ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM
KHOA XÃ HỘI HỌC
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP TỐT NGHIỆP HỌC LÝ THUYẾT VÀ LỊCH SỬ XÃ HỘI
HỌC
*************
MỘT SỐ BÀI ĐỌC THAM KHẢO VỀ LÝ THUYẾT VÀ LỊCH SỬ XÃ HỘI
HỌC
VỀ XÃ HỘI HỌC MAX WEBER
(Tiêu đề của NLS)
Nguồn : Max Weber,
Nền đạo đức Tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản
(Bùi Văn Nam Sơn, Nguyễn Nghị, Nguyễn Tùng, và Trần Hữu Quang dịch), Hà Nội,
Nxb Tri thức, 2008, trang 11-46.
Lời giới thiệu
Trần Hữu Quang
Bùi Văn Nam Sơn
Max Weber (tên đầy đủ là Maximilian Carl Emil Weber) (1864-1920), nhà xã hội học
người Đức, là một trong số ít tác giả có tầm ảnh hưởng lớn lao trong ngành xã hội
học, và được xem là một trong những ông tổ của ngành khoa học xã hội này, bên cạnh
những tác giả tên tuổi như Karl Marx, Emile Durkheim, Vilfredo Pareto, Georg
Simmel Một số luận điểm và công trình nghiên cứu của ông đã và vẫn còn tiếp tục
1
là đề tài gây tranh luận trong giới học thuật, kể cả về phía những người ngưỡng mộ
lẫn về phía những kẻ phê phán. Kể từ khi có bản dịch đầu tiên sang tiếng Nga cho tới
những bản dịch sang tiếng Nhật sau này, các công trình của ông đã không ngừng gây
ảnh hưởng lớn lao tới các bước phát triển của ngành xã hội học ở hầu như tất cả các
nước trên thế giới.
Nhưng Weber không chỉ là một nhà xã hội học, ông còn được biết đến như là một nhà
triết học, nhà luật học, nhà kinh tế học và nhà sử học với những kiến thức và lý giải
uyên thâm. Khối lượng công trình đồ sộ của Weber có thể được xếp làm bốn loại
chính sau đây : (a) các công trình phương pháp luận trong khoa học xã hội và triết
hiểu hành động xã hội của các cá nhân bằng cách chú tâm tới ý nghĩa mà họ nhắm đến
– với một thái độ phương pháp luận khách quan và trung tính. Sau đó, để có thể sắp
xếp lại cái thực tại vô cùng đa dạng, chúng ta cần áp dụng nguyên tắc xây dựng “loại
hình-lý tưởng” (Idealtypus) vốn có chức năng chính là giúp chúng ta lý giải thực tại.
Và cuối cùng, chúng ta cần đi tìm nguyên nhân nhằm giải thích được thực tại – đây
vốn là mục tiêu tối hậu của ngành xã hội học.
4
Đối với Weber, xã hội học phải là một bộ môn khoa học “thông hiểu” (verstehende
Soziologie) về “hành động xã hội” (soziales Handeln). Weber cho rằng chỉ khi nào
thông hiểu được các hành động xã hội của các cá nhân, thông hiểu được ý nghĩa mà
các cá nhân gán cho hành động của họ, thì chúng ta mới có thể giải thích được một
cách thấu đáo các sự kiện xã hội hay các hiện tượng tập thể. Quan niệm này đối lập
với lập trường phương pháp luận của nhà xã hội học Pháp đương thời là Emile
Durkheim (1859-1917), vốn quan niệm xã hội học phải trở thành “một ngành khoa
học thực chứng” (science positive).
Chính vì có lối tiếp cận ấy mà Max Weber đã viết vào năm 1904-1905 công trình nổi
tiếng mang tên là Die protestantische Ethik und der Geist des Kapitalismus (Nền đạo
đức Tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản, từ đây viết tắt là ĐĐTL). Đây không
2
Xem Talcott Parsons, “Introduction”, trong Max Weber : The Theory of Social and Economic Organization (Max
Weber : Lý thuyết về tổ chức xã hội và kinh tế) [1947], (Phần I quyển Wirtschaft und Gesellschaft [Kinh tế và xã
hội] của Max Weber), (A. M. Henderson và Talcott Parsons dịch), với lời giới thiệu của Talcott Parsons, New
York, Nxb The Free Press, 1964, tr. 78.
3
“Soziologie (im hier verstandenen Sinn dieses sehr vieldeutig gebrauchten Wortes) soll heißen : eine
Wissenschaft, welche soziales Handeln deutend verstehen und dadurch in seinem Ablauf und seinen Wirkungen
ursächlich erklären will.”
