Lịch sự của hành động chê trong giao tiếp tiếng Việt - Pdf 14



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC NGUYỄN THỊ NGÂN

LỊCH SỰ CỦA HÀNH ĐỘNG CHÊ TRONG
GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Sơn La, năm 2013BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

khóa luận này.

Sơn La, tháng 5 năm 2013
Tác giả Nguyễn Thị Ngân

Danh MỤC CHỮ VIẾT TẮT

NXB : Nhà xuất bản
ThS. : Thạc sĩ
ĐHSP : Đại học sư phạm

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 2
3. MỤC ĐÍCH 4
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4
4.1. Đối tượng 4
4.2. Phạm vi nghiên cứu 4
5. Ý NGHĨA CỦA KHÓA LUẬN 5
5.1. Ý nghĩa lí luận 5

1.4.7. Lịch sự chuẩn mực 25
1.4.8. Lịch sự trong tiếng Việt 26
1.4.8.1. Lễ phép 27
1.4.8.2. Đúng mực 27
1.4.8.3. Khiêm nhường 28
1.4.8.4. Khéo léo 28
Tiểu kết chương 1 29
CHƯƠNG 2. LỊCH SỰ CỦA HÀNH ĐỘNG CHÊ TRONG GIAO TIẾP . 30
TIẾNG VIỆT 30
2.1. Khái niệm về hành động chê 30
2.1.1. Hành động chê có cấu trúc đơn 30
2.1.2. Hành động chê có cấu trúc phức hợp 31
2.2. Phân loại 32
2.2.1. Phân loại hành động chê theo hình thức diễn đạt và đích ở lời 32
2.2.2. Phân loại lời chê dựa vào nội dung mệnh đề và đích tại lời 34
2.3. Phân biệt hành động chê với một số hành động khác như: phàn nàn,
trách, mắng, chửi… 34
2.4. Một số tham thoại tiền dẫn nhập trong hành động chê 35
2.4.1. Tham thoại tiền dẫn nhập là hành động hỏi 35

2.4.1.1. Tham thoại tiền dẫn nhập là hành động hỏi để xác định đối tượng chê 35
2.4.1.2.Tham thoại tiền dẫn nhập là hành động hỏi để hướng người nghe đến
đối tượng chê và hỏi để thăm dò quan điểm thái độ người nghe 35
2.4.1.3.Tham thoại tiền dẫn nhập là hành động hỏi để xác định chính xác một số
vấn đề liên quan đến nội dung mệnh đề chê 36
2.4.2.Tham thoại tiền dẫn nhập là hành động cảm thán 37
2.4.3. Tham thoại tiền dẫn nhập là hành động phỏng đoán 37
2.4.4. Tham thoại tiền dẫn nhập là hành động điều khiển 38
2.4.4.1. Tham thoại điều khiển yêu cầu sự hiện diện của Sp
2

