Tiểu luận: Giả thuyết bộ ba bất khả thi trong kỷ nguyên sự mất cân bằng toàn cầu: định lượng và kiểm nghiệm - Pdf 14

GVHD: ThS Nguyễn Khắc Quốc Bảo

Nhóm 1 - Lớp Cao học Khóa 18 –NH Đ2 Trang 1

Tiểu luận

GIẢ THUYẾT “BỘ BA BẤT KHẢ THI” TRONG KỶ NGUYÊN SỰ
MẤT CÂN BẰNG TOÀN CẦU: ĐỊNH LƯỢNG VÀ KIỂM NGHIỆM
GVHD: ThS Nguyễn Khắc Quốc Bảo

Nhóm 1 - Lớp Cao học Khóa 18 –NH Đ2 Trang 2
TÓM TẮT:
Chúng tôi đã phát triển 1 phương pháp cho phép ta mô tả theo hướng trực giác
những chọn lựa mà các quốc gia đã thực hiện theo bộ ba bất khả thi trong thời kỳ hậu
Bretton-woods.
Bài viết này bàn về những khía cạnh tích cực của bộ ba bất khả thi, phác thảo
những hệ số đo lường mới để đo lường những biến động của tỷ giá , sự độc lập của
tiền tệ, tự do hóa tài chính và xem xét sự phát triển đáng kể của nguồn dự trữ tích lũy
quốc tế.
Những điều nêu trên bắt đầu được thực hiện với sự ra đời của chỉ số bộ ba.
+ Cụ thể là từ sau những đầu thập niên 1990 , các quốc gia công nghiệp hóa tăng dần
mở rộng tài chính nhưng lại giảm chừng mức độ độc lập về tiền tệ đồng thời tăng sự

do hóa dòng vốn diễn tả một mục tiêu mong đợi có thể thực hiện được trong tương lai,
mà không có khả năng thực hiện đồng thời cả ba mục tiêu này.
Đỉnh trên cùng của tam giác được ký hiệu “thị trường vốn đóng”_là sự kết hợp
giữa chính sách tiền tệ độc lập và cố định tỷ giá nhưng không tự do hóa dòng vốn, đây
là sự lựa chọn tối ưu của những quốc gia đang phát triển giữa cuối những năm 1980.
GVHD: ThS Nguyễn Khắc Quốc Bảo

Nhóm 1 - Lớp Cao học Khóa 18 –NH Đ2 Trang 4

Hơn 20 năm qua, những quốc gia đang phát triển đã lựa chọn tăng tự do hóa
dòng vốn. Lý thuyết bộ ba bất khả thi ngụ ý rằng, một đất nước đi theo con đường này
thì phải lựa chọn:
+ Hoặc là từ bỏ chế độ cố định tỷ giá nếu quốc gia đó muốn bảo vệ chính sách
tiền tệ độc lập.
+ Hoặc là từ bỏ chính sách tiền tệ độc lập nếu quốc gia đó muốn bảo vệ chế độ
tỷ giá cố định.
Mục dích của bài nghiên cứu này là phác họa một phương pháp mô tả và đánh
giá một cách dễ dàng và trực quan những lựa chọn của các quốc gia có liên quan đến
bộ ba bất khả thi trong suốt thời kỳ Bretton-Woods.
Phần đầu của nghiên cứu này giới thiệu “những chỉ số của bộ ba bất khả thi” mà
các chỉ số này giúp đo lường mức tiêu chuẩn đạt được trong 3 mục tiêu của bộ ba bất
khả thi: chính sách tiền tệ độc lập, ổn định tỷ giá và tự do hóa dòng vốn. Những chỉ số
này cho phép chúng ta thấy rõ cấu trúc vốn quốc tế.
Thứ hai, sử dụng những chỉ số này tìm ra những khía cạnh tích cực của bộ ba
bất khả thi và xem xét những cú sốc kinh tế bên ngoài (như là những thay đổi trong cấu
trúc vốn toàn cầu_ví dụ, sự sụp đổ của hệ thống Bretton-Woods_và khủng hoảng tài
chính theo diện rộng_ví dụ, khủng hoảng nợ ở Mexico và khủng hoảng tài chính ở
châu Á ) ảnh hưởng như thế nào đến các mục tiêu của quốc gia trong bộ ba bất khả thi.
Cuối cùng, chúng ta xem xét liệu sự ràng buộc dựa vào bộ ba bất khả thi có mối
liên kết nào với nhau hay không. Bằng cách, sử dụng một hàm tuyết tính đơn giản để