4
Xem Laurent Fleury, Max Weber, Paris, Nxb Presses universitaires de France, “Que sais-je ?”, 2001, tr. 21.
Ý tưởng đó hình thành dần dần trong bài “Die 'Objektivität' sozialwissenschaftlicher
und sozialpolitischer Erkenntnis” (“Tính khách quan” của nhận thức khoa học xã hội
và chính trị-xã hội) đăng vào năm 1904 trong Archiv für Sozialwissenschaft und
Sozialpolitik, tập XIX, tức một tập trước khi công bố luận văn đầu tiên của ĐĐTL (tập
XX, 1904). Trong bài báo đó, Weber nhấn mạnh đến sự cần thiết phải “phác thảo một
'ý niệm' về nền văn hóa tư bản chủ nghĩa” (“Zeichnung einer 'Idee' der
kapitalistischen Kultur”) cũng như đã đề cập đến sự phân biệt rất cơ bản giữa “giáo
hội” (“Kirche”) và “giáo phái” (“Sekte”), và tầm quan trọng của niềm tin vào sự tiền
định (Prädestinationsglauben) trong giáo thuyết của Calvin.
Trong số các trước tác của Weber, chính quyển ĐĐTL này đã làm cho giới nghiên cứu
hao tốn nhiều giấy mực nhất kể từ khi xuất bản lần đầu cho tới ngày nay. Max Weber
có lẽ là một trong số rất ít tác giả xã hội học, nếu không muốn nói là người duy nhất,
đã coi các nhân tố tôn giáo như có vai trò trung tâm trong sự hình thành của các nền
văn minh và đặc biệt là trong sự ra đời của tư duy duy lý Tây phương. Trong những
công trình nghiên cứu khác về các tôn giáo lớn trên thế giới như Do Thái giáo cổ đại,
Lão giáo, Khổng giáo, Ấn Độ giáo, Phật giáo (mà ông bắt đầu nghiên cứu kể từ năm
1911), ông đã tìm cách xác định vai trò của các nền văn hóa tôn giáo và các nền đạo
đức tôn giáo với tư cách là những nhân tố thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển của nền
văn minh công nghiệp tư bản chủ nghĩa cận đại.
Người ta có thể đồng ý hay không đồng ý với giả thuyết của ông về vai trò chủ yếu
của nền đạo đức khổ hạnh Tin lành trong sự sinh thành của tư duy duy lý tư bản chủ
nghĩa Tây phương, nhưng đáng chú ý là trong lịch sử khoa học xã hội hiện đại, hiếm
có luận đề nào gây ra những cuộc tranh cãi sôi nổi kéo dài hơn một thế kỷ và cho đến
nay vẫn còn kích thích mở ra nhiều cuộc nghiên cứu mới.
6
I. Chủ nghĩa tư bản theo Weber
5
Gesammelte Aufsätze zur Wissenschaftslehre, 3. Aufl. Tübingen 1968, tr. 32.
Religions, số 127, 2004, tr. 5-8.
7
Xem Alain Bihr, “Les origines du capitalisme selon Max Weber” (Các nguồn gốc của chủ nghĩa tư bản theo Max
Weber), Interrogations, số 2, tháng 6-2006, tr. 111.
8
Max Weber, “Lời nhận xét mở đầu”, bản gốc trang 4.
9
Như trên, tr. 4.
6
là sự điều tiết bằng lý tính, cái bản năng phi lý tính ấy”.
10
Weber hình dung chủ nghĩa tư bản như là sự hiện diện và sự hoạt động của những
doanh nghiệp mang mục đích làm ra lợi nhuận tối đa và có lối tổ chức thuần lý đối với
lao động và sản xuất. Ông viết : “Thật vậy, chủ nghĩa tư bản đồng nghĩa với việc đi
tìm lợi nhuận trong những doanh nghiệp tư bản chủ nghĩa liên tục và thuần lý : đi tìm
một lợi nhuận luôn luôn tái sinh, đi tìm ‘tính sinh lợi’. Vì nó buộc phải như thế. Khi
mà toàn bộ nền kinh tế nằm trong trật tự tư bản chủ nghĩa, thì bất cứ một doanh
nghiệp tư bản chủ nghĩa riêng lẻ nào không tự định hướng mình theo mục tiêu đạt
được tính sinh lợi thì chỉ có nước tiêu vong.”
