A. PHẦN MỞ ĐẦU
Cơ chế thị trường với những ưu thế vượt trội đã thắng thế các cơ chế vận
hành khác như cơ chế tự nhiên, cơ chế bao cấp. Kinh tế thị trường phát triển
khi các bộ phận trong hệ thống tài chính được hình thành, phát triển đầy đủ và
đồng bộ. Cùng với đó, sự điều tiết của nhà nước trên các bộ phận của hệ
thống tài chính là cần thiết nhằm giúp hệ thống tài chính đạt được sự phát
triển ổn định và hiệu quả, từ đó tạo nên sự tăng trưởng phát triển lành mạnh
của nền kinh tế.
Trong lịch sự phát triển kinh tế, các học thuyết kinh tế ra đời, nổi bật là
hai quan điểm được xem là đối lập nhau của Adam Smith và Keynes.
1) Adam Smith, nhà kinh tế học người Scotland đã đưa ra lý thuyết “bàn
tay vô hình”. Điểm chủ chốt mà Adam Smith đề ra chính là : “Sự giầu
có của mỗi quốc gia đạt được không phải do những quy định chặt chẽ
mà do bởi tự do kinh doanh”.
2) John Maynard Keynes, nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh lại cho
rằng. Để chống đỡ khủng hoảng và thất nghiệp đòi hỏi phải có sự can
thiệp của Nhà nước, thông qua đó:
- Nâng cao tổng cầu trong nền kinh tế
- Kích thích tiêu dùng
- Khuyến khích doanh nhân đầu tư và kinh doanh.
Thực tế từ cuộc khủng hoảng 1929-1933 và khủng hoảng tài chính 2007-
2008 cho thấy, luận thuyết “bàn tay vô hình” cảu Adam Smith chỉ có thể dẫn
dắt thị trường kinh tế tự do hướng tới hiệu quả khi vấn đề thông tin thị trường
được xử lý tốt. Nhưng sự tham gia ngày càng lớn của các nhà đầu tư vào hệ
thống tài chính với mục đích tìm kiếm lợi nhuận tối đa trong khi nguồn thông
tin không đầy đủ và sự xuất hiện ngày một đa dạng của các công cụ tài chính
mới đã tiềm ẩn nhiều rủi ro, nguy cơ đã trở thành hiện thực trước cơn bão
khủng hoảng kinh tế 2007-2008.
Tuy nhiên nếu nhà nước can thiệp quá sâu vào nền kinh tế sẽ hạn chế việc
tự điều tiết và tính năng động của thị trường, dẫn tới suy thoái kinh tế và thất
nghiệp gia tăng trong những năm của 1970. Chính vì thế, vai trò của nhà nước
2. Ba quan niệu về hệ thống tài chính
Quan niệm thứ nhất: hệ thống tài chính được chia thành 2 mô hình .
- Hệ thống tài chính được kiểm soát: lãi suất ngân hàng được ấn định,
kiểm soát chặt và gần như cố định, không tồn tại yếu tố cạnh tranh. Hệ thống
tài chính này ta có thể thấy ở Ba Lan.
- Hệ thống tài chính tự do: các định chế tài chính giữ vị trí quan trọng
việc phân bổ nguồn lực tài chính và chịu sức ép cạnh tranh của các thị trường
tài chính trong quá trình huy động vốn.
Theo quan niệm này thì hệ thống tài chính đã nhấn mạnh đến vai trò
kiểm soát
của nhà nước đặc biệt là kiểm soát đối với lãi suất. Thực tế đã chứng minh
rằng việc đề cao hay xem nhẹ quá mức vai trờ kiểm soát của nhà nước đối với
hệ thống tài chính đều gây ra những tác động khôn lường đối với nên kinh tế.
Quan niệm thứ hai: hệ thống tài chính là tổng thể các hoạt động tài
chính trong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân nhưng có quan
hệ hữu cơ với nhau trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm
đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể kinh tế - xã hội.Với quan
niệm này, hệ thống tài chính đã đề cập đến tổng thể các hoạt động của một tập
lớp các định chế tài chính có mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ nhằm thúc đẩy
quá trình luân chuyển vốn cũng như đảm bảo tính hiệu quả trong việc phân bổ
nguồn lực tài chính theo những mục đích nhất định. Tuy nhiên cách thức này
chủ yếu theo hướng xác định các định chế tài chính rồi từ đó hình thành nên
cấu trúc của hệ thống, mà cấu trúc của hệ thống lại thay đổi theo quy mô và
tính phức tạp của nền kinh tế trong từng thời kì.Vì vậy Hệ thống tài chính
theo mô hình này có thể phù hợp với thời kỳ này nhưng lại không phù hợp với
thời kì khác.