cấp đến vai trò của dự trữ thì xu hướng hiện tại xem tích lũy phải liên quan chặt chẽ
với sự thay đổi mô hình bộ ba bất khả thi trong những quốc gia đang phát triển. Nghiên
cứu ban đầu tập trung vào vai trò của dự trữ toàn cầu như là bước đệm để thực hiện chế
độ tỷ giá có điều chỉnh hay là thả nổi có kiểm soát. Mô hình hoạt động như vậy giới
hạn khả năng giải thích việc tăng dự dữ ngoại hối bởi lẽ việc linh hoạt hơn trong tỷ giá
hối đoái những thập niên gần đây làm giảm dự trữ ngoại hối, ngược lại với xu hướng
nêu trên.
Nghiên cứu gần đây tập trung những hướng bất lợi của việc hội nhập tài chính
sâu hơn ở những quốc gia đang phát triển.
GVHD: ThS Nguyễn Khắc Quốc Bảo

Nhóm 1 - Lớp Cao học Khóa 18 –NH Đ2 Trang 6

+ Mở cửa thị trường tài chính sâu như vậy sẽ làm cho dòng vốn trong ngắn hạn
dễ thay đổi (gọi là “tiền nóng”) tùy thuộc vào mức độ đảo chiều và chấm dứt đột ngột
(xem Calvo, 1998). Kinh nghiệm cho rằng, dự trữ toàn cầu có thể giảm khả năng chấm
dứt đột ngột của dòng tiền và những hậu quả nghiệm trọng có thể xảy ra khi đó.
Aizenman và Lee (2007), đã liên kết sự gia tăng mạnh mẽ của dự trữ toàn cầu
và mở cửa thị trường tài chính ngày càng sâu của các quốc gia đang phát triển và tìm ra
bằng chứng việc tăng dự trữ ngoại hối như là một cách tự bảo vệ việc chấm dứt đội
ngột của dòng vốn vào.
Phân tích thực nghiệm trên 100 quốc gia từ năm 1975 – 2004, Cheung và Ito
(2007) nhận thấy rằng chỉ có mở cửa thị trường ngoại thương mới là yếu tố quan trọng
nhất trong các yếu tố được đưa ra đánh giá. Tuy nhiên, giải thích dựa vào yếu tố này đã
không còn đúng theo thời gian. Ngược lại, ý nghĩa giải thích của các yếu tố khác lại có
ý nghĩa hơn.
Tầm quan trọng của hội nhập tài chính có mối liên hệ giữa thay đổi cấu trúc bộ
ba bất khả thi và mức dự trữ ngoại hối. Thật vậy, theo Obtfield (2008), khoản vay nợ
trong nước có thể chuyển thành nợ ngoại tệ (M2). Mở cửa tài chính, có khả năng thu
hút ngoại tệ thông qua thị trường nợ, và chính sách tỷ giá hối đoái sẽ đưa ra những dự

Phần 3 đã kiểm chứng mối quan hệ tuyến tính những chỉ số trong trilemma và để
chứng minh rằng: 3 mục tiêu chính sách này có sự đánh đổi hay không.
Phần 4 là phần kết luận.
2. Đo lường các biến trong trilemma:
Việc phân tích sự đánh đổi theo chủ nghĩa thực nghiệm được thực hiện để đánh
giá những chính sách này.
Tuy nhiên, chỉ có 1 số ít kết quả tốt. Trong bài này chúng tôi sẽ khắc phục những
khuyết điểm của cách đo lường trên bằng việc đưa ra một vài chỉ số đo lường.
2.1 Xây dựng phương pháp đo lường trilemma:
Phân tích thực nghiệm của việc “đánh đổi” được yêu cầu để đánh giá những
chính sách này. Tuy nhiên có 1 số kết quả cho kết quả tốt, và có những kết quả không
GVHD: ThS Nguyễn Khắc Quốc Bảo

Nhóm 1 - Lớp Cao học Khóa 18 –NH Đ2 Trang 8

đạt như mong muốn, chưa được chính xác. Trong bài này chúng ta sẽ khắc phục những
khuyết điểm và đưa ra một số chính sách mới.
Tự do tiền tệ (MI)
Phạm vi của tự do tiền tệ được đo lường bởi hàm thuận nghịch định kỳ hàng
năm của lãi suất tháng giữa nước chủ nhà và nước so sánh
Chỉ số: mức độ tự do tiền tệ đựoc định nghĩa nh
ư sau:

MI =

1 -
Corr (i
i
, i
j

Chỉ số KAOPEN hay còn gọi là tự do hóa dòng vốn:
Để đo lường được mức độ kiểm soát tài khoản vốn vô cùng khó khăn, mặc dù đã có
nhiều phương pháp tồn tại để đo lường phạm vi và cường độ của kiểm soát vốn, nhưng
những phương pháp này chưa đo lường được 1 cách đầy đủ được mức độ phức tạp của
kiểm soát tài khoản vốn trong thế giới thực. Tuy nhiên để đo lường mức độ tự do hóa
dòng vốn, chúng ta sử dụng chỉ số của: tài khoản vốn mở (capital account openness)
hay chỉ số KAOPEN (chỉ số này do ông CHINN và ông ITO phát triển vào năm 2006,
2008).
Chỉ số KAOPEN dựa vào những thông tin từ báo cáo hàng năm “exchange
arrangement and exchange restrictions” (AREAER). Đặc biệt là KAOPEN là chỉ số
được chuẩn hóa đầu tiên, là chỉ số chính cấu thành nên giá trị của bộ ba: tỷ giá hối
đoái, hạn chế trong giao dịch tài khoản vãng lai, tài khoản vốn và yêu cầu từ bỏ nhập
khẩu.)
Chỉ số Chinn và ITO được sắp xếp theo thứ tự từ 0 đến 1, giá trị càng cao cho thấy việc
chuyển giao vốn giữa các quốc gia ngày càng tăng (more open to cross-border capital
transactions) . Chỉ số này là theo số liệu báo cáo của 171 quốc gia giai đoạn từ năm
1970 đến năm 2006.
ERS =

1
1 +
Stdev (exch _rate)
d log E1/dt + 0.01
GVHD: ThS Nguyễn Khắc Quốc Bảo

Nhóm 1 - Lớp Cao học Khóa 18 –NH Đ2 Trang 10

2.2 Theo dõi các chỉ số
Những thay đổi qua những nhóm quốc gia:
Việc so sánh những chỉ số này cho thấy vài nội dung về cấu trúc tài chính quốc GVHD: ThS Nguyễn Khắc Quốc Bảo

Nhóm 1 - Lớp Cao học Khóa 18 –NH Đ2 Trang 11 Figure 3: The Trilemma and International Reserves Configurations over Time

GVHD: ThS Nguyễn Khắc Quốc Bảo

Nhóm 1 - Lớp Cao học Khóa 18 –NH Đ2 Trang 12 GVHD: ThS Nguyễn Khắc Quốc Bảo

Nhóm 1 - Lớp Cao học Khóa 18 –NH Đ2 Trang 13
Hình 4 so sánh những quốc gia phát triển thông quan những nhóm thuộc khu
vực địa lý khác nhau. Những quốc đang phát triển ở cả Châu Á và Mỹ Latin khuynh
hướng tỷ giá linh hoạt, trong khi các quốc gia LATAM (Châu Mỹ Latin) gia tăng
nhanh chóng việc mở cửa thị trường tài chính thì những quốc gia Châu Á không làm
được.

thì những quốc gia công nghiệp ít độc lập hơn trong thời gian chính cách tiền tệ thực
thi, và di chuyển theo hướng xa đường trung bình hơn, phản ảnh hiệu quả thực thi của
thành viên các nước Châu Âu. Trong trường hợp tỷ giá hối đoái cố định, những quốc
gia công nghiệp từng ổn định tỷ giá cố định đến cuối những năm 1990, trong khi
những quốc gia đang phát triển có khuynh hướng chung là linh hoạt tỷ giá hơn từ giữa
những năm 1970.
Sau phần giới thiệu Châu Âu 1999, các quốc gia công nghiệp gia tăng ổn định tỷ
giá trong khi những quốc gia đang phát triển tiếp tục duy trì quanh mức giữa của tỷ giá
linh hoạt. Rõ ràng, những những quốc gia công nghiệp đạt mức độ cao về mở cửa tài
chính trong suốt thời gian qua. Tự do hóa dòng vốn giữa những năm 1990 được đánh
dấu cao hơn so với đường trung bình của mô hình và mô hình phụ LDC. Mặt khác,
những quốc gia đang phát triển cũng chuyển sang gia tăng mở cửa tài chính vào đầu
những năm 1990 sau vài suy giảm năm 1980. Nhìn chung khuynh hướng LDC cũng là
khuynh hướng toàn cầu của tự do hóa tài chính thông qua giai đoạn thử nghiệm. Tuy
nhiên, khoảng cách với những quốc gia công nghiệp gia tăng nhanh trong thập kỷ qua.
Sự khác biệt giữa những quốc gia thị trường tài chính phát triển và thị trường tài
chính chưa phát triển trong những QG đang phát triển (thể hiện cột hàng cuối cùng
hình 5) thì nhỏ hơn giữa mô hình IDC và LDC.
Tuy nhiên, sự lan tỏa liên quan đến vấn đề độc lập tiền tệ và mở cửa tài chính
được đề cập từ giữa những năm 1990. Trong khi quốc gia có thị trường tài chính chưa
nổi giữ độ tương quan nhất định trong độc lập tiền tệ, những quốc gia có thị trường tài
chính mới nổi trở nên ít độc lập tiền tệ. Những quốc gia EMG cũng mở cửa tài chính
hơn so với những quốc gia có thị trường tài chính chưa nổi.
GVHD: ThS Nguyễn Khắc Quốc Bảo