11
Bình luận về điểm này, nhà xã hội học người Pháp Raymond Aron (1905-1983) lưu ý
thêm rằng, thực ra, ở đây Weber coi đặc trưng cấu thành then chốt của chủ nghĩa tư
bản không phải là việc đi tìm “lợi nhuận tối đa” (profit maximum), mà là việc tích lũy
bất tận (accumulation indéfinie). Từ xưa tới nay, thương nhân nào cũng muốn kiếm
lời tối đa qua mỗi vụ buôn bán. Nhưng đối với nhà kinh doanh tư bản chủ nghĩa thì
nét đặc trưng không nằm ở chỗ ông ta không hạn chế ham muốn doanh lợi, mà ở chỗ
ông ta luôn nung nấu ham muốn tích lũy không ngừng ngày càng nhiều, và do vậy mà
ý chí sản xuất của ông ta cũng trở nên không có giới hạn. Chính là sự kết nối giữa
thuần túy phi lý tính và đầu cơ, hoặc là thiên về cách chiếm hữu bằng bạo lực, nhất là
chiếm đoạt chiến lợi phẩm thông qua chiến tranh, hay dưới hình thức chiến lợi phẩm
tài chánh, nghĩa là thông qua việc bóc lột những người bị trị”.
15
Theo Weber, đấy chỉ là những loại hình “chủ nghĩa tư bản thương mại, hoặc hướng
đến chiến tranh, đến chính trị, hay đến chính quyền” hoặc “chủ nghĩa tư bản phiêu
lưu”. Ông cho rằng “trong thời kỳ cận đại, Tây phương đã biết đến một dạng phát
triển của chủ nghĩa tư bản hoàn toàn khác và chưa có ở bất cứ nơi nào trên trái đất :
[đó là] cách tổ chức thuần lý tư bản chủ nghĩa đối với lao động tự do (về mặt hình
thức) mà người ta chỉ có thể bắt gặp ở dạng thô sơ ở các nơi khác.”
16
Weber gọi dạng
chủ nghĩa tư bản này là “chủ nghĩa tư bản doanh nghiệp dân sự” [“bürgerliche
Betriebskapitalismus”].
17
Bên cạnh việc nhìn nhận vai trò quan trọng của những yếu tố như thị trường và kỹ
thuật, Max Weber còn đặc biệt nhấn mạnh tới vai trò cũng như quá trình lý tính hóa
của luật pháp và của bộ máy hành chính [Verwaltung]. Ông viết : “Cấu trúc thuần lý
13
Xem Raymond Aron, sđd, tr. 530-531.
14
Max Weber, “Lời nhận xét mở đầu”, bản gốc trang 6.
15
Như trên, tr. 7.
8
của luật pháp và của bộ máy hành chính lẽ tất nhiên là điều quan trọng. Thật vậy, chủ
nghĩa tư bản doanh nghiệp thuần lý hiện đại đòi hỏi phải có sự tiên liệu có tính toán,
không chỉ về mặt kỹ thuật sản xuất, mà cả về mặt luật pháp, cũng như một bộ máy
hành chính với những qui tắc hình thức rõ ràng. Không có những yếu tố này, thì chắc
Max Weber, “Lời nhận xét mở đầu”, bản gốc trang 11.
9
nghĩa nào cụ thể và minh nhiên, nhưng qua các công trình của ông, toát lên rõ ràng ý
định của ông khi đề cập đến khái niệm chủ nghĩa tư bản là “chuyển từ chỗ nhấn mạnh
chính khía cạnh kinh tế sang nhấn mạnh những yếu tố thông thường vốn nằm bên
dưới [khía cạnh kinh tế] lẫn bên dưới những khía cạnh khác của xã hội chúng ta”.
19
Weber đặt ra một câu hỏi mấu chốt trong lối đặt vấn đề của ông là tại sao các quá trình
đặc trưng của chủ nghĩa tư bản Âu châu cận đại chỉ xảy ra ở châu Âu, chứ không xảy
ra ở các nền văn hóa khác : “Tại sao các lợi ích tư bản chủ nghĩa ở Trung Hoa hay ở
Ấn Độ đã không làm giống như thế ? Tại sao ở đó sự phát triển khoa học, nghệ thuật,
chính trị lẫn kinh tế đều không lèo lái theo các con đường lý tính hóa vốn là đặc trưng
riêng của Tây phương ?”
20
Từ đó Weber đề cập tới giả thuyết khoa học chính của mình : “(…) nếu tư duy duy lý
kinh tế, trong sự ra đời của nó, phụ thuộc vào nền kỹ thuật thuần lý và luậ̣t pháp thuần
lý, thì nó cũng phụ thuộc nói chung vào năng lực và tâm thế của con người khi họ
chọn những lối sống thuần lý nào đó trong thực tế. Khi lối sống này vấp phải những
kìm hãm về tinh thần, thì sự phát triển của ứng xử kinh tế thuần lý cũng sẽ gặp phải
những trở lực nội tâm nặng nề.”
