Tiểu luận:
Lạm phát Việt Nam trong
giai đoạn 2007-2009
MỤC LỤC
Phần 1 : mở đầu
Phần 2 : nội dung
Chương 1 : Lý thuyết lam phát
1.1Các quan niệm về lạm phát
1.1.1 Trương phái lưu thông tiền tệ
1.1.2 Trường phái cầu kéo
1.1.3 Trường phái lạm phát và giá cả
1.1.4 Trương phái K.Marx
1.2 Phân loại lạm phát
1.2.1 Căn cứ vào định lượng gồm:
1.2.2Căn cứ vào định tính :
1.3Nguyên nhân lạm phát
1.3.1 Lạm phát do cầu kéo :
1.3.2 Lạm phát do chi phí đẩy :
1.3.3 Lạm phát do cung tiền tệ tăng cao và liên tục
1.3.4 Các nguyên nhân khác
1.4 Tác động của lạm phát
1.4.1 Lạm phát không dự kiến được
1.4.2 Lạm phát dự kiến được
1.5 Chính sách và biện pháp trong thòi kì lam phát
1.5.1 Biện pháp đối phó với lạm phát
1.5.1.1Những biện pháp tình thế
1.5.1.2Những biện pháp chiến lược
1.5.2Chính sách lạm phát
1.5.3 Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
1.5.4 Lạm phát theo mục tiêu
1.5.4.1Giới thiệu lạm phát mục tiêu (LPMT)
Phần 1 : mở đầu
Trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia trên thế giới và ở Việt
Nam, lạm phát nổi lên là một vấn đề đáng quan tâm về tác động của nó đối với sự
nghiệp phát triển kinh tế. Lạm phát là một trong những chỉ tiêu đánh giá trình độ
phát triển kinh tế của một quốc gia nhưng cũng là một trong những trở ngại lớn nhất
trong công cuộc phát triển đất nước. Lạm phát được coi như là một căn bệnh thế kỷ
của nền kinh tế thị trường. Càng ngày, cùng với sự phát triển đa dạng phong phú
của nền kinh tế thì nguyên nhân dẫ đến lạm phát cũng ngày càng trở nên phức tạp
hơn.Đối với nước ta, trong sự nghiệp phát triển kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa có sự điều tiết của nhà nước, cơ chế mới sẽ là môi trường thúc đẩy sự
phát triển của nền kinh tế theo xu hướng hiện đại, chắc lọc thừa kế những thành tựu
và khắc phục những tồn tại đã qua. Trong đó, lạm pháp nổi lên như là mộtvấn đề
hết sức nghiêm trọng. Vì vậy, việc nguyên cứu về lạm phát, tìm hiểu nguyên nhân
và các biện pháp chống lạm phát là hết sức cần thiết và có vai trò to lớn góp phần
vào sự nghiệp phát triển của đất nước.
Từ năm 1976 đến nay, Việt Nam trải qua hai giai đoạn phát triển chính được đánh
dấu bằng mốc khởi đầu đổi mới năm 1986 : nền kinh tế chuyển từ kế hoạch hóa tập
trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong cả hai giai
đoạn này, lạm phát luôn là mọt vấn đề được quan tâm hang đầu trong các chính
sách và chến lược phát triển, nhất là trong những thời điểm lạm phát dâng cao như
nửa cuối thập niên 1970 – nửa đầu thập niên 1980 và lại nổi lên từ năm 2007 cho
đến nay.
Lạm phát ở nước ta giai đoạn 2007 cho đến nay có tác động sâu rộng đến các lĩnh
vực của đời sống xã hội. Với sự điều hành quản lý của nhà nước đã phần nào ngăn
chặn, khắc phục nhưng tác động của lạm phát, tình hình ngày càng được ổn định.
