Thuốc điều trị các bệnh lý tim mạch trong thời kỳ mang thai
DS. Thân Thị Mỹ Linh
Khoa Dược - BV Từ Dũ
1. Cao huyết áp
Các thuốc hạ áp thường được sử dụng trong thai kỳ là methyldopa, nifedipine, labetalol và
hydralazine. Tiền sản giật là một rối loạn chuyển hóa hệ thống và điều trị hạ huyết áp không những
giúp kiểm soát tăng huyết áp của mẹ mà còn thay đổi cơ bản bệnh lý.
Methyldopa – thuốc được coi là an toàn trong suốt thai kỳ. Mặc dù đi qua nhau thai nhưng chưa có
báo cáo tác dụng phụ trên thai nhi, và tác dụng phụ trẻ em sau hơn 7 năm không tìm thấy bằng
chứng về bất thường lâu dài trên con của các bà mẹ được điều trị trong thai kỳ.
Metyldopa là chất ức chế thần kinh trung ương và có thể gây ra chứng buồn ngủ, trầm cảm và hạ
huyết áp tư thế. Nó có tác dụng tương tự trên thai nhi, làm giảm biến thiên nhịp tim của thai nhi trên
máy đo tim thai. Tuy vậy, methyldopa vẫn là lựa chọn hàng đầu để hạ huyết áp cho phụ nữ bị cao
huyết áp đang mong muốn có con và trong thời kỳ mang thai. Do có liên quan tới bệnh trầm cảm nên
sau khi sinh methyldopa thường được thay thế bởi một thuốc khác như beta-blocker.
Thuốc chẹn kênh calci (CCB) - một trong những thuốc phổ biến nhất sử dụng trong thai kỳ là
nifedipine, nhưng dữ liệu sử dụng nicardipine, nitredipine và các isradipine cũng đã được báo cáo. Một
số nghiên cứu lớn đã chỉ ra rằng sử dụng CCB trong tam cá nguyệt thứ hai và thứ ba (giai đoạn thuốc
được sử dụng thường xuyên nhất) là thuốc hạ áp có hiệu quả và không có tác dụng phụ đáng kể. Ở
Canada, một nghiên cứu đoàn hệ tiền cứu về khả năng gây quái thai cho thấy không có sự gia tăng dị
tật thai nhi có tiếp xúc với CCB trong tam cá nguyệt đầu tiên.
Một số trường hợp báo cáo về tác dụng hiệp đồng của nifedipine và magnesium sulphate (kết hợp phổ
biến điều trị tiền sản giật), dẫn đến phản ứng nghiêm trọng hạ huyết áp. Tuy nhiên, thử nghiệm
MAGPIE lớn lại không tìm thấy bằng chứng của tác động hiệp đồng như vậy và chỉ ra rằng magnesium
slufate dường như không có bất kỳ tác dụng hạ huyết áp nào.
Hydalazine là một thuốc có tác dụng giãn mạch, trong thai kỳ, thường được sử dụng trong tăng
huyết áp cấp tính.
Beta-blocker, nhóm thuốc này bao gồm atenolol, bisoprolol, esmolol, labetalol, metoprolol,
oxprenolol, pindolol, propranolol, sotalol và timolol. Hai thuốc được sử dụng phổ biến nhất trong thai
kỳ là labetalol và atenolol với tác dụng là thuốc hạ áp hoặc chống loạn nhịp, nhưng cũng được sử
dụng ít phổ biến hơn trong bệnh đau nửa đầu hoặc hội chứng Marfan. Labetalol chủ yếu có tác dụng
thai trong khi dùng ACEI nên được đổi bằng thuốc hạ huyết áp khác nếu có thể. Sử dụng không chủ
định ACEI trong tam cá nguyệt đầu tiên không được xem là điều kiện chấm dứt thai kỳ hoặc thực hiện
các chẩn đoán xâm lấn.
Sử dụng thuốc trong tam cá nguyệt thứ hai và thứ ba có thể gây hạ huyết áp thai nhi và giảm lưu
lượng máu thận (thai nhi), thậm chí dẫn đến suy thận bào thai. Thiểu ối nặng có thể dẫn đến
hypoplasia phổi, co rút chân tay và biến dạng sọ và mặt. IUGR và sinh non cũng đã được báo cáo.
Những tác dụng phụ kéo dài trên trẻ sơ sinh như tưới máu thận và tốc độ lọc cầu thận kém, có thể
gây hạ huyết áp và suy thận nặng đủ để gây tử vong ở trẻ sơ sinh. Trong trường hợp bắt buộc tiếp tục
sử dụng ACEI, lượng nước ối và sự phát triển của thai nhi cần được theo dõi cẩn thận. Huyết áp và
chức năng thận cần được theo dõi chặt chẽ ở trẻ sơ sinh.
Chất ức chế angiotensin II (ARB)- nhóm thuốc này bao gồm losartan và valsartan. Đây là những
chất đối kháng đặc hiệu thụ thể angiotensin II và có tính chất tương tự như ACEI. Đây là những loại
thuốc tương đối mới và dữ liệu trong thai kỳ vẫn còn ít, nhưng khả năng gây ra các tác dụng phụ
giống như ACEI trong tam cá nguyệt thứ hai và thứ ba. Do đó các loại thuốc này không được khuyến
khích sử dụng trong thai kỳ, trừ khi tất cả các phác đồ điều trị khác không hiệu quả.