21
Điều đáng chú ý ở đây là Weber đề cập tới những
con người cá thể và “lối sống” cũng như “tâm thế” (Disposition) của những con người
ấy với tư cách là một trong những nhân tố quan trọng cần nghiên cứu nhằm góp phần
giải thích sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản ở châu Âu.
Trước khi bàn tiếp về giả thuyết trên, chúng ta hãy dừng lại để tìm hiểu thêm về
phương pháp luận cá nhân (hay nói một cách đầy đủ là “phương pháp luận quy về cá
nhân”) (methodological individualism) của Max Weber – người thường được coi là
hơn 10 năm trong quyển Những qui tắc của phương pháp xã hội học (1894). Theo nhà
xã hội học người Pháp này, người ta chỉ có thể giải thích một hiện tượng xã hội này
bằng một hiện tượng xã hội khác, và do đó cần tập trung chú ý tới các “sự kiện xã
hội” (fait social) khách quan ở bên ngoài chứ không cần quan tâm tới những động cơ
hay ý định chủ quan của các cá nhân. “Mỗi lần mà một hiện tượng xã hội được trực
tiếp giải thích bằng một hiện tượng tâm lý, người ta có thể chắc chắn rằng lối giải
21
Như trên, tr. 12.
22
Như trên, tr. 4.
23
Xem Alain Bihr, bài đã dẫn, tr. 112.
24
Xem Alain Bihr, bài đã dẫn, tr. 115.
11
thích này là sai lầm.”
25
Durkheim nêu ra một trong những nguyên tắc phương pháp
luận xã hội học như sau : “Phải đi tìm nguyên nhân quyết định của một sự kiện xã hội
nơi các sự kiện xã hội xảy ra trước đó, chứ không phải nơi các trạng thái ý thức cá
nhân.”
26
Theo mạch suy nghĩ của Max Weber, không thể nhận diện các sự kiện xã hội giống
như các sự kiện vật lý, bởi lẽ các sự kiện xã hội luôn luôn được hình thành hay được
xây dựng “từ bên trong” (construits de façon endogène) bởi những tác nhân xã hội, và
chính do sự tự xây dựng này (autoconstruction) mà các sự kiện xã hội mới có thể hiện
hữu, mới có thể xảy ra ; và cũng do vậy mà chúng ta cần hiểu được “ý nghĩa nội sinh”
(sens endogène) của các hành động xã hội.
27
chỉ là những kết quả
[Abläufe] và những tập hợp kết nối [Zusammenhänge] của những hành động đặc thù
của những con người cá thể [einzelner Menschen], bởi lẽ những con người này mới
chính là những tác nhân duy nhất [mà chúng ta] có thể hiểu được – [những tác nhân]
của một hành động hướng đến ý nghĩa. Nhưng dù vậy, ngành xã hội học, kể cả vì mục
đích riêng của mình, vẫn không thể bỏ qua những khái niệm tập thể ấy [kollektiven
Gedankengebilde] vốn xuất phát từ những lối tiếp cận khác.”
30
Tuy nhiên, phương pháp luận cá nhân của Weber hoàn toàn không có liên quan gì với
lý thuyết về sự chọn lựa thuần lý (rational choice theory) trong ngành kinh tế học vốn
hình dung cá nhân như con người đơn lẻ (atome) và ích kỷ, cũng “không phải là một
bước lùi trở lại tình trạng trước Hegel với một quan niệm cá nhân chủ nghĩa-nguyên
tử về xã hội”
31
. Mặt khác, trong số ba nghĩa của khái niệm “individualisme” (cá nhân
luận) mà nhà xã hội học người Pháp Raymond Boudon phân biệt, chỉ có nghĩa thứ ba
mới đúng là phương pháp luận của Max Weber : (a) cá nhân luận “xã hội học”
(individualisme “sociologique”) là khái niệm dùng để chỉ lối ứng xử của các cá nhân
trong lòng một xã hội vận hành dựa trên nguyên tắc bình đẳng (chẳng hạn những xã
hội “cá nhân chủ nghĩa” [sociétés “individualistes”] đối lập với những xã hội “đẳng
cấp” [sociétés “hiérarchiques”]) ; (b) cá nhân luận “đạo đức” (individualisme
“éthique”) là khái niệm dùng để chỉ một học thuyết cho rằng cá nhân là điểm qui
chiếu tối hậu của các chuẩn mực, các định chế và các chọn lựa giá trị trong xã hội (đối
29
Tức là những “cấu trúc xã hội” như nhà nước, các hợp tác xã, các công ty cổ phần hay các hiệp hội mà Weber vừa
nói tới ở câu trước.