Tuy nhiên, lạm phát vẫn chưa thật sự được đẩy lùi mà còn có nguy cơ quay trở lại,
diễn biến một cách phức tạp. Vì thế, việc tìm hiểu lạm phát trong thời gian qua về
nguyên nhân, diễn biến, tác động, giải pháp… sẽ giúp ta có một cái nhìn tổn quan
hơn, đúc kết được kinh ngiệm để xây dựng chiến lược phát triển đất nước trong thời
gian sắp tới.
thời kỳ giá mà không có lạm phát như: thời kỳ "cách mạng giá cả" ở thế kỷ
XVI ở châu Âu, thời kỳ hưng thịnh của một chu kỳ sản xuất, những năm
mất mùa... tăng giá chỉ là hệ quả là một tín hiệu dễ thấy của lạm phát nhưng
có lúc tăng giá lại trở thành nguyên nhân của lạm phát. Lạm phát xảy ra là
do tăng nhiều cái chứ không phải chỉ đơn thuần do tăng giá. Vì vậy quan
điểm của trường phái này đã lẫn lộn giữa hiện tượng và bản chất, làm cho
người ta dễ ngộ nhận giữa tăng giá và lạm phát.
1.1.4 Trương phái K.Marx
K.Marx đã cho rằng "lạm phát là sự tràn đầy các kênh, các luồng lưu
thông những tờ giấy bạc thừa làm cho giá cả (mức giá) tăng vọt và việc phân
phối lại sản phẩm xã hội giữa các giai cấp trong dân cư có lợi cho giai cấp tư
sản. Ở đây Marx đã đứng trên góc độ giai cấp để nhìn nhận lạm phát, dẫn tới
người ta có thể hiểu lạm phát là do nhà nước do giai cấp tư bản, để bóc lột
một lần nữa giai cấp vô sản. Quan điểm này có thể xếp vào quan điểm lạm
phát "lưu thông tiền tệ" song định nghĩa này hoàn hảo hơn vì nó đề cấp tới
bản chất kinh tế - xã hội của lạm phát. Tuy nhiên nó có nhược điểm là cho
rằng lạm phát chỉ là phạm trù kinh tế của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa và
chưa nêu được ảnh hưởng của lạm phát trên phạm vi quốc tế.
Trên đây là các quan điểm của các trường phái kinh tế học chính. Nói
chung các quan điểm đều chưa hoàn chỉnh, nhưng đã nêu được một số mặt
của hai thuộc tính cơ bản của lạm phát. Bàn lạm phát là vấn đề rộng và để
định nghĩa được nó đòi hỏi phải có sự đầu tư sâu và kỹ càng.
Chúng ta có thể dễ chấp nhận quan điểm của trường phái giá cả, (ở
nước ta và nhiều nước quan niệm này tương đối phổ biến). Sở dĩ như vậy là
vì thế kỷ XX là thế kỷ lạm phát, lạm phát hầu như diễn ra ở tuyệt đại bộ
phận các nước mà sự tăng giá lại là tín hiệu nhạy bén, dễ thấy của lạm phát.
Như vậy chúng ta sẽ hiểu đơn giản là "lạm phát là sự tăng giá kéo dài, là sự
thừa các đồng tiền trong lưu thông, là việc nhà nước phát hành thêm tiền
nhằm bù đắp bội chi ngân sách". Hay lạm phát là chính sách đặc biệt nhanh
chóng và tối đa nhất trong các hình thức phân phối lại giá trị vật chất xã hội
.Tuy nhiên siêu lạm phát rất ít xảy ra .
1.2.2Căn cứ vào định tính :
* Lạm phát cân bằng và lạm phát không cân bằng .
- Lạm phát cân bằng : Tăng tương ứng với thu nhập thực tế của
người lao động ,tăng phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp .Do đó không gây ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của
người lao động và dến nền kinh tế nói chung.
-Lạm phát không cân bằng :Tăng không tương ứng với thu nhập của
người lao động.Trên thực tế loại lạm phát này cũng thường hay xảy ra .
*Lạm phát dự đoán trước được và lạm phát bất thường
- Lạm phát dự đoán trước : là loại lạm phát xảy ra hàng năm trong
một thời kì tương đối dài và tỷ lệ lạm phát ổn định đều đặn .Loại lạm phát
này có thể dự đoán trước được tỷ lệ của nó trong các năm tiếp theo.Về mặt
tâm lý ,người dân đã quen với tình trạng lạm phát đó và đã có sự chuẩn bị
trước.Do đó không gây ảnh hưởng đến đời sống ,đến kinh tế .