tích một cách khoa học với những tên tuổi lớn như: N.Bostons và J. C. Lock.
Song phải đến một trăm năm sau, khái niệm lịch sự mới được hình thành, phát
triển và trở thành mối quan tâm chú ý thường xuyên của ngành ngữ dụng học
nói riêng và ngôn ngữ học nói chung.
Mặc dù vậy, nội dung khái niệm lịch sự không chung cho tất cả các nền
văn hóa.Tùy theo mỗi vùng văn hóa khác nhau, khái niệm văn hóa lại được hiểu
theo những cách không giống nhau. Theo các tài liệu đã chứng minh, văn hóa
phương Tây coi lịch sự như một chiến lược trong giao tiếp. Đó là những cách
thức ứng xử bằng ngôn ngữ khôn khéo, tránh áp đặt và xúc phạm đến đối tượng
tham gia giao tiếp nhằm nâng cao hiệu quả trong tương tác. Văn hóa phương
Đông lại hiểu khái niệm lịch sự ở phương diện khác. Lịch sự được biểu hiện ở
các hành động xã hội có tính lễ độ, chịu sự chi phối của những quy tắc tương tác
nhất định. Hiểu theo hướng này, lịch sự được coi như chuẩn mực của xã hội.
Bên cạnh đó mộ số nhà nghiên cứu lại nhận định lịch sự là sự dung hợp giữa
lịch sự chuẩn mực và lịch sự chiến lược. Hay nói cách khác đó là sự kết hợp hài
hòa giữa các cách ứng xử khéo léo, khiêm nhường và lễ phép, đúng mực.
Có rất nhiều chiến lược giao tiếp khác nhau, nhưng tùy thuộc vào hoàn
cảnh giao tiếp, tùy vào quan hệ liên cá nhân giữa các nhân vật giao tiếp người ta
có thể sử dụng các chiến lược khác nhau. Khi tham gia một cuộc giao tiếp,
người giao tiếp phải có cách thức lựa chọn từ ngữ cũng như các hình thức diễn
đạt phù hợp với ngữ cảnh để cuộc giao tiếp đạt được kết quả cao nhất, nhằm
hướng tới đích mà người giao tiếp mong muốn đạt được. Trong văn hóa ứng xử
và giao tiếp của mỗi dân tộc lại có những đặc trưng riêng. Trong giao tiếp người
Việt cũng có những nét đặc trưng tạo nên bản sắc văn hóa trong ứng xử mà khó
có thể bắt gặp ở một cộng đồng ngôn ngữ khác.
Ngày nay với sự phát triển của xã hội và bên cạnh đó giao tiếp cũng ngày
càng được mở rộng, con người muốn nâng cao hiệu quả trong giao tiếp thì cần
phải cân nhắc lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ sao cho phù hợp nhất với mỗi
hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. Trên thực tế có rất nhiều kiểu hành động ngôn ngữ


Theo R.Lakoff (1973) đưa ra ba quy tắc khác nhau về lịch sự để đối tượng
tham gia giao tiếp có thể lựa chọn, sử dụng để thể hiện lịch sự và giảm thiểu sự
xung đột trong diễn ngôn. Theo tác giả này thì những hành động lịch sự hay bất
lịch sự đều gắn với bối cảnh giao tiếp cụ thể.
Leech quan niệm lịch sự là sự bù đắp những hao tổn, thiệt thòi do hành
động nói năng của người nói gây ra cho người đối thoại, lịch sự gắn với quan hệ

3
liên nhân trong tương tác. Leech cụ thể hóa nguyên tắc lịch sự trong sáu phương
châm giao tiếp lịch sự: Khéo léo, hòa hiệp, tán thưởng, khiêm tốn, tán đồng, cảm
thông. Leech cũng lưu ý rằng một số hành động ngôn ngữ cố hữu mang tính chất
bất lịch sự như hành động: Ra lệnh, sai bảo, yêu cầu, khuyên răn… và có hành
động mang bản chất lịch sự như hành động khen tặng.
Brown và Levinson là hai tác giả có sự đóng góp to lớn trong lĩnh vực
nghiên cứu về lịch sự, quan điểm của hai tác giả được trình bày trong cuốn
Politeness – Some Universals in language usage (Lịch sự - Một vài phổ niệm
trong sử dụng ngôn ngữ 1978/1987). Xuất phát điểm quan trọng của lý thuyết
lịch sự này là khái niệm thể diện (face). Hai tác giả quan tâm đến các hành động
ngôn ngữ có khả năng giữ thể diện cho người khác và qua đó nhằm tìm cách
giảm nhẹ mức độ tổn hại đến thể diện của cá nhân tham gia tương tác và đây
được coi là chiến lược lịch sự cá nhân.
Bên cạnh đó những quan điểm lịch sự của các nhà nghiên cứu lịch sự từ các
nền văn hóa phi phương Tây lại không thừa nhận lịch sự là chiến lược của cá
nhân hay trong tương tác xã hội mà là sự tuân theo những quy định chuẩn sử
dụng ngôn ngữ của xã hội.
Các nhà nghiên cứu về lịch sự ở phương Đông thì quan niệm lịch sự phải
tuân theo những chuẩn mực xã hội. Theo Gu và Matsumoto, lịch sự phải gắn với
những giá trị thuộc về giao tiếp cộng đồng xã hội hơn là những ý muốn lựa chọn
tự do của cá nhân trong giao tiếp. Lịch sự nhằm mục đích tôn trọng các giá trị xã
hội của người đối thoại và cũng chính là của cả người nói, đó mới được coi là