Trước đây Việt Nam đã áp dụng quan điểm tài chính này vào thời kì trước
khi hội nhập với quốc tế.
Quan niệm thứ ba: hệ thống tài chính được xem xét theo cách thức cung
ứng vốn cho nền kinh tế.Hệ thống tài chính là một tổng thể bao gồm các thị
+ Thị trường thứ cấp
Căn cứ vào phương thức tổ chức giao dịch:
+Thị trường phi tập trung
+Thị trường tập trung
Căn cứ vào phương thức huy động vốn:
+Thị trường nợ
+Thị trường cổ phần.
c. Vai trò của nhà nước trên thị trường tài chính
Thị trường tài chính hình thành theo hai con đường: hình thành tự phát và
hình thành dưới sự can thiệp của Chính phủ. Dù hình thành theo cách nào đi
nữa, thì nhà nước cũng có vai trò nhất định trong việc hình thành và phát triển
thị trường tài chính. Và vai trò của Nhà nước được thể hiện qua sự tác động
của Nhà nước đối vs việc tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự ra đời và
phát triển của thị trường tài chính. Cụ thể:
Thứ nhất, Nhà nước tạo khuôn khổ pháp lý cho sự ra đời và hoạt động
của thị trường tài chính, đồng thời thực hiện chức năng giám sát các hoạt
động của thị trường tài chính.
- Nhà nước xây dựng ban hành hệ thống pháp luật tạo khuôn khổ pháp lý
cho sự ra đời và hoạt động của thị trường tài chính. Hệ thống pháp luật do
Nhà nước ban hành là cơ sở pháp lý điều chỉnh các hành vi của nhà phát
hành, nhà đầu tư và các tổ chức trung gian tài chính, giải quyết tranh chấp và
xử lý các vi phạm trong hoạt động của thị trường tài chính
- Có một số nhóm quy chế được ban hành đó là:
- Nhà nước xây dựng ban hành hệ thống pháp luật tạo khuôn khổ pháp lý
cho sự ra
đời và hoạt động của thị trường tài chính. Hệ thống pháp luật do nhà nước ban
hành là cơ sở pháp lý điều chỉnh các hành vi của nhà phát hành, nhà đầu tư và
các tổ chức trung gian tài chính, giải quyết tranh chấp và xử lý các vi phạm
trong hoạt động của thị trường tài chính.
- Có một số nhóm quy chế được ban hành đó là:
chính. Chính sách tài chính, ngân sách góp phần kiềm chế lạm phát, tạo công
cụ cho thị trường tài chính.
Chính sách tác động rất lớn đến các quá trình hình thành và phát triển của
thị trường tài chính nhất là chính sách thuế và lãi suất.
- Bên cạnh đó, nhà nước cũng vạch ra các kế hoạch dài hạn cho thị
trường. Đối
với thị trường tài chính hình thành không theo con đường tự phát, Nhà nước
đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng cơ sở vật chất cho thị trường, tạo
ra hệ thống máy móc, thiết bị, trụ sở làm việc, nơi giao dịch của thị trường tài
chính.
Thứ ba, Nhà nước đào tạo con người cung cấp cho thị trường tài chính.
Thị trường tài chính hình thành và phát triển không thể thiếu yếu tố con
người. Với cơ chế hoạt động phức tạp, thị trường tài chính đòi hỏi đội ngũ
nhân viên ưu tú, được trang bị đẩy đủ kiến thức chuyên môn, kinh tế, thương
mại, luật pháp, ngoại ngữ, thành thạo thực hành… Để có được đội ngũ nhân
viên như vậy thì cần có chi phái đào tạo lớn, kế hoạch đào tạo bài bản, khoa
học. Mà những kế hoạch này lại ro nhà nước lập ra, tổ chức thực hiện và chi
phí đó được lấy từ các nguồn tài chính mà chủ yếu là ngân sách nhà nước.