- Lạm phát bất thường: xảy ra đột biến mà có thể từ trước chưa xuất
hiện .Loại lạm phát này ảnh hưởng đến tâm lý ,đời sống người dân vì họ
chưa kịp thích nghi .Từ đó mà loại lạm phát này sẽ gây ra biến động đối với
nền kinh tế và niềm tin của nhân dân vào chính quyền có phần giảm sút .
Đối với các nước đang phát triển lạm phát thường kéo dài , do đó các nhà kinh tế
đã chia lạm phát thành 3 loại với tỷ lệ khác nhau : lạm phát kinh liên kéo dài trên
3 năm với tỷ lệ lạm phát dưới 50% một năm ,lạm phát nghiêm trọng thường kéo
dài hơn 3 năm với tỷ lệ lạm phát trên 50% và siêu lạm phát kéo dài trên một năm
với tỷ lệ lạm phát trên 200% một năm .
1.3Nguyên nhân lạm phát
1.3.1 Lạm phát do cầu kéo :
Đây chính là sự mất cân đối trong quan hệ cung – cầu. Nguyên nhân
chính là do tổng cầu tăng quá nhanh trong khi tổng cung không tăng hoặc
tăng không kịp , hay nói cách khác là nền king tế đã vượt qua mức sản lượng tiềm
năng của nó . Lúc này thì đồng tiền cầu sẽ vượt quá mức cung hàng hóa có giới hạn
.Có thể thấy ngưỡng tăng cung tiền để gây lạm phát là nền kinh tế toàn dụng
.Khi nền kinh tế chưa toàn dụng thì nguồn nguyên nhiên vật liệu còn nhiều
,chưa khai thác nhiều .Có nhiều nhà máy xí nghiệp bị đóng cửa chưa đi vào
hoạt động .Do đó nhân viên nhàn rỗi lớn và tỷ lệ thất nghiệp cao … Trong
trường hợp này ,khi tăng cung tiền thì dẫn đến lãi suất giảm đến một mức độ
nào đó ,các nhà đầu tư thấy rằng có thể có lãi và đầu tư tăng nhiều.từ đó các
nhà máy ,xí nghiệp mở cửa để sản xuất ,kinh doanh .Lúc này nguyên nhiên
vật liệu bắt đầu được khai thác ,người lao động có việc làm và sản lượng
tăng lên .
Ở nền kinh tế toàn dụng ,các nhà máy ,xí nghiệp được hoạt động hết
công suất ,nguồn nguyên nhiên vật liệu được khai thác tối đa .Khi đó lực
lượng lao động được sử dụng một cách triệt để và làm sản lượng tăng lên rất
nhiều.Tuy nhiên tình hình sẽ dẫn đến một vài kênh tắc nghẽn trong lưu
thông .Chẳng hạn khi các nhà máy ,xí nghiệp hoạt động hết công suất sẽ dẫn
đến thiếu năng lượng ,thiếu lao động ,nguyên vật liệu dần bị han hiếm
…Vai trò của chính phủ và các nhà quản lý phải xác định được kênh lưu
thông nào bị tắc nghẽn và tìm cách khơi thông nó .Nếu không sẽ gây ra lạm
phát.Lúc đó sản lượng không tăng mà giá cả tăng nhiều thì lạm phát tất yếu
sẽ xảy ra .
Trong việc chống lạm phát các Ngân hàng trung ương luôn giảm sút
việc cung tiền .
Trường hợp tăng cung tiền có thể đạt được bằng hai cách :
Ngân hàng trung ương in nhiều tiền hơn (khi lãi xuất thấp và điều
kiện kinh doanh tốt ) hoặc các ngân hàng thương mại có thẻ tăng tín dụng
.Trong cả hai trường hợp sẵn có lượng tiền nhiều hơn cho dân cư và chi phí
.Về mặt trung và dài hạn ,điều đó dẫn đến cầu và hàng hoá và dịch vụ tăng
.Nếu cung không tăng tương ứng với cầu thì việc dư cầu sẽ được bù đắp
bằng việc tăng giá.Tuy nhiên giá cả sẽ không tăng ngay nhưng nó sẽ tăng
sau đó 2-3 năm .In tiền để trợ cấp cho chi tiêu công cộng sẽ dẫn đến lạm
phát nghiêm trọng .Ví dụ năm 1966-1967 ,chính phủ Mỹ đã sử dụng việc
càng lớn.