Nhóm 1 - Lớp Cao học Khóa 18 –NH Đ2 Trang 16
Hình 6 chỉ ra đường phát triển liên quan của những chỉ số với nhau, tạo ra sự

sụp đổ của hệ thống Bretton Wood, giá trị chỉ số cố định tỷ giá hối đoái đối với những
nước công nghiệp hóa sụp đổ theo thống kê cụ thể từ 0.55 đến 0.45 trong khi giá trị của
chỉ số mở cửa tài chính (tự do hóa dòng vốn) tăng nhẹ từ 0.44 đến 0.47. Những nước
GVHD: ThS Nguyễn Khắc Quốc Bảo

Nhóm 1 - Lớp Cao học Khóa 18 –NH Đ2 Trang 18

đang phát triển có thị trường tài chính chưa nổi có mức tăng ổn định trong tỷ giá hối
đoái (từ 0.52 đến 0.82) trong cùng giai đoạn mà họ áp dụng chính sách tiền tệ độc lập ít
hơn và mở cửa tài chính cao. Tuy nhiên, những nước đang phát triển có thị trường tài
chính phát triển lại hướng dến tỷ giá hối đoái thả nổi nhiều hơn thay vì tuân thủ chính
sách tỷ giá hối đoái ổn định.
Sau sự kiện khủng hoảng nợ ở Mexico, những nước công nghiệp tiếp tục gia tăng
chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt và mở cửa tài chính trong khi chính sách tiền tệ độc
lập không thay đổi. Ngược lại, cuộc khủng hoảng nợ đã hướng các nước đang phát
triển theo đuổi chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt, và như thực tế phản ánh những
quốc gia khủng hoảng không thể chịu nổi chính sách tỷ giá hối đoái cố định. Tuy
nhiên, những nước này cũng đồng thời theo đuổi chính sách tiền tệ độc lập. Đáng chú
ý, những nước có thị trường tài chính chưa nổi lại thắt chặt kiểm soát nguồn vốn và kết
quả là khủng hoảng nợ trong khi những nước có thị trường tài chính phát triển đã
không thay đổi chính sách của mình
Cuộc khủng hoảng Châu Á cũng xuất hiện như là một sự kiện cụ thể về việc áp
dụng chính sách bộ ba bất khả thi. Mức độ chính sách tiền tệ độc lập của những quốc
gia công nghiệp giảm trong khi chính sách tỷ giá hối đoái trở nên ổn định và những nỗ
lực của họ trong việc tiếp tục tự do hóa dòng vốn. Mặt khác, những nước đang phát
triển thị trường tài chính chưa nổi đang theo đuổi chính sách hội nhập tài chính và tỷ
giá hối đoái linh hoạt và tiền tệ độc lập. Những nước có thị trường tài chính mới nổi
bắt đầu tự do hóa thị trường tài chính cao nhưng giảm chính sách tiền tệ độc lập trong
khi lại theo đuổi chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt
Vài sự kiện chính khác cho thấy sự đổ vỡ cấu trúc tài chính được xác định. Ví dụ,

bài nghiên cứu này, thống kê rộng nhất nên chỉ ra sự đổ vỡ cấu trúc tài chính ý nghĩa
nhất đối với chuỗi chỉ số này. Ví dụ, chính sách tiền tệ độc lập và tỷ giá hối đoái cố
định của những nước công nghiệp được thống kê rộng nhất khi sự đổ vỡ cấu trúc năm
1997-1998 được kiếm chứng. Tuy nhiên, mở cửa tài chính năm 1990 được nhìn nhận
như đổ vỡ cấu trúc tài chính đáng chú ý nhất. Kết quả của sự biến thiên khác và mẫu
nhỏ được thể hiện trong bảng 1 (c). Đối với những nước đang phát triển có thị trường
GVHD: ThS Nguyễn Khắc Quốc Bảo