2. Vai trò của nhà nước đối với trung gian tài chính.
a. Khái niệm trung gian tài chính.
Các trung gian tài chính là những tổ chức chuyên hoạt động kinh doanh
trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ. Hoạt động chủ yếu và thường xuyên của tổ
chức này là thong qua việc cung cấp các dịch vụ tài chính – tiền tệ mà thu hút,
tập hợp các khoản vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế rồi cung ứng cho những nơi
có nhu cầu vốn. Các trung gian tài chính đóng vai trò như một trung gian, cầu
nối giữa những người có vốn và những người cần vốn, giúp cho việc luân
chuyển vốn được thuận lợi hơn. Các trung gian tài chính đã thực hiện các
chức năng chủ yếu là tạo vốn thông qua huy động vốn nhàn rỗi; cung ứng vốn
cho nền kinh tế; kiểm soát nhằm giảm thiểu các rủi ro có thể xảy ra với các
hợp đồng vay và cho vay.
lạm phát. Với hành động này Nhà nước kỳ vọng sẽ kiểm soát được tình trạng
phát triển quá nóng của các tổ chức tài chính.
+ Tuy nhiên trong thực tế sự tác động này vẫn tồn tại một số bất cập do
sự nhúng tay quá sâu của nhà nước vào nền kinh tế. Sự điều chỉnh là cần thiết
nhưng hãy tôn trọng vai trò tự điều chỉnh của nền kinh tế thị trường.
Tác động trên của Bộ tài chính có tác dụng làm giảm đi độ nóng của thị
trường, tuy nhiên điều ngược lại lại xảy ra đối với thị trường chứng khoán.
Vốn bị rút ra liên tục khỏi thị trường chứng khoán, điều này dẫn tới một sự
việc hoàn toàn dễ hiểu chứng khoán down liên tục, phá vỡ tất cả các ngưỡng
hỗ trợ mặc cho Bộ tài chính liên tục động viên.
Cả thị trường chứng khoán và quỹ đầu tư rơi vào tình trạng héo hắt khi
mà các giao dịch cực thấp, lượng nhà đầu tư đóng băng tài chính rất cao. Các
doanh nghiệp cũng ngày càng khó khăn do lượng vốn lớn trên thị trường
chứng khoán mất đi, lãi suất cho vay của các ngân hàng quá cao. Các doanh
nghiệp xuất nhập khẩu mất liên tục các đơn đặt hàng quan trọng, các doanh
nghiệp sản xuất bị đình đốn.
3. Vai trò của nhà nước đối với cơ sở hạ tầng pháp lý, kỹ thuật
a. Các khái niệm
Cơ sở hạ tầng pháp lý, kỹ thuật là khuôn khổ các luật lệ và hệ thống thông
tin làm nền tảng để các bên (người có vốn, người cần vốn) lập kế hoạch đàm
phán và thực hiện các giao dịch tài chính.
Cơ sơ hạ tầng cung cấp các chuẩn mực kế toán, một hệ thống pháp luật
đảm bảo cho việc thực hiện các hợp đồng và bảo vệ các quyền sơ hữu tài sản,
các quy định về giao dịch… cơ sở hạ tầng vững chắc mới giúp cho hệ thống
tài chính phát triển mạnh và bền vững.
Cơ sở hạ tầng tài chính bao gồm: Hệ thống pháp luật và quản lý nhà nước;
Nguồn lực và cơ chế giám sát, thực thi; Cung cấp thông tin; Hệ thông thah
toán và hỗ trợ giao dịch chứng khoán.
b. Vai trò của nhà nước đối với cơ sở hạ tầng pháp lý kỹ thuật
Hệ thống pháp luật và quản lý nhà nước: Hệ thống pháp luật là công cụ có
được đây nhanh trong năm 2010 (6,8%) nhờ sự phục hồi của xuất khẩu và
những điều tiết phù hợp về chính sách. Tuy nhiên, lạm phát 2010 của Việt
Nam lên mức hai con số (11,8%) vào cuối năm 2010 và tiền đồng Việt Nam
(VND) bị trượt giá. Những tháng đầu năm 2011chir số giá tiêu dùng CPI của
Việt Nam cũng đã tăng khá cao đe dọa mục tiêu kiềm chế lạm phát ttrong năm
dưới mức hai con số.