Còn đối với những quốc gia có nền kinh tế phát triển thì việc phát
hành trái phiếu có lợi hơn.Nhưng việc phát hành này kéo dài sẽ làm cầu về
vốn sẽ tăng và lãi xuất tăng cao hơn .Lúc này để giảm lãi xuất trên thị
trưòng Ngân hàng Trung ương lại phải mua vào các trái phiếu đó .Như thế
mức cung tiền lại tăng lên và dễ gây lạm phát.
Tóm lại , nếu như thâm hụt ngân sách kéo dài thì trong mọi trường
hợp vẫn làm tăng cung tiền và lạm phát xảy ra là một điều chắc chắn.
Một nguyên nhân nữa có thể gây ra lạm phát là tỷ giá hối đoái .Khi tỷ
giá tăng đồng bản tệ sẽ bị mất giá Khi đó tâm lý những người sản xuất trong
nước muốn đẩy giá hàng lên tương ứng với mức tăng tỷ giá hối đoái .Mặt
khac khi tỷ giá hối đoái tăng ,chi phí cho các nguyên vật liệu ,hàng hoá nhập
khẩu sẽ tăng lên .Do đó giá cả của các hàng hoá này tăng lên cao.Đây chính
là lạm phát do chi phí đẩy
Bên cạnh đó các nguyên nhân liên quan đến chính sách của nhà nước
,chính sách thuế ,chính sách cơ cấu kinh tế không hợp lý ,mất cân đối cũng
xảy ra lạm phát.
1.4 Tác động của lạm phát
1.4.1 Lạm phát không dự kiến được
*Tác động đến lĩnh vực sản xuất
-Tiêu cực : tỷ lệ lạm phát cao sẽ làm cho giá đầu vào và giá đầu ra biến động
không ngừng gây ra sự mất ổn định đối với nhà sản xuất. Sự mất giá của đồng tiền
làm cho nghiệp vụ kế toán không còn chính xác nữa. Những doanh nghiệp có tỷ
xuất lợi nhuận thấp sẽ có nguy cơ phá sản rất lớn.
-Tích cực : khi lạm phát xảy ra với một tỷ lệ chấp nhận được thì sẽ có lợi cho nền
kinh tế. Lãi xuất giảm khuyến khích doanh nghiệp gia tăng vốn đầu tư để mở rộng
sản xuất. Đồng thời cũng khuyến khích tiêu dùng làm cho hàng hóa được bán chạy
hơn. Do đó, lúc này lạm phát sẽ có tác dụng kích thích tăng trưởng kinh tế.
*Tác động đến lĩnh vực lưu thông
Lạm phát thúc đẩy quá trình đầu cơ, tích trữ dẫn đến khan hiếm hàng hóa, làm mất
nó vẫn gây ra nhứng tổn thất nhất định. Lạm phát làm thay đổi giá một cách không
mong muốn.
* Khi lạm phát xảy ra, một số doanh nghiệp tăng giá, bên cạnh đó cũng có một số
doanh nghiệp không tăng giá do không muỗn phát sinh thêm một số chi phí khi
tăng giá. Do vậy có một sự chênh lệch giứa các doanh nghiệp tăng giá và các
doanh nghiệp không tăng giá. Do nền kinh tế thị trường phân bổ nguồn lực dựa
trên giá tương đối nên lạm phát đã dẫn tới tình trạng kém hiệu quả xét trên gốc độ
vi mô.
*Lạm phát còn gây ra sự nhầm lẫn bất tiện. Đồng tiền được sử dụng để làm thước
đo giá trị. Khi có lạm phát, thước đo này bị co giãn. Vì thế gây khó khăn cho quá
trình ra quyết định của cá nhân, tổ chức.