Nhóm 1 - Lớp Cao học Khóa 18 –NH Đ2 Trang 20

tài chính chưa nổi và mới nổi thì sự đổ vỡ cấu trúc tài chính do chính sách tiền tệ độc
lập và tỷ giá hối đoái cố định đã xảy ra vào năm 1982 và 2001. Trong khi sự sụp đổ
của hệ thống Bretton Woods là sự kiện đáng chú ý nhất đối với những nước đang phát
triển thị trường tài chính chưa nổi liên quan đến chính sách tự do hóa tài chính, còn
cuộc khủng hoảng Châu Á là sự kiện nổi bật của những nước có thị trường tài chính
mới nổi.
3. Mối quan hệ tuyến tính của các chỉ số bộ ba bất khả thi:
Trong khi sự phân tích ở trên hoàn toàn hữu ích cho việc theo đuổi định hướng
chính sách kinh tế vĩ mô quốc tế. Chúng tôi không chứng minh có hay không việc thực
hiện 3 mục tiêu chính sách kinh tế vĩ mô của lý thuyết Bộ ba bất khả thi có liên kết với
nhau hay không. Mà thật ra nó quan trọng đối với chúng tôi trong việc chứng minh
rằng các quốc gia phải có sự đánh đổi dựa trên bộ ba bất khả thi.
Một thách thức đang phải đối mặt là kiểm chứng việc đánh đổi trong lý thuyết
bộ ba bất khả thi này rằng hệ thống bộ ba bất khả thi không đánh thuế bất cứ mô hình
chức năng nào rõ ràng trong việc đánh đổi dựa trên sự biến thiên của trilemma. Để
minh họa, chúng tôi phải lưu ý sự khó khăn trong việc kết hợp 3 yếu tố của bộ ba muốn
nói rằng việc thay đổi một trong ba yếu tố, chẳng hạn như nâng cao tự do hóa tài chính
thì phải giảm tỷ giá hối đoái cố định, hoặc giảm chính sách tiền tệ độc lập, hoặc kết
hợp hai trong ba chính sách này. Vì thế, chúng tôi đã kiểm tra tính giá trị của bộ ba bất
khả thi - quan hệ tuyến tính của sự đánh đổi. Cụ thể chúng tôi kiểm tra có hay không

cao, nghĩa là đề nghị một mối quan hệ tuyến tính cụ thể đủ để giải thích sự đánh đổi
trong việc lựa chọn ba chính sách. Nói các khác, nếu việc lựa chọn này thấp cho thấy
rằng mức đánh đổi thấp, chỉ ra rằng hoặc là lý thuyết bộ ba bất khả thi là sai hoặc là
mối quan hệ của chúng không có tác động qua lại với nhau.
Thứ hai, hệ số ước lượng trong mô hình hồi quy ở trên đã đưa cho chúng tôi
những dự đoán tương đối về lập trường của các quốc gia trong ba mục tiêu của chính
sách. Tuy nhiên, những hệ số ước lượng tự nó sẽ không đưa ra được những thông tin
hiệu quả về việc lựa chọn chính sách như thế nào mà quốc gia đó thực hiện. Sau đó,
hãy nhìn vào ước đoán trong việc sử dụng hệ số ước lượng và những giá trị thật cho sự
biến thiên (chẳng hạn như a MI, b ERS và c KAOPEN) sẽ đem lại nhiều thông tin hơn.
Thứ ba, so sánh giá trị được ước lượng dựa trên hồi quy ở trên, chẳng hạn như a
MI + b ERS + c KAOPEN trong một thời gian dài, chúng ta có thể rút ra được kết luận
về sự liên kết của bộ ba bất khả thi như thế nào. Nếu bộ ba được xem như có quan hệ
tuyến tính, giá trị ước lượng sẽ nằm trong khoảng 1 và nếu số liệu chạy ở trên có lỗi thì
GVHD: ThS Nguyễn Khắc Quốc Bảo

