BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
TRƢƠNG TUẤN ANH
NGHIÊN CỨU PHƢƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ
SỰ CỐ TRÊN ĐƢỜNG DÂY TẢI ĐIỆN
DỰA TRÊN MẠNG NƠRON MLP Chuyên ngành: Kỹ thuật điện
Mã số: 62520202 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT ĐIỆN Hà Nội - 2014
Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
chí Khoa học & Công nghệ các trường Đại học Kỹ thuật, số 81,
trang 42-46, Hà Nội.
[2] Trần Hoài Linh, Trương Tuấn Anh (2011) Ứng dụng wavelet
daubechies trong phát hiện thời điểm sự cố ngắn mạch trên
đường dây dài. Hội nghị toàn quốc về Điều khiển và Tự động
hoá VCCA-2011, Trang 393-398, Hà Nội.
[3] Tran Hoai Linh, Truong Tuan Anh, David Cartes (2012)
Detection of Tow-Phase Shortage Fault Event on Transmission
Line by Using Daubechies wavelets. International Symposium on
Technology for Sustainability, November 21–24, 2012,
Swissôtel Le Concorde, Bangkok, Thailand, pp 164-167.
[4] Truong Tuan Anh, Tran Hoai Linh, Pham Hong Thinh (2012)
Two-Phase short - circuit fault detections for transmission line
by using artificial Neural Networks. Journal of Science &
Technology Technical Universities, No 91, trang 30-35, Ha Noi.
[5] Trương Tuấn Anh, Trần Hoài Linh, Đinh Văn Nhượng (2013)
Phối hợp mạng Nơron và phương pháp tổng trở để xác định vị
trí sự cố ngắn mạch trên đường dây tải điện. Hội nghị toàn quốc
về Điều khiển và Tự động hoá VCCA-2013, Trang 663-669, Đà
Nẵng.
- 1 -
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình vận hành, đường dây truyền tải điện có thể gặp
nhiều sự cố như sét đánh, ngắn mạch, đứt dây, chạm đất, sự cố từ các
thiết bị, hoạt động sai của thiết bị hay sự cố từ phía người sử dụng,
- 2 -
dụng mạng nơron MLP do khả năng có thể xấp xỉ hàm phi tuyến bất
kỳ với độ chính xác cho trước của mạng này. Đồng thời các thông số
của mạng nơron MLP sẽ được điều chỉnh thích nghi trên cơ sở bộ số
liệu mẫu được tạo ra nhờ vào việc sử dụng phần mềm ATP/EMTP để
mô phỏng quá trình quá độ trên đường dây gây ra bởi một số sự cố
ngắn mạch (ngắn mạch 1 pha, 2 pha, 2 pha chạm đất và ngắn mạch 3
pha) khi thay đổi các thông số như: điện trở sự cố, vị trí sự cố, phụ tải
và thời điểm xuất hiện sự cố. Mạng nơron MLP được đề xuất thử
nghiệm theo hai dạng: dạng thứ nhất là hoạt động độc lập, xử lý trực
tiếp các đặc tính đầu vào từ 6 tín hiệu dòng – áp ba pha để đưa ra vị trí
sự cố, dạng thứ hai là hoạt động phối hợp với một thuật toán tổng trở,
đáp ứng đầu ra của mạng nơron MLP và của thuật toán tổng trở sẽ
được cộng với nhau để đưa ra kết quả ước lượng vị trí sự cố. Các chi
tiết đề xuất sẽ được trình bày ở chương 2.
Các mô hình mạng nơron MLP sẽ được huấn luyện để xác định
được vị trí sự cố với sai số nhỏ hơn so với những phương pháp trước
đây, giúp cho quá trình tìm kiếm và khắc phục sự cố nhanh, nâng cao
hiệu quả trong vận hành hệ thống điện và giảm thiệt hại về kinh tế.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu và đưa ra phương pháp mới xác
định vị trí sự cố trên đường dây truyền tải điện:
Đối tượng nghiên cứu:
• Các phần mềm sử dụng trong luận án: ATP/EMTP, Matlab 7.1,
DIGSI 4.82, Test Universe V2.30 - Omicron, EView.
• Các thiết bị sử dụng trong luận án: rơle khoảng cách 7SA522,
hợp bộ thí nghiệm CMC-356 của Omicron.