thông qua việc vận dụng các quy tắc lịch sự.
Nhìn chung tất cả các tác giả đều chú ý tới biểu hiện của lịch sự trong các
hành động ngôn ngữ cụ thể như các hành động: Khen, yêu cầu, sai khiến,
chào,… tuy nhiên chú ý tới tính chất lịch sự của hành động chê của tiếng Việt
thì dường như còn rất mới mẻ và có rất ít người nghiên cứu tới.
3. MỤC ĐÍCH
Khóa luận được xây dựng trên cơ sở những tài liệu nghiên cứu về lịch sự.
Với mục đích hướng tới là xây dựng tiêu chí về lịch sự của “Lời chê trong giao
tiếp tiếng Việt”, gắn với từng hoàn cảnh cụ thể trong giao tiếp tạo nên sự văn
minh lịch sự trong lời nói của người Việt ngay cả khi đó là một lời chê.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1. Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là tính lịch sự của hành động chê
trong giao tiếp tiếng Việt.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của khóa luận bao gồm các ngôn ngữ hội thoại tự
nhiên gắn với đời sống sinh hoạt hàng ngày. Thông qua những khảo sát thực tế
từ cuộc sống đời thường về lời chê của học sinh, sinh viên, giáo viên, cán bộ và

5
nhân dân người Việt… trong các đoạn hội thoại của văn học được các tác giả
ghi chép và sáng tạo. Nghiên cứu tính lịch sự của hành động chê trong giao tiếp.
5. Ý NGHĨA CỦA KHÓA LUẬN
5.1. Ý nghĩa lí luận
Khóa luận góp phần làm rõ thêm tính lịch sự của lời chê trong giao tiếp
tiếng Việt mà các nghiên cứu trước đây chưa đề cập tới. Qua đó hướng tới sự
tôn trọng thể diện của người tham gia giao tiếp khi ta thực hiện hành động chê
một ai đó chê điều gì đó…
5.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nếu khóa luận có tính khả chấp sẽ có khả năng ứng dụng rộng trong thực

công trình nghiên cứu về ngôn ngữ học của các tác giả trong và ngoài nước.
Chúng tôi đã sử dụng những ghi chép của bản thân khi tham gia vào hoạt
động giao tiếp trong xã hội những điều “mắt thấy tai nghe” đối với cả bản thân
và những người xung quanh trong các tình huống và những bối cảnh khác nhau.
Do điều kiện chưa cho phép nên các ngữ liệu thu thập được dừng lại ở dạng ghi
chép để làm cơ sở phân tích cho hành động chê, trong giao tiếp làm cứ liệu.
Mặc dù nguồn cứ liệu thu thập được theo nhiều kênh khác nhau: đời sống,
văn học, các trang Website… song lời thoại trên các nguồn cứ liệu phần lớn vẫn
được giữ nguyên lời thoại nên các chức năng (chức năng giao tiếp, lí trí, cảm
xúc) và các đặc trưng (tính cá thể, tính cụ thể, tính hàm xúc,…) thì vẫn được
đảm bảo. Chính vì vậy các lời thoại đều là nguồn tư liệu đáng tin cậy về mặt
khoa học.
7. CẤU TRÚC CỦA KHÓA LUẬN
Chương 1 : Cơ sở lí luận
Chương 2 : Lịch sự của hành động chê trong giao tiếp tiếng Việt
7
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Lý thuyết về hành động ngôn ngữ
Hành động, đó là toàn bộ nói chung các phản ứng cách cư xử biểu hiện ra