30
Max Weber, Wirtschaft und Gesellschaft (Kinh tế và xã hội) [1920]. Xem bản dịch tiếng Pháp Economie et
société, tập 1, Paris, Nxb Plon 1971, Pocket tái bản, 1995, tr. 41. Xem bản dịch tiếng Anh Max Weber : The
nhân.”
34
Nhưng chúng ta không nên ngộ nhận rằng thao tác qui giản về hành động cá nhân này
32
Dẫn lại theo Laurent Fleury, sđd, tr. 19.
33
Max Weber, Wirtschaft und Gesellschaft, bản dịch tiếng Pháp đã dẫn, tr. 41, và bản dịch tiếng Anh đã dẫn, tr.
102.
14
mang một ý nghĩa bản thể luận, vì nó chỉ mang ý nghĩa phương pháp luận : theo
Weber, “con người cá thể” hay cá nhân được xem xét ở đây không hề được quan niệm
như là những đơn vị đơn lẻ, biệt lập nhau, mà chỉ được coi như những dữ kiện cuối
cùng mà chúng ta có thể và cần phải “thông hiểu” và lý giải để có thể giải thích được
các hiện tượng xã hội.
35
Và chính Weber còn nói rõ thêm rằng “cần phải loại bỏ sự
ngộ nhận khủng khiếp cho rằng phương pháp 'cá nhân luận' ['individualistische'
Methode] cũng có cùng một nghĩa như một sự đánh giá cá nhân chủ nghĩa
['individualistische' Wertung]”.
36
III. Khái niệm Beruf và tư duy duy lý khổ hạnh của đạo Tin lành
Hãy trở lại với câu hỏi là tại sao chủ nghĩa tư bản Âu châu chỉ ra đời và phát triển
trong xã hội Tây phương thời cận đại, chứ không ở bất cứ nơi nào khác. Giả thuyết mà
Weber đề xướng là : có một số yếu tố của đạo Tin lành đã tạo ra được những động cơ
thuận lợi cho sự hình thành của chế độ tư bản chủ nghĩa. Weber cho rằng chính cái
thái độ đặc trưng đối với lao động – một thái độ vốn chịu ảnh hưởng quyết định bởi
nền đạo đức Tin lành, và điều này chỉ có ở phương Tây – có khả năng giải thích diễn
tiến lịch sử đặc thù ấy của phương Tây, khác với tất cả các nơi khác trên thế giới.
Nền đạo đức Tin lành mà Weber phân tích trong quyển sách này chủ yếu là quan niệm
nhân bị thúc đẩy đến chỗ phải cần cù làm việc để vượt qua nỗi khắc khoải là không
biết mình có được cứu rỗi hay không.
Weber viết : “Thay vào chỗ của những kẻ tội lỗi đầy lòng khiêm hạ vốn được Luther
hứa hẹn ân sủng nếu họ tự phó thác mình cho Thiên Chúa trong một lòng tin sám hối,
xuất hiện 'các vị thánh' tự tin mà chúng ta có thể bắt gặp nơi các thương gia Puritanist
với ý chí sắt thép của thời kỳ anh hùng của chủ nghĩa tư bản, và kể cả ngày nay nơi
một số gương mặt điển hình. Mặt khác, để đạt tới sự tự tin này, cách thức thích hợp
nhất được khuyến khích là hãy làm việc không ngơi nghỉ trong một nghề [rastlose
Berufsarbeit]. Điều này, và chỉ điều này thôi, mới xua tan được nỗi hoài nghi về mặt
16
tôn giáo và đem lại sự tin chắc về ân sủng.”
37
Khái niệm Beruf mà Weber sử dụng ở đây, theo ông, do xuất phát từ quan niệm thần
học của đạo Tin lành, không phải chỉ có nghĩa đơn giản là “nghề nghiệp” (như chữ
“profession” hay “job” trong tiếng Anh, chỉ một loại lao động để kiếm sống), mà còn
mang ý nghĩa “thiên chức” – ông nhắc tới từ “calling” trong tiếng Anh (đồng nghĩa
với chữ “Berufung” [sự kêu gọi] trong tiếng Đức) – hay một “phận sự” (Aufgabe) do
Thiên Chúa chỉ định, và vì thế nó đi đôi với khái niệm “bổn phận” (Pflicht). Weber
cho rằng đây chính là sản phẩm hết sức mới mẻ của cuộc Cải cách của đạo Tin lành,
khác hẳn so với quan niệm của đạo Công giáo truyền thống về “đời này” (đối lập với
“đời sau”) và về các công việc trần gian. Ông viết : “(…) cho rằng bổn phận được
thực hiện thông qua các nghề nghiệp trần thế, rằng bổn phận ấy là hoạt động đạo đức
cao nhất mà con người có thể đảm nhiệm ở đời này – đó chắc chắn là điều mới mẻ.
