TM TT
!"#$
%##&#"'
! ()*%&+,-+.$/%0123%&56%&7
%'
"#$8	:9;;<=9;;>?>; %&@A>BA#6%
&&CD/BDEF'8&#?123GH& &+I$#BEDEFJKL>DMF'N
?O1236%/<LD9FD/P#%##&#"QE<D;FR'8&#?123"#$5@ =
/ #QLMD<FR'8&#?P = H1235PS# G/&T%/99D<F'
U%123 H VQ9ED<FRD// Q99DAFRD Q9BD9FRH HQWD>FR'2
"#$"X+,@&%H6.K/LLD>FD+,%BBDAF'Y?L<DMF"
IB%DBADEF"I9%'Y%123"#%##&#" H %+D/AWD;FD
//Y%Q9;DAFR'
"%&N%##&#"9?%?O1236%'8, "X%"
5O123"#%##&#" #'
'()Z %'
12[\3]\23^_3\1Y8`ab]Q123]R`b83\18(\b818Z\2`183`Y2\Z138(\b8
acU1Yd(1`da]Z`81e
Nguyen Tien Dung, Vu Thi Tram, Nguyen Mai Huong
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 14 - Supplement of No 4 - 2010: 129 - 134
*+,- 8#"PP&PP&P PP& P#S "P&P"&%&P #Q123R# # "%##&#"P
"#f"#%P & P&#SP "P&P&P #'
-/03P&#P#&P#&"#SP Pg123gP&P"PP&P"H"##&'
1-2%22%&g#P&#"S	;<#9;;>DP&PgP&P>;"&Pg123#P&A>BA P&P P"
P" &"P &P#SU # "P#P& "PP#S123g B'EF'aS#PD123#%&&P"PS#&P
"hP"#PBE'EF "P# #PL>'MF'`"PP#S123#S #Q<L'9FRg P "P#P
%##&#"PQE<';FR'`P #&#%D"PP#S123#SP = QLM'<FRg P "PP =
Là các bệnh án của những bệnh nhi vào điều trị nội trú tại khoa Nhi - Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 1/2005
đến tháng 12/2006.
(/1&'2(32&'(#$&!)%
Mô tả hồi cứu các trường hợp gặp ADR tại khoa Nhi.
Tiêu chuẩn xác định ADR: Được bác sĩ kết luận là gặp ADR.
- Thời gian xuất hiện biểu hiện dị ứng: là khoảng thời gian từ lần dùng thuốc cuối cùng đến khi xuất hiện
triệu chứng dị ứng đầu tiên.
+ Phản ứng dị ứng cấp tính: xuất hiện trong vòng 1 giờ sau khi dùng thuốc.
+ Phản ứng dị ứng bán cấp: xuất hiện trong ngày đầu sau khi dùng thuốc.
+ Phản ứng dị ứng muộn: xuất hiện trong vòng vài ngày hoặc vài tuần sau khi dùng thuốc.
- Thời gian hồi phục ADR: là khoảng thời gian tính từ lúc xuất hiện triệu chứng đầu tiên của ADR đến khi
hết hoàn toàn triệu chứng.
Tiêu chuẩn loại trừ ADR: Không được bác sĩ kết luận là ADR.
45678.6#9%
Số liệu được xử lí bằng chương trình Excel for Windows.
:;
Trong 2 năm 2005-2006 có 60 bệnh nhi gặp phải phản ứng bất lợi của thuốc trên 4614 bệnh nhi vào điều trị
nội trú, chiếm tỉ lệ 1,3%. Phân bố tỷ lệ ADR theo tuổi và giới được trình bày trong bảng 1.
5$68O123P#%jI
Lớp tuổi Nam Nữ Tổng
Số
BN
Tỷ lệ
(%)
Số
BN
Tỷ lệ
(%)
Số
BN
19
12
17
1,7
18,3
31,7
20,0
28,3
Tổng 34 56,6 26 43,4 60 100,0
789 Theo bảng 1 có 34 bệnh nhi nam chiếm tỉ lệ 56,6% và 26 bệnh nhi nữ (43,4%). ADR xảy ra ở tất cả
các lứa tuổi, trong đó nhiều nhất là nhóm tuổi từ 1 - 6 tuổi (31,7%), tiếp đó là nhóm 12 - 15 tuổi (28,3%). Tuổi
bệnh nhi có ADR thấp nhất là 20 ngày.