8
1.1.1.1. Hành động tại lời (Illocutionary act )
Hành động tại lời là những hành động người nói thực hiện ngay khi nói
năng. Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc về ngôn ngữ, có nghĩa là
chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng về phía người nhận.
Chẳng hạn khi chúng ta hỏi ai đó về một cái gì đó thì người được hỏi có nhiệm
vụ trả lời câu hỏi đó. Việc không đáp lại câu hỏi, người nghe được xem là không
lịch sự.
Hành động tại lời là hành động có ý định (có đích tại lời) có quy ước
nhưng có thể chế riêng, mặc dù tính quy ước và tính thể chế không hiển ngôn
nhưng quy tắc vận dụng chúng được mọi người trong cộng đồng ngôn ngữ tuân
theo một cách không tự giác.
Với người Việt hỏi không chỉ dùng để hỏi mà hỏi còn dùng để chào.Ví dụ
(1) Bác đi làm đấy à? (chào gặp mặt)
(2) Bác lại nhà . (chào tạm biệt )
Qua cách hiểu trên chúng ta chúng ta nhận thấy rằng nắm được một ngôn
ngữ không chỉ có nghĩa là nắm được một ngữ nghĩa, âm, từ, câu của ngôn ngữ
đó mà còn phải nắm được các quy tắc điều khiển hành động tại lời của ngôn ngữ
đó sao cho đúng lúc, đúng chỗ, thích hợp với ngữ cảnh thích hợp với văn hóa
của từng dân tộc.
1.1.1.2. Hành động tạo lời (Locutionary act)
Đây là hành động sử dụng các yếu tố về mặt ngôn ngữ như: Ngữ âm, từ
vựng, các kiểu kết hợp từ thành câu … để tạo ra một phát ngôn đầy đủ về hình
thức và nội dung. Một bộ phận của hành động tạo lời là đối tượng nghiên cứu
của ngữ pháp tiền dụng học.
Ví dụ (3) : Hôm nay, trời mưa to quá!
Ta sử dụng các từ: Hôm nay, trời mưa, to, quá và các quy tắc đặt câu của
tiếng Việt như: Chủ ngữ đặt ngay trước vị ngữ, trạng ngữ chỉ thời gian đặt ngay
trước nòng cốt câu, phụ từ quá đặt sau tính từ trung tâm và bổ sung ý nghĩa
thang độ cho từ to.

em thật tốt và một phần mở rộng cho hành động cầu khiến tạo ra: Xin bác cứ
yên tâm.
Biểu thức ngôn hành thực chất là những hành động cụ thể, có mặt trong
các hành động ngôn ngữ, là những thể thức nói năng đặc trưng cho một hành
động tại lời. Biểu thức ngôn hành là kiểu cấu trúc ứng với một phát ngôn ngôn
hành. Ví dụ:
Biểu thức ngôn hành hỏi “có …không?” là cấu trúc cho các phát ngôn hỏi:
(6) Ngày mai trời có mưa không?
(7) Anh có đi họp không?

10
Biểu thức ngôn hành khuyên “nên (p)” là cấu trúc cho các phát ngôn:
(8) Anh nên bỏ thuốc lá.
(9) Không nên thức quá khuya.
Biểu thức ngôn hành nguyên cấp (Primary) hay hàm ẩn ( Impilicit) và biểu
thức ngôn hành tường minh (Explicit). Biểu thức ngôn hành nguyên cấp là biểu
thức không có động từ ngôn hành nhằm thực hiện một hiệu lực tại lời qua một
hành động nào đó. Biểu thức ngôn hành tường minh là những biểu thức có chứa
động từ ngôn hành nhằm thực hiện một hành động tại lời nào đó như: Mời,
chào, xin lỗi, cảm ơn.
1.1.1.5. Động từ ngôn hành
Động từ ngôn hành là những động từ mà khi phát âm ra chúng cùng với
biểu thức ngôn hành (hoặc không cần biểu thức ngôn hành) là người nói thực
hiện luôn cái hành động ở lời do chúng biểu thị. Trong trường hợp xin lỗi, mời,
cảm ơn, chúng ta thực hiện hành động xin lỗi, mời, cảm ơn chỉ bằng động từ
ngôn hành chứ không phải là biểu thức ngôn hành.
Ví dụ, khi ta “hứa” điều gì với một ai đó thì có nghĩa chúng ta phải thực
hiện ngay bằng cách phát ngôn động từ “hứa”, lời hứa được dùng trong hiệu lực
ngôn hành. Như vậy, với động từ hứa đi cùng biểu thức ngôn hành sẽ được thực
hiện ngay và nó làm thay đổi tư cách pháp nhân của người “hứa” cũng như