Phạm vi nghiên cứu:
• Ứng dụng phần mềm ATP/EMTP (Alternative Transients
Luận án có đóng góp sau:
• Xây dựng được mô hình sử dụng độc lập một mạng nơron MLP
và mô hình sử dụng song song một thuật toán tổng trở (thuật toán tổng
trở chạy trên máy tính hoặc thuật toán tổng trở của một rơle khoảng
cách thực tế 7SA522) với một mạng nơron MLP để xác định vị trí sự
cố trên đường dây truyền tải điện (xét ví dụ tính toán cho đường dây
110kV Yên Bái - Khánh Hòa). Trong đó mạng nơron nhân tạo MLP
sử dụng đầu vào là các đặc tính thời gian và đặc tính tần số xác định
từ các tín hiệu đo tức thời xung quanh thời điểm xảy ra những thay đổi
(xuất hiện sự cố) trong các tín hiệu (thời điểm này được xác định nhờ
sử dụng phép phân tích sóng nhỏ (wavelet)). Luận án cũng xây dựng
đồng thời hai mạng nơron MLP khác để xác định dạng sự cố và điện
trở sự cố.
- 4 -
• Khảo sát và đề xuất ứng dụng wavelet Daubechies bậc 3 để phân
tích thành phần của tín hiệu lấy mẫu với tần số 100kHz để làm cơ sở
phát hiện thời điểm xuất hiện sự cố trên đường dây truyền tải.
• Khảo sát các đặc tính dựa trên hệ số tương quan giữa đầu vào và
đầu ra để lựa chọn các đặc tính có hệ số tương quan cao để dùng trong
các mô hình. Các kết quả tính toán đã đưa ra danh sách 84 giá trị đặc
trưng tính toán từ 6 đường tín hiệu u-i để làm cơ sở tính toán các
thông số sự cố như vị trí, dạng và điện trở sự cố.
• Đề xuất ứng dụng hợp bộ mô phỏng CMC-356 của Omicron kết
hợp với rơle thực tế (7SA522) để so sánh chất lượng tính toán của mô
hình về vị trí sự cố với tác động của rơle trên đường dây thực tế. Đồng
thời các kết quả hoạt động của rơle khoảng cách thực tế sẽ được sử
dụng để tạo mẫu học một mạng nơron MLP mới để bù sai số cho rơle
khoảng cách thực tế.
• Đã mô phỏng và tạo được bộ mẫu gồm 2136 trường hợp sự cố
đường dây 110 kV Yên Bái - Khánh Hòa với các thay đổi về vị trí sự
cố, điện trở sự cố, thời điểm xuất hiện sự cố, công suất của phụ tải và
dạng sự cố để tạo ra các bộ số liệu về dòng điện và điện áp ở đầu
đường dây với định dạng file là *.MAT.
• Sử dụng phần mềm điều khiển Test Universe mô phỏng lại các
bộ số liệu được tạo ra từ phần mềm mô phỏng ATP/EMTP đưa vào
thiết bị phần cứng Omicron CMC-356 và rơle khoảng cách 7SA522,
kết quả thu được là cơ sở kiểm nghiệm lại kết quả các thuật toán đề
xuất trong luận án.
• Sử dụng Wavelet để tính toán thời điểm xảy ra những biến đổi
đột ngột trong các tín hiệu dòng điện và điện áp đo lường được ở đầu
đường dây để xác định thời điểm xuất hiện sự cố.
• Sử dụng mạng nơron MLP tính toán ước lượng vị trí sự cố, dạng
sự cố và điện trở sự cố cho các trường hợp: Mạng MLP hoạt động độc
lập; Mạng MLP phối hợp song song với thuật toán tổng trở (thuật toán
trên máy tính và thuật toán tích hợp trong rơle khoảng cách thực tế).
Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC PHƢƠNG PHÁP XÁC
ĐỊNH VỊ TRÍ SỰ CỐ TRÊN ĐƢỜNG DÂY TẢI ĐIỆN
1.1. Ý nghĩa của bài toán định vị sự cố
Khi có một sự cố ngắn mạch xảy ra trên đường dây truyền tải
điện, điện áp tại điểm sự cố đột ngột giảm đến một giá trị thấp, dòng
điện tại điểm sự cố đột ngột tăng lên rất lớn. Từ các giá trị đo lường ta
có thể xác định tổng trở sự cố, sự phân cực,… để xác định chính xác
vị trí sự cố. Mục tiêu chính của luận án này là xây dựng một phương
pháp mới nhằm xác định chính xác hơn vị trí sự cố trên các đường dây
truyền tải điện áp cao. Tầm quan trọng của nghiên cứu này phát sinh
từ sự cần thiết nhằm giảm thiểu thời gian gián đoạn cung cấp điện và
- 6 -
thông số các phần tử khác nhau, Vì vậy một trong những ý tưởng
hiện nay của các nghiên cứu đó là xây dựng các giải pháp "mềm dẻo"
có khả năng tự học [20,21,69]. Có nghĩa là cần xây dựng một hệ thống
thu thập, phân tích và xử lý tín hiệu có cấu trúc khá cố định nhưng có
các tham số có thể điều chỉnh được để có thể thích nghi với các tín
- 7 -
hiệu đầu vào mới. Khi đó nếu có một đối tượng mới hoặc một bài toán
mới, có thể tiến hành thu thập các mẫu tín hiệu mới để đưa vào cho hệ
thống điều chỉnh lại các tham số để có thể hoạt động tốt hơn với các
mẫu tín hiệu mới này. Quá trình điều chỉnh thích nghi hệ thống theo
các mẫu số liệu mới được gọi là quá trình học của hệ thống. Trường
hợp các mẫu học bao gồm cả cặp tín hiệu đầu vào và các đáp ứng đích
mong muốn được gọi là quá trình học có hướng dẫn [70,79].
Do đó trong luận án này sẽ tập trung nghiên cứu và phát triển một
mô hình mới nhằm ước lượng chính xác hơn về vị trí sự cố, điện trở
sự cố và dạng sự cố trên đường dây tải điện dựa trên các số liệu dòng
điện và điện áp đo tức thời ở một đầu đường dây. Các thuật toán tổng
trở hiện nay dùng để để ước lượng vị trí sự cố có khá nhiều nguồn sai
số như ảnh hưởng của thành phần một chiều trong quá trình quá độ,
sai số do việc tính toán giá trị hiệu dụng của thành phần cơ bản trong
tín hiệu quá độ đã được số hóa. Trường hợp luận án sử dụng rơle thực
tế để thử nghiệm với các tín hiệu dòng – áp đầu vào đã tính từ
ATP/EMTP thì sẽ có thêm các sai số từ các bộ chuyển đổi DA (bộ tạo
các tín hiệu dòng – áp thực từ các tín hiệu mô phỏng), sai số làm tròn
khi tính toán (do cấu hình hạn chế của bộ vi xử lý trung tâm của rơle
so với vi xử lý trung tâm của các máy tính cá nhân). Lựa chọn của
luận án sẽ sử dụng các phương pháp tính toán và xử lý tín hiệu hiện
đại như mạng nơron nhân tạo để khắc phục được phần nào các sai số
trên để có được độ chính xác tương đương hoặc cao hơn.
kỳ với độ chính xác cho trước [56].
2.2.1. Mạng nơron MLP hoạt động độc lập ƣớc lƣợng vị trí sự cố
Từ các số liệu dòng điện và điện áp đo lường ở đầu đường dây sẽ
được phân tích và xử lý trước khi đưa vào mạng MLP để ước lượng
trực tiếp vị trí sự cố như hình 2.2:
Hình 2.2: Ý tưởng mô hình hoạt động độc lập mạng MLP
- 9 -
2.1. Mạng nơron MLP phối hợp song song với một thuật toán tổng
trở (thuật toán mô phỏng trên máy tính hoặc thuật toán tích hợp trong
rơle khoảng cách thực tế)
Thuật toán ước lượng vị trí sự cố mô phỏng trên máy tính (PC)
được sử dụng trong luận án là các công thức tính toán của rơle khoảng
cách trình bày trong [97]. Mô hình được đề xuất này của luận án là
một giải pháp mới, chưa thấy được đề xuất trong các công trình
nghiên cứu khác về xác định vị trí sự cố trên đường dây truyền tải. Ý
tưởng của mô hình được trình bày như hình 2.3:
Hình 2.3: Ý tưởng mô hình hoạt động song song rơle với mạng MLP
Ý tưởng chung của hệ phối hợp song song nhiều giải pháp là khi
sử dụng phối hợp nhiều phương pháp, có thể tạo ra một giải pháp mới
có độ chính xác, độ tin cậy cao hơn (trên các bộ số liệu mẫu đã có) so
với khi chỉ sử dụng từng phương pháp đơn lẻ ban đầu [98, 99, 100,
101,110].