Prazosin - đây là một chẹn alpha-adrenoreceptor, được sử dụng điều trị hạ huyết áp trong thai kỳ
như một lựa chọn thứ hai, thường kết hợp với một thuốc chẹn beta. Prazosin sử dụng an toàn, nhưng
cần có biện pháp phòng ngừa hạ huyết áp quá mức khi sử dụng liều đầu.
2. Tăng huyết áp khẩn cấp
Điều trị dứt điểm cao huyết áp không kiểm soát được và tiền sản giật là chấm dứt thai kỳ. Tuy nhiên,
huyết áp phải được kiểm soát trong khi chuyển dạ hoặc trước khi gây mê. Các thuốc thường được sử
dụng là tiêm tĩnh mạch hydralazine hoặc labetalol, hoặc uống nifedipine.
Khi tiêm tĩnh mạch hydralazine hoặc labetalol, một nguy cơ đáng kể việc hạ huyết áp nhanh chóng có
thể dẫn đến suy giảm tưới máu nhau thai và các bất thường nhịp tim thai nhi. Do đó cần tiêm truyền
tĩnh mạch chậm.
Sử dụng nifedipine cũng phải tránh giảm huyết áp quá nhanh. Nên tránh sử dụng nifedipine đường
dưới lưỡi, sử dụng đường uống (thậm chí khởi phát tác dụng chậm) thích hợp hơn.
Magnesium sulphate là thuốc được lựa chọn đầu tay cho phòng ngừa động kinh ở phụ nữ tiền sản giật
nặng và phòng ngừa các cơn động kinh tái phát ở phụ nữ bị sản giật.
3. Phòng ngừa tiền sản giật
sotalol có tiềm năng gây ra IUGR, cần chỉ định siêu âm theo dõi. Sotalol có hiệu quả trong rung nhĩ
của thai nhi nhưng trong SVT tỷ lệ tử vong cao và tỷ lệ cải thiện thấp, do đó, những rủi ro có vẻ lớn
hơn lợi ích. Đối với điều trị cho mẹ, những rủi ro và lợi ích phải được cân nhắc trên cơ sở cá nhân hóa.
Class 4 – thuốc chẹn kênh calci, gồm ditiazem và verapamil. Loại thuốc này đã được đề cập phần trên.
5. Một số thuốc khác
Lợi tiểu thiazide - bao gồm hydrochlorothiazide và bendroflumethazide, tác dụng ức chế sự hấp thụ
của natri và clorua ở ống lượn xa và dẫn đến mất kali. Chưa có bằng chứng gây quái thai của LT
thiazide. Tác dụng làm giảm thể tích nội mạch và mặc dù có một nguy cơ lý thuyết giảm tưới máu tử
cung dẫn đến IUGR, điều này chưa có bằng chứng chứng minh. Khi sử dụng lâu dài trong thai kỳ
(thường là cho phụ nữ bị suy tim và/hoặc phù phổi), nồng độ điện giải của mẹ nên được kiểm tra
thường xuyên, siêu âm thường xuyên để giám sát IUGR và thiểu ối. Nếu người mẹ được cho sử dụng
thiazide ở giai đoạn cuối của thai kỳ, trẻ sơ sinh cũng có nguy cơ mất cân bằng điện giải (hạ natri
máu, hạ calci máu) hoặc hạ đường huyết (do hiệu ứng gây đái tháo đường ở mẹ).
Furosemide là thuốc lợi tiểu quai, tác động biến mất trong 2-4h. Chỉ định trong thời kỳ mang thai là
các rối loạn tim mạch như phù phổi hoặc suy tim, không nên sử dụng cho tiền sản giật vì nó làm giảm
đáng kể thể tích máu nội mạch (làm trầm trọng thêm sự suy giảm nội mạch vốn có trong điều kiện
này). Nếu sử dụng lâu dài, giảm thể tích huyết tương có thể dẫn đến hạn chế tăng trưởng bào thai,
mặc dù nó không giảm đáng kể lượng nước ối. Furosemid không gây quái thai.
Spironolactone là một chất đối kháng aldosterone có tác dụng lưu giữ kali. Không gây quái thai, tuy
nhiên, kinh nghiệm sử dụng hạn chế, do đó, chống chỉ định tương đối trong thai kỳ. Spironolactone
được biết là có tác dụng kháng androgen và về mặt lý thuyết có thể gây ra tình trạng nữ hóa của bào
thai nam, mặc dù điều này chưa được báo cáo.
Amiloride trực tiếp ảnh hưởng tới quá trình vận chuyển trong ống thận và là một thuốc lợi tiểu tiết
kiệm kali. Không gây quái thai. Tuy nhiên, giống với spironolactone, dữ liệu đang thiếu và thuốc
chống chỉ định tương đối trong thai kỳ.
Digoxin
Digoxin được sử dụng kiểm soát suy tim, rung nhĩ, không có tác dụng phụ trên thai nhi ở liều điều trị
trong thai kỳ. Digoxin tự do đi qua nhau thai và đã được chứng minh là hiệu quả trong điều trị SVT
thai nhi. Nồng độ digoxin phải được theo dõi trong thời gian mang thai, độc tính trên mẹ có thể gây tử
vong cho thai nhi, hơn nữa độ thanh lọc thận tăng lên trong thời kỳ mang thai nên liều sử dụng có thể