Diễn biến nêu trên đã ảnh hưởng tới niềm tin của người dân, thị trường và
các nhà đầu tư. Để khắc phục những hạn chế, yếu kém về kinh tế vĩ mô, tháng
2/2011 Chính phu Việt Namđã có nghị quyết 11 tập trung “ưu tiên kiềm chế
lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội” với sáu gói các biện
pháp chính sách bao gồm: “Thắt chặt chính sách tiền tệ, thắt chặt chính sách
tài chính, kìm hãm thâm hụt thương mại, tăng giá điện đồng thời với việc hỗ
trợ người nghèo và sử dụng một cơ chế mang tính thị trường hơn đối với việc
định giá xăng dầu, tăng cường an sinh xã hội, nâng cao hiểu quả việc phổ biến
thông tin chính sách”. Việc thực hiện nghị quyết 11 sẽ làm chậm lại tốc độ
tăng trưởng kinh tế của Việt Nam ttrong năm 2011 (dự kiến xuống dưới mức
6,1%). Tuy nhiên, triển vọng phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong trung
hạn vẫn rất tốt nếu điều kiện kinh tế vĩ mô được duy trì ổn định. Việt Nam
vẫn sẽ là một điểm đến hấp dẫn đói với các nhà đầu tư nước ngoài.
Luật các tố chức tín dụng sửa đổi bổ sung số 20/2004/QH11 ngày
15/06/2004 có hiểu lực từ ngày 01/10/2004. Luật này quy định: thống nhất
mọi hoạt động quan lý cua Ngân hàng, xây dựng các hệ thống tổ chức tín
dụng hiện đại, góp phần thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bao đảm an
toàn hệ thống các tổ chức tín dụng, baor vệ lợi ích hợp pháp của người gửi
tiền, dầu tư vốn và các nguồn lực khác để phát triển các tố chức tín dụng nhà
nước, tạo điều kiện cho các toorr chức này giữ vai trò chủ đạo và chủ lực trên
thị trường tiền tệ, Nhà nước thành lập các ngân hàng chính sách hoạt
độngkhông vì mục đích lợi nhuận đê phục vụ người nghèo và các đối tượng
chính sách khác, phục vụ miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều
kiện kinh tế - xã hội khó khăn, phục vụ nông nghiệp nông thôn và nông dân
Đầu tư và phát triển) với mục tiêu tạo ra thuận lợi ttrong việc đối chiếu, kiểm
soát khi thanh toán và giam thời gan toán cho các giao dịch. Trước năm 2000,
hầu hết các tổ chức tài chính ở Việt Nam sử dụng hệ thống thanh toán phân
tán. Nhưng từ năm 2000 đến nay, các tổ chức tài chính, nhất là các ngân hàng
thương mại đã sử dụng hệ thông thanh toán tập trung. Từ năm 2002, Ngân
hàng nhà nước Việt Nam đã triển khai hệ thống thanh toán liên ngân hàng.
Đây là một bước tiến trong việc áp dụng công nghệ thanh toán cua hệ thống
tài chính Việt Nam.
4. Vai trò của các tổ chức có nhiệm vụ giám sát và điều hành hệ thống
tài chính ở Việt Nam
a. Vai trò của hệ thống giám sát tài chính ở Việt Nam
Hệ thống giám sát tài chính của Việt Nam hiện nay về thực chất được tổ
chức theo mô hình phân tán chuyên ngành, tức là mỗi bộ phận của thị trường
tài chính được giám sát bởi một cơ quan giám sát chuyên ngành như: Thị
trường ngân hàng được giám sát bởi cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng
(trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam); thị trường chứng khoán được
giám sát bởi Ủy ban chứng khoán Nhà nước (trực thuộc Bộ Tài chính) ; thị
trường bảo hiểm được giám sát bởi Cục quản lý, giám sát bảo hiểm ( trực
thuộc Bộ Tài chính).
Ưu điểm: Bảo đảm giám sát được các định chế trung gian tài chính một
cách chặt chẽ, thường xuyên.