Mạng nơron MLP được xây dựng dựa trên cơ chế "học" (learning
process), trong đó các thông số của mạng được điều chỉnh trên cơ sở
một bộ số liệu mẫu cho trước ở dạng các cặp mẫu (đầu vào, đầu ra).
Mạng nơron MLP sẽ tái tạo lại ánh xạ (phi tuyến) giữa tín hiệu đầu
vào và đầu ra này để xác định các thông số của sự cố. Trong luận án
điện/điện áp sau đó nối vào rơle thực tế đã lựa chọn để lấy các kết quả
tác động tương đương như hoạt động ngoài thực tế. Các bản ghi tác
động của rơle sẽ được chuyển lên máy tính lưu trữ và tính toán xử lý
trên PC. Sơ đồ khối ghép nối giữa các thiết bị trong hệ thống thử
nghiệm hoạt động của rơle bằng thiết bị CMC-356 như hình 2.5:
l
sự cố
, R
sự cố,
T
sự cố
dạng sự cố, phụ tải
Mô hình đường
dây trong EMTP
Các tín hiệu
u
a
, u
b,
u
c
, i
a
, i
b,
i
c
của sự cố là dạng sự cố và điện trở sự cố.
- 11 -
Chƣơng 3: CÁC CÔNG CỤ TÍNH TOÁN MÔ PHỎNG
SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN
Trong chương này sẽ giới thiệu về các công cụ mô phỏng và tính
toán chính được sử dụng trong luận án. Để phục vụ cho mô phỏng và
tạo các mẫu tín hiệu, trong luận án sử dụng phần mềm mô phỏng
ATP/EMTP, thiết bị thí nghiệm CMC-356 của Omicron. Tiếp theo là
hai công cụ xử lý tín hiệu chính được sử dụng trong luận án là phép
biến đổi và phân tích tín hiệu sử dụng Wavelet (sóng nhỏ) và mạng
nơron nhân tạo MLP.
2.1. Phần mềm mô phỏng ATP/EMTP
Chương trình EMTP (Electro-Magnetic Transients Program)
[15,31,39] là chương trình nghiên cứu quá độ điện từ, đã được công
nhận là một trong những công cụ phổ biến để mô phỏng các hiện
tượng về điện - cơ cũng như các hiện tượng về điện từ trong hệ thống
điện, do đó EMTP đang được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới trong
các lĩnh vực tính toán thiết kế cũng như vận hành cho các loại thiết bị
khác trong hệ thống điện. EMTP là một trong những công cụ phân
tích hệ thống rất linh hoạt và hiệu quả.
2.2. Hợp bộ thí nghiệm thứ cấp 3 pha công suất lớn CMC 356 -
OMICRON
Hệ thống thử nghiệm được thể hiện như trên hình 3.5:
Hình 3.5. Kết nối máy tính với hợp bộ thí nghiệm CMC-356 và rơle 7SA522
CMC-356 là thiết bị vạn năng sử dụng để kiểm tra tất cả các loại
rơle bảo vệ. Thiết bị gồm có 6 nguồn dòng điện với phạm vi hoạt động
- 12 -
- 13 - Hình 4.1: Sơ đồ mô phỏng ngắn mạch đường dây Yên Bái - Khánh Hòa
trong ATP/EMTP
Kịch bản mô phỏng trong ATP/EMTP:
• Vị trí sự cố: N = 23 vị trí (5, 10, 15, 20, 25, 30, 35, 40, 45, 50,
55, 60, 65, 70, 75, 80, 85, 90, 95, 100, 105, 110, 115km).
• Điện trở sự cố R
sc
: K = 6 giá trị (0, 1, 2, 3, 4, 5Ω).
• Loại sự cố: P = 4 loại (ngắn mạch 1 pha, ngắn mạch 2 pha, ngắn
mạch 2 pha chạm đất và ngắn mạch 3 pha).
• Phụ tải: Q = 3 trường hợp (Phụ tải bằng 30%, 50% và 100%)
Tổng số trường hợp mô phỏng ứng với vị trí sự cố, điện trở sự cố,
loại sự cố và phụ tải:
23 6 4 3 1656N K P Q
trường hợp.
