tỷ lệ vốn đầu tư và chi phí hành
chính phải cắt giảm và yêu cầu các bộ, địa phương xác định các công trình kém hiệu
quả, các công trình chưa thực sự cần thiết để có sự điều chỉnh thích hợp. Chính phủ
yêu cầu rà soát chặt chẽ các hạng mục đầu tư của doanh nghiệp nhà nước, kiên quyết
cắt bỏ các công trình đầu tư kém hiệu quả, tạo điều kiện và tập trung vốn cho những
công trình sắp hoàn thành, những công trình đầu tư sản xuất hàng hoá thuộc mọi thành
phần kinh tế đẩy nhanh tiến độ, sớm đưa vào sản xuất.
c. Tập trung sức phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, khắc
phục nhanh hậu quả của thời tiết và dịch bệnh để tăng sản lượng lương thực, thực
phẩm: Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho các bộ trưởng, chủ tịch UBND chỉ đạo quyết
liệt, kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc về vốn, về thị trường, về thủ tục hành
chính, thúc đẩy sản xuất phát triển.
d. Bảo đảm cân đối cung cầu về hàng hoá, đẩy mạnh xuất khẩu, giảm
nhập siêu:
- Giao nhiệm vụ cho các đơn vị kinh doanh các mặt hàng thiết yếu phải bảo đảm
nguồn hàng và có trách nhiệm cùng Chính phủ kiềm giữ giá cả.
- Ngân hàng Nhà nước bảo đảm đủ vốn và mua hết ngoại tệ cho các doanh
nghiệp làm hàng xuất khẩu, xử lý ngay các ách tắc về tín dụng xuất khẩu; tăng cường
hỗ trợ xúc tiến thương mại xuất khẩu; cải cách mạnh thủ tục hành chính liên quan đến
xuất khẩu để giảm chi phí cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh
của hàng xuất khẩu Việt Nam; áp dụng các hàng rào kỹ thuật và các biện pháp phù
“Lạm phát Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010, thực trạng và giải pháp”

hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, các giải pháp hỗ trợ khác đối với các vùng
khó khăn, vùng bị thiên tai.
- Giữ ổn định mức thu học phí, viện phí, tiếp tục cho sinh viên, học sinh đại học,
cao đẳng, học nghề hoàn cảnh khó khăn được vay ưu đãi để học tập.
“Lạm phát Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010, thực trạng và giải pháp”
Giáo viên hướng dẫn: TS. Vũ Thị Minh Hằng

Nhóm thực hiện: Nhóm 12 – Lớp Đêm 01 – Cao học K19
- 24 -
- Xây dựng cơ chế và kiểm tra việc thực thi, bảo đảm nguồn hỗ trợ của Nhà nước
đến đúng đối tượng, không bị thất thoát, tham nhũng.

3. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT:

3.1. Chính sách tiền tệ:
- Tăng cường quyền hạn quản lý và tính độc lập cho Ngân hàng Nhà nước để xây
dựng, thực thi Chính sách tiền tệ, và kiểm soát, điều tiết tất cả các kênh “bơm” hay
“hút” tiền, áp dụng căn bản các chuẩn mực quốc tế về thanh tra, giám sát ngân hàng.
- Phát triển thị trường tài chính đủ sâu về quy mô cũng như khối lượng tương
xứng với nhu cầu vốn cho sự phát triển kinh tế trong tương lai.
- Củng cố hệ thống các Tổ chức Tín dụng một cách lành mạnh và hiệu quả: hoàn
thành tiến độ cổ phần hóa các Ngân hàng Quốc doanh; nâng cao năng lực quản trị rủi
ro, kỹ năng quản trị điều hành và hiện đại hóa công nghệ của các Tổ chức Tín dụng.
- Sớm hoàn thành phương pháp tính toán lạm phát cơ bản và nâng cao khả năng
dự báo lạm phát để làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế, tạo thế
chủ động trong việc điều hành chính sách tiền tệ và nâng cao niềm tin của các chủ thể
kinh tế.

- Tăng hiệu quả chi tiêu ngân sách bằng việc hoàn thành các chương trình, các dự
án đúng thời hạn để sớm phát huy tác dụng. Giảm chi phí trong các cơ quan khối công
quyền, tích cực chống tiêu cực và lãng phí. Không nên sử dụng các biện pháp có tính
bao cấp từ nguồn ngân sách nhà nước như: cấp bù lỗ, cấp bù lãi suất, khoanh nợ,
- Giảm mức tăng chi phí phải thực hiện tiết kiệm trong sản xuất, bản thân các
doanh nghiệp cần tăng cường quản lý sản xuất theo định mức, kiểm tra chặt chẽ các
yếu tố đầu vào, chủ động nghiên cứu tìm vật tư thay thế với chi phí thấp, nhất là đối
với vật tư nguyên liệu nhập khẩu.
- Hoàn thiện công nghệ, đổi mới công nghệ, cải tiến tố chức quản lý.
3.3. Đẩy mạnh sản xuất:
Đẩy mạnh sản xuất hàng hoá vật chất, tăng năng suất lao động hơn nữa, nhất là sản
xuất vật tư, nguyên vật liệu, hàng hoá tiêu dùng nhằm tăng năng lực của nền kinh tế,
hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng để thúc đẩy tiêu dùng nội địa.
3.4. Đảm bảo cân đối các mặt hàng chủ yếu, đẩy mạnh xuất khẩu, chống nhập
siêu: Giảm thuế nhập khẩu hoặc áp dụng giá trần cho các mặt hàng chiến lược.
3.5. Quản lý thị trường, chống đầu cơ:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status