Nhược điểm: Với mô hình như trên sẽ tất yếu dẫn đến những khoảng
trống trong hoạt động giám sát như giám sát chéo hoạt động trong các tập
đoàn tài chính kinh doanh đa ngành và giám sát rủi ro đan xen giữa các bộ
phận của thị trường khó thực hiện, giám sát an toàn vĩ mô thị trường tài chính
bị xem nhẹ, đồng thời việc điều phối hoạt động giám sát chuyên ngành không
thực hiện được.
Hệ thống giám sát tài chính ở Việt Nam gồm hai nội dung lớn đó là: giám sát
hành vi và giám sát sức khỏe tài chính.
- Giám sát hành vi tập trung vào việc phát hiện những hành vi vi phạm và
ngân hàng phát triển. Nó có vai trò trợ giúp nền kinh tế mà không vì mục tiêu
lợi nhuận.
- Các tổ chức tài chính quốc tế: bao gồm quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), ngân
hàng thế giới (WB), ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)….Nhà nước đã tạo
điều kiện để triển khai các dịch vụ tài chính do các tổ chức tài chính cung cấp,
tìm mọi khả năng để đạt được yêu cầu theo các nguyên tắc quy định để nhận
được sự ưu đãi trong việc sử dụng các dịch vụ tài chính.
b. Những thách thức, khó khăn đối với việc giám sát tài chính quốc gia
của Việt Nam hiện nay.
So với các nước trên thế giới, thị trường tài chính Việt Nam ra đời muộn
hơn, vì vậy, còn nhiều hạn chế. Hệ thống giám sát tài chính của Việt Nam
hiện nay về thực chất được tổ chức theo mô hình phân tán chuyên ngành, tức
là mỗi bộ phận của thị trường tài chính được giám sát bởi một cơ quan giám
sát chuyên ngành như: Thị trường ngân hàng được giám sát bởi cơ quan thanh
tra, giám sát ngân hàng (trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam); thị
trường chứng khoán được giám sát bởi Ủy ban chứng khoán Nhà nước (trực
thuộc Bộ Tài chính) ; thị trường bảo hiểm được giám sát bởi Cục quản lý,
giám sát bảo hiểm (trực thuộc Bộ Tài chính). Ưu điểm chính của mô hình là
bảo đảm giám sát được các định chế trung gian tài chính một cách chặt chẽ,
thường xuyên. Tuy nhiên, nó cũng mang những nhược điềm rất lớn: tất yếu
dẫn đến những khoảng trống trong hoạt động giám sát như giám sát chéo hoạt
động trong các tập đoàn tài chính kinh doanh đa ngành và giám sát rủi ro đan
xen giữa các bộ phận của thị trường khó thực hiện, giám sát an toàn vĩ mô thị
trường tài chính bị xem nhẹ, đồng thời việc điều phối hoạt động giám sát
chuyên ngành không thực hiện được. Đánh giá lại công tác điều tiết và giám
sát đối với hoạt động của các tổ chức giám sát tài chính tại Việt Nam trong
thời gian qua, có thể nhận thấy một số những điểm yếu và cũng chính là
những thách thức, khó khăn mà chúng ta phải đối mặt, cụ thể như sau:
Thứ nhất: Sự yếu kém trong quá trình theo dõi và giám sát bao gồm tính
thiếu minh bạch và chất lượng các báo cáo; sự phát triển, đổi mới của hệ
Ủy ban giám sát tài chính quốc gia đã thực sụ hiệu quả chưa? Câu hỏi chưa có
lời giải đáp và là niềm trăn trở của những người có trạc nhiệm và những bên
liên quan.
Bên canh đó, là sự yếu kém trong quản lý các dòng vốn, quản lý các công
ty tài chính có dòng vốn nước ngoài vẫn còn khá lỏng lẻo; những quy định về
giám sát cơ sở hạ tầng chưa đầy đủ; cơ chế cảnh báo sớm và giám sát hệ
thống vẫn còn những lỗ hổng, sai sót; là chất lượng đội ngũ cán bộ nhân viên
chưa cao.