Nhóm 1 - Lớp Cao học Khóa 18 –NH Đ2 Trang 22

chỉ ra rằng nên lựa chọn chính sách bộ ba bất khả thi như thế nào sao cho không thể
đồng thời hoặc làm cách nào để ba chính sách này không liên kết với nhau.
Bảng 2 thể hiện kết quả hồi quy. Kết quả này với đầy đủ dữ liệu mẫu được thể
hiện ở cột đầu tiên, và trong các cột tiếp theo với những giai đoạn chạy thử khác nhau.
Trước hết, việc điều chỉnh R2 cho mô hình đầy đủ dữ liệu trong các giai đoạn khoảng
trên 94%, mà chỉ ra rằng mục tiêu của 03 chính sách là hoàn toàn có quan hệ với nhau.
Đó là, các quốc gia đối mặt với sự đánh đổi trong việc lựa chọn ba chính sách này. Qua
các giai đoạn khác nhau, với những hệ số ước lượng khác nhau, đã cho thấy sự đánh
đổi là khác nhau. Hoặc là thay đổi các mục tiêu của chính phủ hoặc là thay đổi nền
kinh tế.

GVHD: ThS Nguyễn Khắc Quốc Bảo

hoặc “chính sách kết hợp giữa sự độc lập về tiền tệ và ổn định tỷ giá hối đoái” đã có
GVHD: ThS Nguyễn Khắc Quốc Bảo

Nhóm 1 - Lớp Cao học Khóa 18 –NH Đ2 Trang 24

ảnh hưởng lớn nhưng chủ yếu là do ưu thế của sự độc lập về tiền tệ trong một khoảng
thơi gian.
Qua những hình minh hoạ phía dưới. Chúng ta có thể nhận thấy được tác động
từ xu hướng của từng chính sách tới 02 nhóm nước: công nghiệp phát triển và các nước
kém phát triển. Những hình này minh hoạ phù hợp với luận điểm 5 và 6. Trong khi vẫn
giữ vững mức độc lập tiền tệ cao – mặc dù có biến động – cùng với của sự ổn định tỷ
giá hối đoái thấp nhưng bất biến, các nước kém phát triển dần dần gia tăng mức độ mở
cửa thị trường vốn (capital account openness) từ những năm đầu của thập niên 90.
Tuy nhiên, nỗ lực để đạt 3 mục tiêu chính sách cũng một lúc chỉ thực hiện được khi các
nước đã có được những dự trữ quốc tế ở mức độ cao, điều đó cho phép các nước này
can thiệp vào thị trường hối đoái, điều này phù hợp với thực tế của một số các nước
đang phát triển đã gia tăng được dự trữ ngoại hối của mình thông qua hậu quả của cuộc
khủng hoảng kinh tế châu á năm 1997-1998. Tuy nhiên, theo quan niệm của các nhà dự
đoán của học thuyết “bộ 3 bất khả thi”, loại môi trường này sẽ phải trả giá bằng việc
mất khả năng can thiệt đặc biệt khi khối lượng thực tế của biên độ giao động của các
tài sản tài chính tăng lên và khi không có sự đảo chiều trong 3 chính sách. Điều này
giải thích cho việc suy giảm mức độ độc lập tiền tệ sau năm 2000 của nhóm các nước
kém phát triển.
Theo kinh nghiệm của các nước công nghiệp hóa lại đưa ra một điều hoàn toàn
tương phản. Mặc dù mức độ độc lập về tiền tệ luôn là ưu tiên hàng đầu cho đến thập
niên 90, Tự do hóa tài chính đã được dẫn đến trong những năm đầu của thập niên 90
khi một số các nước công nghiệp hóa mở rộng tự do thị trường tài chính. Nỗ lực mở
rộng tự do tài chính là phù hợp với sự không ngừng suy giảm và trở nên ít ưu tiên nhất
của sự độc lập về tiền tệ trong những năm của thế kỷ 20. Việc thay đổi này trong tương
quan đến mức độ của 3 mục tiêu chính sách không yêu cầu các nước phải tích lũy dự

rằng quy trình đang suôn sẻ và tiếp diễn. Hơn thế nữa, luôn luôn có những cấu trúc
gẫy rời rạc liên quan đến những sự kiện quan trọng: sự sụp đổ của hệ thống Bretton
Wood, khủng hoảng nợ năm 1982 và cuộc khủng hoảng Châu Á năm 1997-1998.
Thêm vào đó, việc đẩy nhanh toàn cầu hoá và việc nổi lên của Trung Quốc cũng đã
ảnh hưởng đáng kể đến việc sắp xếp các chính sách.

Trích đoạn Quyết định giảm giá VND và "bộ ba bất khả thi”
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status