Có 6 nhóm thuốc gây ra ADR, trong đó kháng sinh chiếm vị trí hàng đầu (58,2%), tiếp theo là
glucocorticoid (35,0%). Kết quả được trình bày trong bảng 2.
5$:Y?%H123
Nhóm thuốc Số bệnh nhân Tỉ lệ %
Kháng sinh
Glucocorticoid
Hạ sốt, giảm đau
Vaccin
Ức chế bơm proton
Thuốc nam
35
21
1
1
1
1
58,2
35,0
2
2
1
1
1
22,5
20,0
12,5
10,0
5,0
5,0
5,0
2,5
2,5
2,5
Nhóm khác Vancomycin
Gentamicin
Metronidazol
3
1
1
7,5
2,5
2,5
Tổng 40 100,0
789 Kết quả ở bảng 3 cho thấy trong các kháng sinh gây ADR, Cefotaxim chiếm vị trí hàng đầu
(22,5%), tiếp đó là Cefazolin (20,0%), Cefuroxim (12,5%).
Từ năm 2006 khoa Dược – Bệnh viện Bạch Mai có sự đổi mới trong phương pháp quản lí thuốc, nhờ vậy
chúng tôi đã thu thập được dữ liệu về tổng số thuốc được sử dụng trong năm 2006 tại khoa Nhi. Trên cơ sở đó
chúng tôi tính được tỷ lệ các thuốc kháng sinh gây ADR trên tổng số thuốc được sử dụng. Kết quả được trình
0,07
0,07
789 Có 14 loại triệu chứng biểu hiện ADR khác nhau của các kháng sinh và đều là biểu hiện của
phản ứng dị ứng. Trong đó ban đỏ hay gặp nhất (23,5%) tiếp đến là ngứa (22,4%) nổi mẩn (21,2%),mày đay
(9,6%). Kết quả được trình bày trong bảng 5.
5$=b!% ""#$
Triệu chứng lâm sàng Tần xuất Tỉ lệ %
Ban đỏ
Ngứa
Nổi mẩn
Mày đay
Phù Quincke
Rét run
Sốt
Rối loạn tiêu hoá
Đầu chi lạnh
Da xanh tái
Khó thở
Mạch quay bắt yếu
Nôn
Xỉu
20
19
18
8
5
4
3
2
1
lệ 45,7% và 19 bệnh nhi xảy ra từ 1- 24 giờ, chiếm tỷ lệ 54,3%. Kết quả được thể hiện ở biểu đồ 2.
≤ 1 giờ
> 1- 24 giờ
5>?@:8, G%%"
789 Có 21 bệnh nhi gặp ADR do glucocorticoid. Trong nhóm thuốc glucocorticoid gây ADR cho
thấy prednisolon chiếm vị trí hàng đầu với tỷ lệ 66,4%. Kết quả được trình bày ở bảng 6.
5$AY%##&#"H123'
TT Thuốc gây ADR Tần xuất Tỉ lệ %
1
2
3
4
Prednisolon
Prednisolon +
Methylprednisolon
Methylprednisolon
Mazipredon
14
4
2
1
66,4
19,2
9,6
4,8
Tổng 21 100,0
Các biểu hiện ADR do glucocorticoid xảy ra ở 21 bệnh nhân, trong đó có 8 bệnh nhân có từ 2 triệu chứng
trở lên. Cả 10 loại triệu chứng ADR đều xuất hiện trong thời gian nằm viện. Trong đó đau thượng vị, ợ hơi, ợ
6,8
3,4
3,4
3,4
3,4
3,4
3,4
3,4
Tổng 29 100,0
789 Nghiên cứu mối liên quan giữa tần xuất xuất hiện ADR với thời gian dùng thuốc cho thấy thời
gian dùng thuốc càng dài thì tần xuất ADR càng cao. Kết quả được trình bày ở bảng 8.