*Đồng thời, lạm phát còn làm phát sinh các chi phí như in ấn, phát hành bảng giá,
bảng quảng cáo mới…
1.6 Chính sách và biện pháp trong thòi kì lam phát
1.5.1 Biện pháp đối phó với lạm phát
1.5.1.1Những biện pháp tình thế
*Chính sách đóng băng tiền tệ : giảm lượng tiền trong nền kinh tế bằng cách ngưng
phát hành tiền vào kênh lưu thông. Đồng thời, dừng các nghiệp vụ làm tăng lượng
cung ứng tiền tệ như dừng các nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu đối với các tổ
chức tín dụng,dừng việc mua vào các chứng khoán ngắn hạn, không phát hành tiền
bù đắp bội chi ngân sách. Bên cạch đó còn có các biện pháp làm giảm lượng tiền
cung ứng như ngân hàng trung ương bán ra các chứng khoán ngắn hạn, bán ngoại tệ
, phát hành các công cụ nợ của chính phủ để vay tiền trong nền kinh tế để bù đắp
cho thâm hụt ngân sách, tăng lãi suất tiền gửi
*Thi hành chính sách thắt chặt tài chính như tạm hoãn nhứng khoản chi không cần
thiết, cân đối lại ngân sách và cắt giảm chi tiêu đến mức có thể.
*Tăng lượng hàng hóa tiêu dùng để cân đối với lượng tiền trong lưu thông bằng
cách khuyến khích tự do mậu dịch, giảm thuế quan…
*Đi vay hoặc xin viện trợ từ nước ngoài
*Cải cách tiền tệ. Đây là biện pháp cuối cùng khi các biện pháp kia không hiệu quả.
Nam trong thời gian qua, nhiều nhà kinh tế cho rằng mức lạm phát tối ưu của nền
kinh tế Việt Nam là ở mức 5 – 7%.
Thực tế trên cả lý thuyết và cả thực tiễn đều cho thấy mối quan hệ giữa lạm phát và
tăng trưởng kinh tế đều biểu diễn bằng hình chữ “U” ngược. Điều đó hàm ý rằng
tồn tại một phạm vi lạm phát an toàn khi mà lạm phát và tăng trưởng quan hệ cùng
chiều. Trong trường hợp đó lạm phát là cái giá phải trả của tăng trưởng kinh tế.
Nới lỏng chính sách tài khóa và tiền tệ có xu hướng tăng lạm phát, mặt khác sẽ có
tác dụng khuyến khích đầu tư, mở rộng tổng cầu và do vậy cho phép sử dụng hiệu
quả hơn các nguồn lực hiện có và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nhiều nước dã sử
dụng chính sách này để tăng trưởng kinh tế. Đây là giải pháp thúc đẩy nhanh nhưng
kém bền vững, nó còn được gọi là giải pháp tăng trưởng “ bong bóng” . Lạm phát
quá cao chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.
Các nước phát triển chọn giải pháp tăng trưởng kinh tế thực chất, đó là dựa trên cơ
sở lạm phát ở mức thấp. Trong nền kinh tế thị trường, lạm phát ổn định thì hiệu quả
của việc dự báo được nâng cao. Điều đó giúp các nhà đầu tư có thể xây dựng các
phương án đầu tư hiệu quả, còn đối với người tiêu dùng thì yên tâm chi tiêu, không
phải cân nhắc các mặt hàng khác thay thế do giá tăng. Tất cả các điều đó góp phần
vào tăng trưởng thực chất.
Tuy nhiên cũng phải hiểu rằng lạm phát ổn định chỉ là điều kiện đủ cho tăng trưởng
kinh tế còn điều kiện cần phải là vấn đề của chính phủ trong việc phát triển nguồn
lực, vốn, công nghệ kỹ thuật…
1.5.4 Lạm phát theo mục tiêu
1.5.4.1Giới thiệu lạm phát mục tiêu (LPMT)
Tại nhiều nước lạm phát được coi là vấn đề kinh tế - xã hội rất nghiêm trọng. Một
khi nền kinh tế có lạm phát ở mức cao độ sẽ làm giảm tiết kiệm, sụp đổ đầu tư, các
nguồn vuốn trong nước sẽ chạy ra nước ngoài. Lạm phát còn làm giảm tốc độ tăng
trưởng kinh tế, mất khả năng thực hiện những kế hoạch dài hạn và tạo nên sự căng
thẳng quốc gia.