Tóm lại, hiện nay, công tác điều tiết và giám sát đối với hoạt động của
các tổ chức tài chính vẫn còn chưa đạt được những hiệu quả như mong muốn,
tồn đọng nhiều điểm yếu và trở thành những thách thức trước mắt cũng như
lâu dài của hệ thống tài chính Việt Nam. Cuộc khủng hoảng tài chính gần đây
tại các thị trường phát triển và các giai đoạn khó khăn của hệ thống ngân hàng
Việt Nam cho thấy những yếu kém trong hệ thống hiện hành. Chính những
khó khăn đang vướng mắc, đòi hỏi cần có một sự nhìn nhận đúng đắn của các
cơ quan chức năng, những định hướng phát triển đồng bộ, từng bước đưa hệ
thống tài chính Việt Nam phát triển vững và mạnh.
c. Những bất cập của hệ thống giám sát tài chính hiện tại:
Xét trên bình diện tổng thể thị trường tài chính, giám sát tài
chính ở Việt Nam vẫn còn những bất cập, hạn chế chính sau.:
Một là, Sự thiếu minh bạch trong công tác xây dựng báo cáo gây cản trở
cho khả năng nắm băt tình hình thực tế tại các cơ quan chức năng sở dĩ như
vậy là vì hệ thong kế tán việt nam chưa thực sự hoàn thiện chưa tạo ra chuẩn
mực chung mà vẫn nằm ở các quy định rải rác .Sự thiếu quy định đòng bộ
trong việc thực hiện kiểm toán và lạp báo cáo hằng năm gây không ít phiền
toái cho việc quản lí điều nàydẫn đến công bố thông tin trên thị trường không
minh bạch gây thiệt hại cho nhhf đầu tư và tạo ra nhiều luồng thông tin nhiễu
Hai là là, các cơ quan giám sát (NHNN, UBCKNN và Bộ Tài chính vừa
thực hiện chức năng cấp phép, ban hành cơ chế - chính sách, vừa thực hiện
chức năng hướng dẫn, triển khai thực hiện cơ chế chính sách và kiêm luôn vai
tài chính ngày càng trở nên đa năng, đa quốc gia với các công cụ tài chính
ngày càng phong phú và phức tạp. Điều này đòi hỏi các cơ quan giám sát phải
có tầm nhìn toàn cầu và sự phối hợp chặt chẽ trong việc vừa quản lý
một cách hiệu quả, vừa tạo điều kiện cho các bộ phận thị trường tài chính phát
triển. Sự phối hợp này là rất cần thiết từ việc lập chiến lược phát triển tổng thể
thị trường tài chính, sự hợp tác thường xuyên trong việc quản lý, xử lý những
vấn đề của thị trường (nhất là lĩnh vực chứng khoán ngân hàng), cho đến việc
giám sát một cách có hiệu quả các đối tượng tham gia và các hoạt động đan
xen trên thị trường.
Năm là, vẫn còn thiếu khuyết các công cụ phục vụ cho giám sát an toàn vĩ
mô và giám sát an toàn vi mô, nhất là đối với giám sát dựa trên rủi ro trong
thời gian tới. Các mô hình phân tích định lượng, dự báo, kiểm định EWS, ST,
VaR cho của cả hệ thống tài chính và cho từng định chế tài chính hầu như
chưa được phát triển.
Sáu là, vẫn còn nhiều yếu kém, bất cập của các cơ quan thanh tra giám sát tài
chính, thể hiện trên các phương tiện kỹ thuật lẫn nguồn nhân lực. Đến nay,
công nghệ thu thập, xử lý thông tin để phục vụ cho hoạt động giám sát từ xa
còn lạc hậu; trong khi đó, hiệu quả hoạt động giám sát tài chính lại phụ thuộc
nhiều về khả năng thu thập thông tin, nhất là có được một hệ thống thông tin
quản lý có khả năng cập nhật thông tin từ cơ sở đến cơ quan giám sát một
cách nhanh chóng và chính xác.
Chất lượng nguồn nhân lực giám sát vẫn còn bất cập, còn yếu so với yêu
cầu đảm bảo an toàn an toàn cho hoạt động khu vực tài chính. Nhìn chung,
cán bộ thanh tra, giám sát chưa có khả năng sử dụng mô hình định lượng và
kiểm tra tính hiệu quả của mô hình quản trị rủi ro của các tổ chức tài chính;
bên cạnh đó, văn hóa giám sát cũng như động lực thanh tra tại chỗ của cán bộ
thanh tra còn yếu.