A- (i) Phải có thủ tục phải có tính quy ước và thủ tục này phải có hiệu quả
cũng có tính chất quy ước.
(ii) Hoàn cảnh và con người phải thích hợp với những điều quy định trong
thủ tục.
B- Thủ tục phải được thực hiện (i) một cách đúng đắn và (ii) một cách đầy đủ.
C- Thông thường thì (i) những người thực hiện hành động ở lời phải có ý
nghĩa, tình cảm và ý định đúng như đã được đề ra trong thủ tục và (ii) khi hành
động diễn ra thì có ý nghĩa, tình cảm đúng như đã có.
Hành động ở lời theo Austin là cái được thực thi một cách trực tiếp bởi một
hiệu lực có tính quy ước đi liền với một kiểu phát ngôn nhất định (tức là đi liền
với biểu thức ngôn hành nguyên cấp và tường minh tương ứng với hiệu lực quy
ước đó) phù hợp với thủ tục cũng có tính quy ước, chính vì vậy mà hành động ở
lời mới có tính xác định (xác định theo các quy ước). Tính chất này của hành
động ở lời giúp phân biệt chúng với các hành động mượn lời không có tính quy
ước nên khó xác định. Vậy hành động ở lời sử dụng thành công đạt hiệu quả khi
những điều kiện may mắn của nó không bị vi phạm, và nó không may mắn khi
một hay một số điều kiện của nó bị vi phạm.
1.1.1.7. Phân loại các hành động ngôn ngữ theo Austin
Trước Austin, Wittgenstein đã nói tới những hành động ngôn ngữ mặc dù
nhà triết học này sử dụng thuật ngữ trò chơi ngôn ngữ chứ không phải sử dụng
thuật ngữ hành động. Wittgenstein đã liệt kê ra hàng loạt những hành động ngôn
ngữ như: đưa ra một mệnh lệnh và tuân lệnh, miêu tả (describe) bề ngoài một
vật và đo đạc nó, tường thuật lại sự kiện nghiên cứu một vấn đề, hình thành và
kiểm nghiệm một giả thuyết, trình bày kết quả nghiên cứu bằng bảng biểu, viết

12
và đọc truyện, diễn kịch, giải câu đố, dịch hỏi, cảm ơn, chửi, chào, cầu nguyện
… nhưng ông cho rằng không thể phân loại được chúng.
Austin là người, thử nghiệm và thực hiện sự phân loại hành động ngôn ngữ
và ông đã xếp chúng vào 5 phạm trù:

13
<1> Đích ở lời: một thỉnh cầu hướng Sp
2
tới việc thực hiện một cái gì đó
Ví dụ (12): Bác giúp cháu trông coi nhà cửa trong lúc cháu đi công tác nhé!
<2> Hướng khớp ghép với lời hiện thực mà có thể đề cập đến
Trần thuật có hướng khớp ghép lời – hiện thực vì: Giá trị đúng- sai mà nó
đưa ra được xác định trên cơ sở lời miêu tả có phù hợp hay không với sự vật
được nói đến.
<3> Trạng thái tâm lí được biểu hiện
Ví dụ (13): Con hứa từ nay con không chơi điện tử nữa. Ví dụ này lời hứa
thể hiện ý định Sp
1
thực hiện cái gì đó.
<4> Sức mạnh và đích được bày ra
Ví dụ (14): Tôi nhấn mạnh rằng mức độ mạnh hơn Tôi gợi ý rằng
<5> Tính quan yếu của mối quan hệ liên cá nhân giữa Sp
1
và Sp
2
<6> Định hướng
Ví dụ (15): Tớ mua chiếc áo này hết bốn trăm nghìn.
Ví dụ (16): Đừng buồn nữa, tất cả rồi sẽ qua mà!
Ta thấy ở Ví dụ (15) Hướng vào Sp
1
( Khoe, than vãn), ở ví dụ (16) hướng
vào Sp
2
(lời động viên an ủi).
<7> Câu hỏi và trả lời là hai thành phần của một cặp kế cận còn sai bảo