Như vậy, một cách tất yếu, hoạt động thường ngày mang một ý nghĩa tôn giáo, chính
từ đó mà khái niệm 'Beruf' mang ý nghĩa [thiên chức] ấy. Ý nghĩa này biểu lộ tín điều
trung tâm của tất cả các giáo phái Tin lành vốn bác bỏ sự phân biệt các điều răn đạo
đức nơi người Công giáo thành các praecepta [mệnh lệnh] và các consilia [lời
khuyên].”
38
bản, bởi nó có nghĩa là không ngừng tái đầu tư số lợi nhuận mới được tạo ra. Chủ
nghĩa tư bản cần lối tổ chức thuần lý đối với lao động, và giả định rằng phần lớn lợi
nhuận không được tiêu xài hết mà phải được tiết kiệm nhằm có thể tiếp tục phát triển
các phương tiện sản xuất. Chính đây là nơi bộc lộ sự “tương hợp chọn lọc” giữa quan
niệm và lối sống của đạo Tin lành với “tinh thần” của chủ nghĩa tư bản.
Theo Talcott Parsons, khái niệm “tinh thần của chủ nghĩa tư bản” – một cụm từ đặc
trưng mà Weber sử dụng thường xuyên – không phải chỉ nói về sự chiếm hữu hay
hành động chiếm hữu đơn thuần như nhiều tác giả thường lầm tưởng, mà trước hết và
chủ yếu bao hàm “tính lý tính” (Rationalität) hay tư duy lý tính (Rationalismus) –
hiểu như là một tâm thế mở luôn hướng đến những cách giải quyết vấn đề mới, đối lập
với óc thủ cựu (Traditionalismus) ; một thái độ tận tâm và chuyên cần đối với công
việc vì chính công việc chứ không vì mục đích nào khác, thái độ mà Weber diễn giải
trong một khái niệm kép là nghề nghiệp-thiên chức (Beruf trong tiếng Đức, hay
calling trong tiếng Anh).
41
Weber viết như sau : “Một trong các bộ phận cấu thành của tinh thần tư bản chủ nghĩa
40
Xem thêm Raymond Aron, sđd, tr. 538-540.
18
hiện đại, và không chỉ của tinh thần này, mà cả của chính nền văn hóa hiện đại, tức là
lối sống thuần lý dựa trên ý tưởng Beruf, đã được phát sinh từ tinh thần của nền khổ
hạnh Ki-tô giáo – đó chính là điều mà các trình bày của chúng tôi muốn chứng
minh.”
42
Ở đây, để hiểu rõ hơn ý tưởng của Weber, chúng ta có thể đọc thêm đoạn văn sau đây
trong một công trình khác của ông, khi ông so sánh giáo thuyết Puritanist (Thanh
giáo) ở châu Âu với tư tưởng Nho giáo (Khổng giáo) ở Trung Hoa : “Sự đối lập giữa
[tư tưởng] Nho giáo và [tư tưởng] Puritanist cũng làm cho chúng ta hiểu rằng sự tiết
44
IV. Lý thuyết của Weber về mối liên hệ nhân quả
Theo Raymond Aron, không ít người ngộ nhận rằng Max Weber đã tìm cách bác bỏ
chủ nghĩa duy vật lịch sử khi ông ta giải thích những nhân tố kinh tế bằng những nhân
tố tôn giáo. Aron cho rằng hoàn toàn không phải như vậy. Trong công trình ĐĐTL,
Weber chỉ muốn minh chứng rằng người ta chỉ có thể hiểu được các ứng xử của con
người trong các xã hội khác nhau nếu đặt chúng trong khuôn khổ nhân sinh quan hay
thế giới quan của họ. Các tín điều tôn giáo và cách giải thích các tín điều này là một
bộ phận nằm trong nhân sinh quan và thế giới quan ấy, và vì thế chúng ta cần phải
hiểu chúng để có thể hiểu được ứng xử của các cá nhân và của các nhóm xã hội, nhất
là ứng xử kinh tế của họ. Max Weber muốn chứng minh rằng những quan niệm tôn
giáo thực sự là một nhân tố có ảnh hưởng quan trọng đối với các lối ứng xử kinh tế, và
do đó, là một trong những nguyên nhân của những chuyển biến kinh tế của các xã
hội.