Trên thế giới có nhiều nước lấy khối lượng tiền (M2 hay M3) hoặc tỷ giá làm mục
tiêu trung gian để điều hành Chính sách tiền tệ (CSTT) của quốc gia. Tuy nhiên
Tuy nhiên không phải bất kỳ nước nào cũng có thể thực hiện được LPMT. Kinh
nhiệm từ các nước áp dụng LPMT đã chỉ ra sự cần thiết phải có những điều kiện tối
thiểu để áp dụng lạm phát mục tiêu trong điều hành CSTT là:
• Lạm phát chỉ có thể áp dụng ở những nước mà ở đó có thể đảm bảo
được lạm phát ở mức thấp không chỉ trên hình thức mà cả trên thực tế.
• NHTW cần có một mức độc lập tương đối để thực thi CSTT. Mắc dù
trên thực tế không có một NHTW nào có thể hoàn toàn dộc lập khỏi sự ảnh hưởng
của chính phủ. Để thực hiện yêu cầu này, quốc gia cần từ bỏ nguyên tắc “ngân sách
chi phối” cũng như các vấn đề thuộc chính sách tài khóa không được gây bất cứ ảnh
hưởng nào đến CSTT và các thị trường tài chính trong nước phải có đủ độ sâu để
“nuốt chửng” các đợt phát hành nợ của chính phủ. Chính phủ phải có cơ sở nguồn
thu rộng rãi và không đưa vào hệ thống nguồn thu bù đắp của chính phủ là nguồn
thu từ in tiền.
• NHTW phải có khả năng thực hiện lạm phát mục tiêu và không có
trách nhiệm với bất kỳ mục tiêu khác như: tiền lương, mức thất nghiệp hay tỉ giá..
Lạm phát mục tiêu cũng có một số nhược điểm khi việc áp cụng không thỏa mãn
một số điều kiện của nó:
• Khi năng lực điều tiết của CSTT không cao sẽ đẩy NHTW vào vòng
lẩn quẩn trong việc lựa chọn ưu tiên giữa các cơ chế điều hành (tỷ giá, lạm phát và
khối lượng tiền) của CSTT.
• Khi áp dụng LPMT , NHTW sẽ phải chịu trách nhiệm chính thức
trong việc thực hiện CSTT để đạt được chỉ số mục tiêu dựa trên dự báo chỉ số lạm
phát do chính phủ đưa ra. Khi đó dự báo lạm phát được xem như là mục tiêu trung
gian của CSTT, vì vậy không ít người đã không đề cập đến lạm phát mục tiêu mà
chỉ nói đến dự báo lạm phát mục tiêu.
1.5.4.5 Quy trình thực hiện LPMT
Quy trình của LPMT khá đơn giản, bản chất của nó bao gồm: NHTW dự đoán xu
hướng lạm phát năm sau, dự báo này được so với chỉ số mục tiêu mà NHTW mong
muốn đạt được, khoảng cách chênh lệch giữa chỉ số dự báo và chỉ số mục tiêu sẽ
nói lên mức độ mà CSTT cần điều chỉnh. Tuy nhiên trên thực tế vẫn đề kỹ thuật
các vấn đề mà hiện tại các nước đang phát triển gặp phải. Ngoài ra khi xem xét khả
năng áp dụng ở các nước đang phát triển những trở ngại cơ bản nhất là thu nhập của
chính phủ dựa vào nguồn in tiền, thị trường tài chính trong nước yếu kém và hệ
thống ngân hàng không ổn định.
Dựa vào nguồn in tiền: chú trọng nguồn thu từ in tiền là một bằng chứng đơn giản
và rõ ràng nhất của ngân sách chi phối khi chính phủ không đủ khả năng nâng cao
và mở rộng cơ sở nguồn thu của mình. Đối với các nước đang phát triển, việc
thường xuyên sử dụng in tiền làm nguồn thu chính là nguyên nhân biến dạng cấu
trúc hệ thống thuế…Tuy nhiên thông thường không điều gì có thể giới hạn được
chính phủ sử dụng in tiền nhất là trong giai đoạn khủng hoảng.
Thị trường tài chính: Thị trường tài chính yếu kém cũng có thể là một minh chứng
cho việc ngân sách chi phối. Ở các nước đang phát triển Ngân hàng thường bị buộc
trách nhiệm vào việc phát hành giấy tờ có giá trị của chính phủ.