thông qua một phương tiện nhất định, trong đó ngôn ngữ là phương tiện quan
trọng nhất. Giao tiếp có thể diễn ra ở dạng nói hoặc dạng viết. Trong giao tiếp
dạng nói thì hội thoại là hình thức phổ biến.
Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, căn bản phổ biến của ngôn
ngữ và cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác.
Đó là dạng giao tiếp bằng lời ở dạng nói giữa các nhân vật tham gia giao
tiếp để trao đổi bộc lộ tâm tư, tình cảm, thái độ, và mối quan hệ liên nhân giữa
các nhân vật giao tiếp nhằm đạt mục đích giao tiếp đã đề ra. Từ năm 1970, hội
thoại mới chính thức trở thành đối tượng nghiên cứu của phân ngành ngôn ngữ
học ở Mỹ: Dần dần nó lan rộng và trở thành đối tượng nghiên cứu của ngành
ngôn ngữ học ở nhiều nước trên thế giới với tên gọi khác nhau. Cho đến nay thì
hội thoại được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm và bàn luận đến.
Hội thoại thì có nhiều kiểu loại khác nhau đó có thể là các cuộc tán gẫu tự
do giữa hai, ba người hoặc nhiều hơn thế nhưng cũng có thể là những cuộc hội
thoại có nội dung nghiêm túc… nhưng nhìn chung dù ở kiểu nào thì chúng cũng
có điểm chung về mặt cấu trúc. Cấu trúc của hội thoại đã được các nhà nghiên
cứu người Mỹ cho rằng cơ sở của hội thoại là lượt lời và cấu trúc của hội thoại
được làm thành từ những cặp kế cân.
Bản chất của hội thoại chính là sự trao đáp và tương tác lẫn nhau giữa các
lượt lời. Đó chính là sự vận động chủ yếu của hội thoại. 15
1.3.1. Khái niệm cuộc thoại
Cuộc thoại là một lần nói chuyện, trao đổi giữa những cá nhân, ít nhất là
hai. Cuộc thoại ngắn là những cuộc thoại chỉ chứa một cặp câu như: Chào -
chào, hỏi- đáp, đề nghị - đồng ý, ra lệnh - nhận lệnh, cuộc thoại dài là những
thương lượng về một hợp đồng kinh doanh, sản xuất hay hợp tác văn hóa, nghệ
thuật, khoa học, đó là còn chưa kể đến cuộc đàm phán giữa hai quốc gia về biên
giới, về kinh tế, về chính trị.