Đồng thời để khảo sát ảnh hưởng của thời điểm sự cố (tính tương
đối theo mốc pha của tín hiệu) ta sẽ xét thêm M = 10 trường hợp pha
cho trường hợp ngắn mạch tại điện trở R
sc
= 1Ω ở các vị trí (10, 40, 80,
110km) bắt đầu từ thời điểm bắt đầu đóng thiết bị chuyển mạch tạo
ngắn mạch: thời điểm từ 0,04 tới 0,06 (s) với khoảng cách đều 2ms.
• Vị trí sự cố: N = 4 vị trí (10, 40, 80, 110km).
• Điện trở sự cố R
sc
: K = 1 giá trị (1Ω)
• Loại sự cố: P = 4 loại (ngắn mạch 1 pha, ngắn mạch 2 pha, ngắn
i
B
i
C
u
A
u
B
u
C
1kHz
1,20
14,78
60,71
44,37
72,18
41,08
10kHz
0,53
0,49
0,37
0,75
0,70
0,53
C
max
mean
max
mean
max
mean
max
mean
max
mean
max
mean
Daubechies
(bậc 3)
0,28
0,107
0,28
0,108
0,31
0,112
0,25
0,096
0,24
0,097
0,28
0,104
Coiflet
0,40
0,138
156,0
0,597
158,0
1,382
156,0
1,812
- 15 -
Từ bảng 4.2 luận án chọn wavelet họ Daubechies để sử dụng.
Cũng từ bảng 4.2 ta có thể nhận thấy kết quả phân tích trên 6 kênh
là khá tương đương, dải giá trị sai số là từ 0 đến khoảng 200-300µs.
Đây là kết quả rất chính xác theo như các nhu cầu trong thực tế vận
hành hiện nay. Đồng thời ta cũng có thể thấy rằng trong thực tế nếu
cần phải giảm bớt số lượng tính toán thì ta cũng chỉ cần phân tích 1
đường tín hiệu bất kỳ trong 6 tín hiệu là có thể xác định được thời
điểm sự cố với độ chính xác tương đương nhau.
4.3. Kết quả ƣớc lƣợng vị trí, điện trở và dạng sự cố
4.3.1. Trích xuất số liệu và các thông tin đặc trƣng
Sau khi đã xác định được thời điểm xuất hiện sự cố trong tín hiệu
(ký hiệu là thời điểm
0
T
), nhiệm vụ tiếp theo cần thực hiện là ước
lượng vị trí của sự cố (đồng thời thực hiện thêm việc nhận dạng loại
sự cố và điện trở sự cố). Ý tưởng chủ đạo của đề tài như đã trình bày ở
các phần trên đó là sử dụng các đặc tính thời gian và tần số của vùng
tín hiệu xung quanh thời điểm xuất hiện sự cố để làm cơ sở tính toán
ước lượng hai thông số của sự cố như đã nêu trên.
Với mỗi đường tín hiệu, các thông số thời gian (20 giá trị tức thời
Với bộ số liệu 2136 mẫu ta sẽ chia làm hai bộ số liệu con: một
phần của bộ số liệu gồm 1424 mẫu (2/3 tổng số mẫu có được) để xây
dựng mô hình (điều chỉnh thích nghi các tham số của mạng nơron để
tối ưu hóa sai số đầu ra), phần còn lại (712 mẫu) được dùng để kiểm
tra chất lượng của quá trình học.
Sử dụng mạng MLP ƣớc lƣợng trực tiếp vị trí sự cố
Với 1424 mẫu học, sử dụng mạng MLP với 12 nơron ẩn, ta có
được kết quả học như trên hình 4.22.
Trung bình của sai số học tuyệt đối của mạng MLP:
1424
_
1
1
0,302( ) 302( )
1424
i MLP
i
E l l km m
trungb×nh i_chÝnhx¸c
ứng với sai số trung bình 0,80%.
Sai số học cực đại:
_
max 24,57( )
i MLP
i
E l l km
max 24,86( )
i MLP
i
E l l km
max i_chÝnhx¸c
Sử dụng mạng MLP phối hợp với thuật toán tổng trở để ƣớc
lƣợng vị trí sự cố
Với toàn bộ 2136 mẫu (cả tập số liệu học và tập số liệu kiểm tra),
ta đưa vào thuật toán tổng trở để tính toán và ước lượng vị trí sự cố.
Sai số trung bình của rơle khoảng cách đối với các mẫu đã có đạt:
1
100% 1,52%
2136
ll
E
l
chÝnhx¸c r¬le
trungb×nh
chÝnhx¸c
Sai số cực đại:
1, 2136
max 3,22( )
i
E l l km
trungb×nh i_chÝnhx¸c
tængtrë
tương ứng với sai số tương đối 0,14%.