Cuối cùng, song không kém phần quan trọng, vẫn còn nhiều khác biệt
giữa các tiêu chuẩn/chuẩn mực an toàn hoạt động, kế toán và kiểm toán của
Việt Nam với của quốc tế. Điều này khiến việc áp dụng các chỉ tiêu an toàn
giao dịch đáng ngờ, xét trong điều kiện hiện nay là không còn phù hợp. Trên
thực tế hoạt động giám sát theo cơ chế này vừa qua mới chỉ phát hiện được
khoảng 20 giao dịch đáng ngờ như vậy(5). Do đó, trong thời gian tới cần phải
sửa đổi hoàn thiện những thể chế này nhằm tạo điều kiện nâng cao hiệu lực
cho hệ thống giám sát tài chính. Bên cạnh đó, các thể chế giám sát hoạt động
của các quỹ đầu tư, các công ty bảo hiểm (bao gồm các tổ chức bảo hiểm nội
địa và tổ chức nước ngoài) cần được thiết lập nhằm ngăn chặn những hoạt
động lừa đảo xâm nhập theo hệ thống từ bên ngoài vào, cũng như hoạt động
tại thị trường Việt Nam; Chú trọng kiểm soát các sản phẩm tài chính phát sinh
phi truyền thống như bảo hiểm nhân thọ của các công ty tài chính; kiểm soát
các hoạt động tái đầu tư từ nguồn vốn huy động trong dân cư về lĩnh vực bảo
hiểm; Đặc biệt phải kiểm soát chặt hệ thống hoạt động cho vay dưới chuẩn
nhằm đề phòng những rối loạn trên lĩnh vực tín dụng, bảo hiểm. Đối với thị
trường chứng khoán, cần bổ sung những quy định về minh bạch hoạt động
giao dịch nhằm tạo sự lành mạnh trên thị trường; Giám sát hệ thống các hoạt
động giao dịch thông qua các quỹ đầu tư thuộc chủ sở hữu nước ngoài để có
thể phát hiện những hoạt động làm giá hoặc lũng đoạn thị trường, gây khó
khăn cho công tác quản lý an toàn vận hành thị trường từ phía cơ quan chức
năng.
Thứ hai, xây dựng hệ thống cảnh báo sớm hướng đến giám sát từ xa rủi
ro, phòng ngừa khủng hoảng.
Nhìn chung, hoạt động thị trường tài chính vốn vận hành hết sức tinh vi
và phức tạp do dòng lưu chuyển giá trị vốn chịu tác động của rất nhiều quy
luật khác nhau và khó kiểm soát, do đó luôn chứa đựng yếu tố bất ổn và tiềm
ẩn nguy cơ khủng hoảng. Chính vì vậy, nâng cao năng lực phòng ngừa khủng
hoảng thông qua hiệu lực giám sát tài chính là lĩnh vực đặc biệt phải chú ý
trong điều kiện thị trường tài chính Việt Nam đang hội nhập vào thị trường tài
chính khu vực và thế giới như hiện nay. Đặc biệt, khó kiểm soát hơn khi từ
năm 2012, lĩnh vực ngân hàng của Việt Nam sẽ phải được mở hoàn toàn theo
cam kết với WTO, khi đó hoạt động và quy mô vận hành hệ thống thị trường
chế về phân bổ ngán sách cho đầu tư cần trên cơ sở cân đối nguồn thu gắn với
yêu cầu trả nợ của Chính phủ và kiểm soát nợ trong ngưỡng an toàn. Phải căn
cứ vào đặc điểm và trình độ phát triển kinh tế của vùng để thực hiện đầu tư và
phân bổ ngân sách. Quy trình giám sát đặc biệt việc sử dụng ngân sách phân
bổ cần được cải tiến để tránh việc lạm dụng mục tiêu ưu tiên để làm thất thoát
và tham nhũng. Có thể tiến tới thành lập ủy ban phân loại đầu tư trực thuộc
Quốc hội để giám sát chặt chẽ các công trình trọng điểm và cơ chế phân bổ,
kỹ thuật phân bổ vốn cho các công trình trọng điểm nhằm hạn chế đầu tư dàn
trải, gây lãng phí ngân sách nhà nước và gây rủi ro, mất cân đối, thậm chí vỡ
nợ quốc gia.