5$Ce@4% ! 123, "X%
Thời gian
dùngglucocorticoid
Tần xuất Tỉ lệ %
≤ 3 ngày
> 3-10 ngày
> 10 ngày
3
11
15
10,3
38,2
51,5
Tổng 29 100,0
+<
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có 60 trường hợp gặp ADR trong tổng số 4 614 bệnh nhi vào điều
trị nội trú, chiếm tỷ lệ 1,3%. Tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với một số nghiên cứu khác như nghiên cứu của
Impicciatore P và cs là 9,53%, của Khotaei GT là 12%, của Santos DB và cs là 12,5%, của Gonzalez-Martin
G và cs là 13,7%
ứng, tuy nhiên tiêm truyền tĩnh mạch là hay gặp ADR hơn cả, chiếm tỷ lệ 88,6%. Theo Lê Văn Khang thấy có
18 triệu chứng lâm sàng do dị ứng thuốc kháng sinh gây ra, trong đó các biểu hiện trên da và niêm mạc là
20,0% và xuất hiện trên 93,0% người bệnh
(7).
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Đoàn cho thấy có 23 triệu chứng lâm
sàng do dị ứng thuốc kháng sinh, trong đó ban đỏ, mày đay, phù Quincke, viêm loét niêm mạc, bọng nước
trên da là những triệu chứng hay gặp hơn cả
(1)
. Santos DB và cs cũng thấy cũng nhận thấy nổi ban ngoài da là
biểu hiện hay gặp nhất chiếm tỷ lệ 53,2%
(10)
.
Nghiên cứu của chúng tôi còn cho thấy tỷ lệ bệnh nhi có tiền sử dị ứng là 5,7%. Kết quả này thấp hơn so
với nghiên cứu của Kingdon MI, Y See với tỷ lệ là 28,4%
(4)
. Cần chú ý là trong số 5 bệnh nhi dị ứng với 2 thuốc
kháng sinh, chiếm tỷ lệ 14,3%, có 3 trường hợp là do thay kháng sinh cùng nhóm. Vì vậy ngoài việc khai thác
tiền sử phản ứng ở bệnh nhân thì cần quan tâm đến quá mẫn chéo, nhất là các kháng sinh thuộc nhóm Bêta-
lactam. Ngoài ra chúng tôi cũng gặp 1 trường hợp do sai sót của y tá tiêm nhầm loại thuốc đã gây phản ứng
làm cho bệnh nhi có những triệu chứng dị ứng nặng hơn.
Hầu hết các trường hợp gặp ADR do kháng sinh đều được ngừng thuốc và sau đó điều trị bằng hai nhóm
thuốc là kháng H1 và glucocorticoid (GC). Nghiên cứu của Gonzalez và cs cũng có nhận xét tương tự
(1).
Nghiên cứu cho thấy biểu hiện ADR ở đường tiêu hoá là hay gặp nhất trong các ADR do glucocorticoid,
chiếm tỉ lệ 49,0% và gặp ở 66,7% bệnh nhi. Đó là các triệu chứng đau vùng thượng vị, ợ hơi, ợ chua, buồn nôn.
Các bệnh nhi này đều được soi dạ dày nhưng không có trường hợp nào phát hiện có tổn thương thực thể.
Theo nghiên cứu của Trần Thu Thuỷ trên 164 bệnh nhân hen phế quản dùng GC, có tỷ lệ ADR ở đường tiêu
hoá là 27,4% với các biểu hiện đau rát thượng vị, viêm loét dạ dày tá tràng, xuất huyết tiêu hoá
(12)
.
10. Santos DB, Coelho HL (2006). Adverse drug reactions in hospitalized children in Fortaleza, Brazil. Pharmacoepidemiol Drug
Saf.;15(9):635-40.
11. Trần Phương Liên (2005), Phân tích những biểu hiện phản ứng có hại của thuốc tại bệnh viện khu vực Sơn Tây, Luận văn thạc sĩ dược
học.
12. Trần Thu Thuỷ (2006). Nghiên cứu một số tai biến của glucocoticoid trên bệnh nhân hen phế quản điều trị nội trú tại khoa Dị ứng –
MDLS Bệnh viện Bạch Mai 2002- 2006. Khoá luận tốt nghiệp bác sỹ y khoa khoá 2000- 2006.