Sai số kiểm tra trung bình của ước lượng vị trí sự cố là (hình
4.27):
712
__
_
1
1
0,35( ) 350( )
712
i MLP kt
i
i
l l l km m
i_chÝnhx¸c_kt
tængtrë_kt
tương ứng với sai số 0,77%
- 19 -
dựng mô hình (điều chỉnh thích nghi các tham số của mạng nơron để
tối ưu hóa sai số đầu ra), phần còn lại (323 mẫu) được dùng để kiểm
tra chất lượng của quá trình học. Sau khi sử dụng mạng MLP để bù sai
số của rơle khoảng cách 7SA522, kết quả như sau:
- Sai số trung bình về học vị trí sự cố:
0,49
tb
l km
tương ứng:
1,27%.
- Sai số trung bình về kiểm tra vị trí sự cố:
0,5
tb
l km
tương
ứng: 1,49%.
Tổng hợp lại cả ba trường hợp sử dụng mạng MLP để ước lượng
vị trí sự cố ta có các kết quả thống kê trong các bảng sau:
Bảng 4.4: Tổng hợp các kết quả sử dụng rơle khoảng cách thực tế
(7SA522) và dùng mạng MLP để giảm các sai số của rơle
Loại sự
cố
Sai số trung bình
của Rơle thực tế
Sai số học trung
bình của MLP +
Rơle thực tế
Sai số kiểm tra trung
0.56
0.65
0.47
1.12
0.65
1.61
Tổng
1.09
2.07
0.49
1.27
0.50
1.49
Bảng 4.5: Tổng hợp các kết quả sử dụng rơle khoảng cách ảo và dùng
mạng MLP để giảm các sai số của rơle khoảng cách ảo
Loại sự
cố
Sai số trung bình
của Rơle ảo
Sai số học trung
bình của MLP +
Rơle ảo
Sai số kiểm tra trung
bình của MLP +
Rơle ảo
(km)
(%)
(km)
(%)
(km)
0.77
1.52
0.055
0.14
0.35
0.77
- 21 -
Bảng 4.6: Các kết quả dùng mạng MLP ước lượng trực tiếp vị trí sự cố
Loại sự cố
Sai số học trung bình của
MLP
Sai số kiểm tra trung
bình của MLP
(km)
(%)
(km)
(%)
AG0
0.40
0.98
0.55
1.29
AB0
0.27
0.72
0.29
0.71
ABG
0.77
1.52
0.06
0.14
0.35
0.77
7 SA522
1.09
2.07
0.49
1.27
0.50
1.49
Bảng 4.8: Tổng hợp các kết quả ước lượng vị trí sự cố
Phương pháp
Trung bình
của sai số
tương đối
(%)
Trung bình
của sai số
tuyệt đối
(km)
Max sai
số tuyệt
đối (km)
MLP trực tiếp
0,99
0,39
24,86
vị trí sự cố, đầu ra đích được mã hóa các giá trị từ 1 đến 4 tương ứng
với 4 trường hợp sự cố. Tiến hành các quá trình học và kiểm tra tương
tự như đã thực hiện với nhiệm vụ ước lượng vị trí sự cố ta có các kết
quả như sau:
- Đối với 1424 trường hợp của bộ số liệu học ta có tổng cộng 24
trường hợp nhận dạng nhầm dạng sự cố, tương ứng 1,69%.
- Đối với 712 trường hợp của bộ số liệu kiểm tra, ta có tổng cộng
13 trường hợp nhận dạng nhầm, tương ứng với sai số:
1,83%
.
- Ước lượng điện trở sự cố:
Sai số học trung bình của ước lượng điện trở sự cố là:
1424
3,
1
3
0,014( )
1424
ii
i
MLP d
Sai số học cực đại của ước lượng điện trở sự cố là:
3,
1, ,1424
max 3 0,093( )
Các kết quả kiểm tra khá chính xác, tương đương với dải sai số
của quá trình học chứng tỏ mạng MLP đã học thành công các số liệu
đã được xây dựng cho các trường hợp sự cố ngắn mạch một pha, ngắn
mạch hai pha, ngắn mạch hai pha chạm đất và ngắn mạch ba pha trên
đường dây 110kV Yên Bái - Khánh Hòa.