Hệ thống ngân hàng: Một vấn đề khó khăn nữa trong việc áp dụng LPMT tại các
nước đang phát triển là hệ thống ngân hàng dễ đổ vỡ. Củng cố khu vực ngân hàng
cũng có thể dẫn đến xung đột nguyên tắc ổn định giá cả. Để nâng cao tính thanh
khoản cho hệ thống ngân hàng, điều thường xảy ra ở các nước đang trong giai đoạn
chuyển đổi việc rót vốn làm tăng tổng tiền cung ứng ngoài kế hoạch và cuối cùng sẽ
phá tan kế hoạch duy trì giá cả ổn định của NHTW.
Ở những nước mà thị trường tài chính hoạt động tương đối tốt, lạm phát tương đối
vừa phải và không có tình trạng ngân sách chi phối thì sự độc lập của CSTT phụ
thuộc chủ yếu chế độ tỷ giá hối đoái và khả năng dịch chuyển của các luồng vốn.
Hiện nay hầu hết các nước bao gồm các nước đang phát triển lựa chọn chế độ tỷ giá
thả nổi có quản lý. Nhưng chế độ tỷ giá linh hoạt không làm các cơ quan quản lý
đánh giá thấp hơn tầm quan trọng đối với mục tiêu tỷ giá hoặc chấm dứt việc sử
dụng tỷ giá như một công cụ của CSTT. Điều này dẫn đến gánh nặng cho CSTT,
bởi như một trong những tiền đề của việc áp dụng LPMT là ưu tiên mục tiêu lạm
phát hơn các mục tiêu chính sách khác. Hay chỉ tiêu lạm phát phải chiếm ưu thế hơn
tất cả các mục tiêu còn lại của CSTT. Do đó duy trì tỷ giá hối đoái sẽ xung đột với
nguyên tắc lạm phát mục tiêu.
Quá trình lạm phát ở Việt Nam có thể chia ra làm hai giai đoạn lớn: những năm
trước Đổi mới 1986 và từ 1986 đến nay.
2.1.1.1Giai đoạn những năm trước Đổi mới 1986:
* Giai đoạn 1980 về trước:
Từ năm 1980 trở về trước, lạm phát đã tồn tại nhưng không công khai, các nghị
quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam không sử dụng khái niệm lạm phát mà chỉ sử
dụng các cụm từ “chênh lệch giữa thu và chi, giữa hàng và tiền”, “thị trường vật giá
không ổn định...”. Hay nói cách khác, lạm phát trong giai đoạn này là “lạm phát
ngầm”. Do cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Nhà nước có vai trò định giá cho
hầu hết các sản phẩm và dịch vụ lưu thông trên thị trường.
+ Thời kỳ 1938-1945: Ngân hàng Đông Dương cấu kết với chính quyền thực dân
Pháp đã lạm phát đồng tiền Đông Dương để vơ vét của cải nhân dân Việt Nam
nhằm đem về Pháp đóng góp cho cuộc chiến tranh chống phát xít Đức. Hậu quả
nặng nề của lạm phát là nhân dân Việt Nam phải chịu giá sinh hoạt từ năm 1939-
1945 bình quân là 25 lần.
+ Thời kỳ 1946-1954 : chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà do chủ tịch Hồ Chí
Minh sáng lập và lãnh đạo đã phát hành đồng tài chính thay cho đồng Đông Dương
và sau đó là đồng ngân hàng thay cho sức người, sức của toàn dân tiến hành cuộc
kháng chiến 9 năm đánh đuổi quân xâm lược Pháp, kết quả giải phóng hoàn toàn
nửa đất nước.
+ Thời kỳ 1955-1965 : chính phủ tay sai Mỹ ở miền Nam Việt Nam liên tục lạm
phát đồng tiền miền Nam để bù lại cuộc chiến tranh chống lại phong trào giải phóng
dân tộc ở miền Nam. Mặc dù chính phủ Mỹ đổ vào miền Nam một khối lượng hàng
viện trợ khổng lồ với giá trị hàng trăm tỉ đô la nhưng cũng không thể bù đắp được
chi phí bỏ ra.