45
Weber nói rõ rằng mục tiêu của ông trong quyển sách này chỉ giới hạn vào chỗ lý giải
vai trò của nhân tố tinh thần, trong “vô số” những động lực khác, đối với quá trình
phát triển của chủ nghĩa tư bản. Ông viết : “Như vậy công cuộc nghiên cứu sau đây có
lẽ cũng là một đóng góp khiêm tốn vào việc cho thấy bằng cách nào các 'ý tưởng' trở
thành những sức mạnh hữu hiệu trong lịch sử. (…) Chúng tôi chỉ muốn làm sáng tỏ
cái phần của các động lực tôn giáo trong vô số những động lực cá biệt trong lịch sử
vốn đã góp phần vào sự phát triển của nền văn minh hiện đại của chúng ta, vốn đặc
biệt hướng về đời này. Vấn đề chúng tôi đặt ra chỉ nhằm định rõ, trong một số nội
44
Xem thêm Laurent Fleury, sđd, tr. 53-55.
45
Xem Raymond Aron, sđd, tr. 530.
20
46
Max Weber, ĐĐTL, bản gốc trang 82.
47
Như trên, tr. 12.
48
Như trên, tr. 82.
21
học người Đức Felix Rachfahl (1867-1925), Max Weber nhắc lại rằng ông quan niệm
những động lực tinh thần xuất phát từ nền đạo đức Calvin “chỉ là một yếu tố cấu thành
của 'tinh thần' của chủ nghĩa tư bản”. Ông viết : “Tôi đã từng nói một cách hết sức
quyết liệt rằng tôi không hề chịu tránh nhiệm gì về việc các tác giả khác đã tuyệt đối
hóa các nhân tố tôn giáo ấy – những nhân tố mà tôi đã gọi một cách rõ ràng và nhấn
mạnh tối đa như là một thành tố đặc thù –, và về việc họ đồng hóa chúng [tức là các
nhân tố tôn giáo ấy – N.D.] với 'tinh thần của chủ nghĩa tư bản' nói chung hay thậm
chí còn coi chủ nghĩa tư bản như là xuất phát từ chúng.”
49
Cũng giống như trường phái mác-xít, Max Weber luôn nhìn nhận “vai trò quan trọng
căn bản của kinh tế” và ông luôn “chú ý trước hết” tới các điều kiện kinh tế khi tìm
cách giải thích các thực tại xã hội. Tuy nhiên, và đây là điểm độc đáo trong lối tiếp
cận của Weber, ông nhấn mạnh rằng cũng phải đồng thời lưu tâm tới “những mối
tương quan nhân quả ngược lại” – nói khác đi, tác động nhân quả theo Weber không
phải là tác động một chiều, đơn giản, mà thực ra là một sự tương tác vô cùng phức tạp
trong thực tại xã hội mà nhiệm vụ của nhà nghiên cứu là phải làm sáng tỏ. Ông phát
biểu điều này khi bàn về chuyện đi tìm nguồn gốc của tư duy duy lý (Rationalismus)
Tây phương hiện đại : “Mọi nỗ lực giải thích theo chiều hướng này đều sẽ phải nhìn
nhận vai trò quan trọng căn bản của kinh tế, và chú ý trước hết tới các điều kiện kinh
tế. Nhưng đồng thời, cũng phải chú ý tới những mối tương quan nhân quả ngược lại.
Bởi lẽ, nếu tư duy duy lý kinh tế, trong sự ra đời của nó, phụ thuộc vào nền kỹ thuật
thuần lý và luậ̣t pháp thuần lý, thì nó cũng phụ thuộc nói chung vào năng lực và tâm
thế của con người khi họ chọn những lối sống thuần lý nào đó trong thực tế.”
lực nhằm phản bác lại cách hiểu máy móc và thô thiển về chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Chẳng hạn, khi so sánh các dữ kiện lịch sử, Weber đã từng đặt vấn đề như sau : tại sao
tại ngay những trung tâm phát triển tư bản chủ nghĩa như Florentia (Ý) vào các thế kỷ
XIV và XV, lại không thể xuất hiện quan niệm về việc kiếm tiền thông qua nghề
nghiệp như một mục đích tự thân, hay như một “chức phận”, một “thiên chức”
(Beruf), vốn là đặc trưng quan trọng nhất của “tinh thần” của chủ nghĩa tư bản ? Trong
khi đó, tại sao điều này lại có thể xảy ra ở những khu rừng của Pennsylvania (Mỹ) vào
thế kỷ XVIII, nơi mà các hoạt động kinh doanh lúc ấy vẫn còn hết sức lạc hậu ? Từ
đó, ông nhận định rằng “ở đây mà nói đến sự 'phản ánh' các điều kiện 'vật chất' lên
chúng” (xem đoạn cuối của chú thích số 83 của Weber, ĐĐTL, bản gốc tr. 192).
51
Xem Raymond Aron, sđd, tr. 517-519.
23
trên 'thượng tầng kiến trúc tư tưởng' thì là điều hoàn toàn vô nghĩa”.