định về những cách ăn mặc, nói năng… cùng với sự phát triển của xã hội, lịch sự
dần trở thành nhu cầu không thể thiếu của con người và nổi lên đó là tính lịch sự
trong giao tiếp bằng ngôn từ. Tuy nhiên ngay từ những ngày đầu, nó vẫn chưa được
xem xét như một đối tượng mang tính chất khách quan, phải đợi đến khi ngôn ngữ
học phát triển đến một giai đoạn nhất định, phép lịch sự mới thực sự được quan tâm
như một hiện tượng không thể bỏ qua trong giao tiếp bằng ngôn ngữ và một thời
gian sau nó mới trở thành lý thuyết: Lý thuyết lịch sự.
Lịch sự được biểu hiện rõ nhất trong hội thoại – hội thoại là một sự kiện
nói diễn ra thường xuyên trong sinh hoạt hàng ngày của đời sống con người. Do
vậy muốn thành công trong giao tiếp, mỗi bên hội thoại cần tuân thủ những
nguyên tắc nhất định trong hội thoại.
Phép lịch sự tác động rất nhiều đến việc tạo lập các phát ngôn trong quá
trình giao tiếp. Tầm quan trọng của nó lớn đến mức các tài liệu về ngữ dụng đều
không thể né tránh nó. Nhiều cuộc hội thảo nhiều công trình có tính chuyên môn
đều đề cập đến lịch sự. Từ năm 1987, tạp chí Language in Society (ngôn ngữ
trong xã hội) hầu như số nào cũng có bài về phép lịch sự và cũng có một số
tuyển tập nghiên cứu về lịch sự.
Lịch sự trở thành mối quan tâm của các nhà nghiên cứu ngữ dụng học, nó
được nhiều nhà nghiên cứu xây dựng thành những quan điểm tương đối hoàn
chỉnh và được nâng lên thành lý thuyết lịch sự (theory of politeness).
1.4.2. Khái niệm lịch sự
Theo từ điển tiếng Việt “Lịch sự là có thái độ nhã nhặn, lễ độ khi tiếp xúc,
phù hợp với quan niệm và phép tắc xã giao của xã hội” [4]. Tuy nhiên khái niệm
này không mang tính phổ quát, chưa thực sự đầy đủ và phù hợp với quan niệm
lịch sự trong giao tiếp của các dân tộc trên thế giới cũng như dân tộc Việt Nam.
Để tìm hiểu rõ hơn về khái niệm lịch sự trong giao tiếp chúng ta có thể đi tìm
hiểu như sau:
Từ lịch sự được dùng trong nhiều ngôn ngữ từ xa xưa. Ở Việt Nam, lịch sự
bắt nguồn trong các chế định về “lễ” và được hiểu rất rộng. Lễ bao gồm mọi
cách xử sự trong một xã hội có tổ chức, nhất là xã hội phong kiến. Chịu ảnh

tắc hội thoại mà những người tham gia cần phải tuân thủ. Vấn đề lịch sự trong
giao tiếp ở trong xã hội hiện đại như ngày nay đang được quan tâm tới rất nhiều,
đặc biệt là vấn đề lịch sự bằng ngôn ngữ.
Lịch sự được hiểu là chuẩn mực nói năng, ứng xử, nhờ có lịch sự chúng ta
có thể đạt được điều mà chúng ta mong muốn và cùng với những hiểu biết về
lịch sự cộng với năng lực giao tiếp thì nhân vật hội thoại sẽ có những lời nói
hay, đẹp, phù hợp với hoàn cảnh và vai giao tiếp cho cuộc thoại diễn ra thành
công. Bởi vậy để đạt được hiệu quả giao tiếp bản thân người tham gia hội thoại
phải biết cách lựa chọn, sắp xếp từ ngữ và hiểu được giá trị của chúng sử dụng
đúng và linh hoạt trong bối cảnh khác nhau tạo nên tính tích cực và vẻ đẹp cũng
như ấn tượng trong giao tiếp.

18
Như vậy, lịch sự đang có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống con người, nó là
nhân tố quyết định tới thành công hay thất bại của một cuộc giao tiếp đặc biệt là
trong đời sống phát triển mạnh mẽ như ngày nay. Tầm quan trọng, vị trí chiến
lược của lịch sự trong giao tiếp đang được quan tâm đến rất nhiều, trong ngành
ngôn ngữ học hiện nay khi bàn luận đến vấn đề lịch sự được các nhà nghiên cứu
hết sức chú ý. Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã trình bày
quan điểm về lịch sự trong các công trình nghiên cứu của mình.
Trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận, chúng tôi đưa ra những quan
điểm nghiên cứu về lý thuyết lịch sự trên thế giới. Đó là quan điểm của R.
Lakoff, Của G. N. Leech, của P. Brown và S. Levinson. Quan điểm về lịch sự
chuẩn mực và lịch sự ở Việt Nam.
1.4.4. Quan điểm lịch sự của Lakoff
Theo Lakoff, lịch sự là phương tiện để giảm thiểu sự xung đột trong diễn
ngôn. Lakoff đề xuất hai quy tắc sử dụng ngôn ngữ: quy tắc diễn đạt rõ ràng và
quy tắc lịch sự. Quy tắc lịch sự được chi tiết hóa bằng ba quy tắc cụ thể sau: (I)
Không áp đặt (Don’t impose); (II) Để ngỏ sự lựa chọn (Offer options); (III) Hãy
thể hiện tình bằng hữu (Encourage feelings of camaraderie).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status