52
Weber cho rằng
chính bối cảnh tư tưởng của giáo thuyết Calvin “đã dẫn tới chỗ coi loại hoạt động xem
ra chỉ nhằm tới lợi nhuận này như là một thiên chức [Beruf] mà đối với nó, cá nhân
cảm thấy mình có bổn phận luân lý”, “đã tạo ra nền tảng và sự biện hộ về đạo đức cho
lối ứng xử 'kiểu mới' của nhà kinh doanh”
53
, và chính nhờ đó mà nó đã góp phần tạo ra
những động lực tinh thần và những lối ứng xử thích hợp và cần thiết cho tiến trình
phát triển của chủ nghĩa tư bản.
Theo nhà xã hội học người Mỹ Robert Nisbet (1913-1996), vấn đề mà Max Weber đặt
ra không phải là đi tìm nguồn gốc tuyệt đối và tối hậu của sự chuyển biến xã hội, ông
không tìm cách xây dựng một lý thuyết theo đó chỉ có một nhân tố duy nhất mang tính
chất quyết định toàn bộ đời sống xã hội.
54
Weber không phủ nhận vai trò quan trọng
như sau : “Dù có thiện chí đến đâu, bản thân con người hiện đại, nhìn chung, thường
không đủ khả năng hình dung hết tầm quan trọng của các ý tưởng tôn giáo đối với các
cách ứng xử, văn hóa và tính cách dân tộc. Nhưng lẽ tất nhiên chúng tôi không hề có ý
định thay thế một lối lý giải nhân quả 'duy vật' phiến diện [einseitig] bằng một lối lý
giải duy linh [spiritualistische] về văn hóa và lịch sử, thực ra cũng không kém phần
phiến diện. Cả hai [lối lý giải này] đều có thể làm được, nhưng nếu cả hai không tự
xem mình như là bước sơ khởi của sự tìm tòi mà lại có tham vọng cho rằng mình
mang lại kết luận [của sự tìm tòi], thì cả hai đều không phục vụ tốt cho chân lý lịch
sử.”
57
Ngay sau khi ra đời, tác phẩm ĐĐTL đã được các nhà thần học đồng tình rộng rãi,
nhưng lại bị các sử gia và các nhà kinh tế học phê phán mạnh mẽ : nhiều bài điểm
sách đã lập tức ngộ nhận rằng Weber đưa ra một lối lý giải “duy tâm chủ nghĩa” và
“tâm lý học” về lịch sử. Các phê phán sau đây còn ảnh hưởng đến hiện nay, dù Weber
56
Thật ra từ rất sớm, Karl Marx cũng đã nhận ra tiến trình chuyển hóa “từ tiền thành tư bản” và vai trò quan trọng
của nền “đạo đức Tin lành” trong tiến trình này. Ngay trong tập I của bộ Tư bản (Kapital I, MEW, Bd23-25, tr.
93), Marx đã viết : “Đối với một xã hội của những người sản xuất hàng hóa mà quan hệ sản xuất phổ biến của họ
là ở chỗ hành xử với những sản phẩm của mình như là những hàng hóa, tức như là những giá trị, và trong hình
thức vật chất này, những lao động riêng tư của họ quan hệ với nhau như là lao động con người giống nhau, thì Kitô
giáo với việc tôn thờ con người trừu tượng, – nhất là trong sự phát triển dân sự của nó –, và với đạo Tin lành,
Thượng đế luận v.v.… là hình thức tôn giáo thích hợp nhất”. Về “tinh thần đạo Tin lành” trong tiến trình lý tính
hóa lao động được Weber chỉ ra sau này, thì Marx cũng đã xem “tinh thần ấy có một vai trò quan trọng trong sự
hình thành tư bản qua việc chuyển đổi hầu hết mọi ngày nghỉ lễ truyền thống thành ngày làm việc” (sđd, 292, chú
thích 124). Nếu Weber xem nền đạo đức Tin lành là động lực của việc “tích lũy tư bản”, thì Marx cũng giải thích
“tính chất Kitô giáo của việc tích lũy nguyên thủy” bằng sự “đắc lực tỉnh táo của đạo Tin lành” ( nüchterne
Virtuosen des Protestantismus) (sđd, 781). Chỉ khác ở chỗ Marx không hề xem đạo Tin lành là đã được “giải
phóng” ra khỏi nền tảng của đạo Công giáo (Tư bản, tập III, tr. 606) và, theo ông, giống như mọi tôn giáo khác, nó
mang tính chất kìm hãm sự tiến bộ lịch sử (dẫn theo G. Schöllgen, Max Weber, München, 1998, tr. 87-88).