DANH SÁCH NHÓM
1. Cao Nguyễn Thanh Dung NH08
2. Phan Hoàng An NH09
3. Trần Thị Diệu Huyền NH09
4. Nguyễn Thị Thu Phương NH09
5. Lê Thị Thảo Trang NH09
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Sau những tác động của cuộc khủng hoảng tài chính trầm trọng nhất của thế kỉ 21 trên
toàn cầu, vấn đề của bộ ba bất khả thi - giả thuyết rằng một quốc gia duy nhất chỉ có thể đạt
được ít nhất hai trong số ba mục tiêu: độc lập tiền tệ, ổn định tỷ giá hối đoái, tài chính và
hội nhập - có vẻ khá xa. Nhưng trên thực tế liệu có quốc gia nào đã giải quyết được vấn đề
nan giải này và làm thế nào chính phủ các quốc gia sẽ hạn chế được những hạn chế trong
việc lựa chọn chính sách trong tương lai là những câu hỏi cần được trả lời. Những năm gần
đây, sự gia tăng dự trữ ngoại hối của các nền kinh tế mới nổi đã thay đổi phần nào trật tự
của bộ ba bất khả thi cổ điển. Nhiều người đã lập luận rằng việc tích lũy dự trữ ngoại hối
gần đây là điểm nhấn quan trọng để thay đổi mô hình bộ ba bất khả thi trong cấu trúc tài
chính quốc tế của các nước đang phát triển giúp các nước này tăng trưởng và phát triển kinh
tế bền vững.
Để có thể hiểu rõ hơn các chính sách vĩ mô của Chính phủ các quốc gia thực hiện như
thế nào và giữa chúng có quan hệ ra sao chúng em sẽ bắt đầu từ nghiên cứu lý thuyết bộ ba
bất khả thi cổ điển của Robert Mundell và Marcus Fleming (1960), cũng như thước đo các
yếu tố của bộ ba này do Chinn và Ito (2008) nghiên cứu và phát triển; xu hướng thay đổi
cấu trúc tài chính quốc tế nhìn nhận theo lý thuyết bộ ba bất khả thi. Bên cạnh đó việc phân
tích những trường hợp điển hình theo từng cách kết hợp bộ ba bất khả thi của các nền kinh
tế sẽ giúp chúng em có thể áp dụng lý thuyết này vào việc điều hành chính sách vĩ mô của
Việt Nam những năm gần đây cũng như cách lựa chọn thế nào là phù hợp nhất.
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Đây là mô hình lý thuyết kinh tế học rất nổi tiếng, được Robert Mundell và Marcus
Fleming phát triển trong những năm 1960. Và vào những năm 1980 khi vấn đề kiểm soát
vốn bị thất bại ở nhiều quốc gia cùng với mâu thuẫn giữa việc neo giữ tỷ giá và chính sách
công dân trong nước).
Giả sử chu chuyển vốn hoàn hảo, ta có tài khoản vốn là một hàm của chênh lệch giữa lãi
suất trong nước và lãi suất trong nước, cụ thể:
KA = k ( r – r
*
)
Nếu lãi suất trong nước tăng tương đối so với lãi suất nước ngoài thì lợi nhuận đầu tư
trong nước cao hơn lợi nhuận đầu tư ra nước ngoài, công dân trong nước và nước ngoài có
xu hướng tăng mua tài sản trong nước và giảm mua tài sản nước ngoài, vốn có khuynh
hướng đổ vào trong nước. Nói một cách khác, nếu lãi suất trong nước (r ) cao hơn lãi suất
nước ngoài (r
*
) thì tài khoản vốn sẽ thặng dư và ngược lại. Các khoản mục của một cán cân
thanh toán có thể có sự thâm hụt hoặc thặng dư nhưng cán cân thanh toán tổng thể phải luôn
cân bằng.
Trong mô hình IS-LM-BP, Is là tập hợp các phối hợp khác nhau giựa thu nhập và lãi suất
mà tại đó thị trường hàng hóa cân bằng. Sự dịch chuyển đường IS thể hiện tác động của
chính sách tài khóa. Đường LM là tập hợp các phối hợp khác nhau giữa lãi suất và thu nhập
mà tại đó thị trường tiền tệ cân bằng. Sự dịch chuyển đường LM thể hiện tác động của
chính sách tiền tệ. Đường BP là tập hợp những phối hợp khác nhau giữa thu nhập và lãi suất
mà ở đó cán cân thanh toán cân bằng.
Sự tác động của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ có thể làm thay đổi các trạng
thái của cán cân thanh toán. Đường BP dốc lên thể hiện mối quan hệ đồng biến giữa lãi suất
và thu nhập Giả sử cán cân thanh toán cân bằng ở mức thu nhập Y và lãi suất r. Nếu Y tăng
thì lượng nhập khẩu mY tăng làm cho tài khoản vãng lai NX giảm và do đó BP<0 (cán cân
thanh toán thâm hụt). Vì vậy, để cán cân thanh toán trở lại cân bằng thì phải gia tăng tài
khoản vốn, điều đó đồng nghĩa với việc gia tăng mức lãi suất trong nước r. Nói tóm lại, khi
thu nhập tăng làm cán cân thanh toán thâm hụt thì lãi suất phải tăng để cán cân thanh toán
trở lại cân bằng và ngược lại.
1.1 Chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ dưới chế độ tỷ giá cố
)
trên đồ thị.
- Nếu chính phủ thực hiện một chính sách tiền tệ mở rộng sẽ làm đường LM dịch
chuyển sang phải thành đường LM’. Nền kinh tế cân bằng bên trong tại điểm F, sản lượng
tăng lên, lãi suất trong nước giảm xuống, do đó vốn có xu hướng chảy ra nước ngoài khiến
cán cân thanh toán bị thâm hụt và tỷ giá có xu hướng tăng lên. Khi tỷ giá tăng lên nghĩa là
đồng nội tệ giảm giá, nhờ đó làm tăng sức cạnh tranh quốc tế dẫn đến xuất khẩu tăng và
nhập khẩu giảm nên NX tăng lên. Kết quả lượng ngoại tệ đi vào tăng lên, làm cho đường IS
và BP dịch chuyển sang phải là IS’ và BP’ hình thành nên điểm cân bằng mới tại J ở mức
sản lượng cao hơn sản lượng cân bằng ban đầu. Như vậy, chính sách tiền tệ có tác dụng
mạnh để gia tăng sản lượng.
- Nếu chính phủ thực hiện chính sách tài khóa mở rộng làm đường IS dịch chuyển sang
phải thành IS’’. Nền kinh tế đạt cân bằng bên trong tại điểm G với sản lượng tăng, đồng thời
lãi suất trong nước cũng tăng. Kết quả dòng vốn chảy vào có xu hướng tăng lên nên cán cân
thanh toán thặng dư và do đó tỷ giá có xu hướng giảm xuống. Khi tỷ giá giảm nghĩa là đồng
nội tệ tăng giá làm giảm sức cạnh tranh quốc tế, do đó xuất khẩu ròng NX giảm và lượng
ngoại tệ đi vào giảm nên đường BP sẽ dịch chuyển sang trái thành BP’’ và đường IS’’ sẽ
dịch chuyển ngược lại thành IS’ hình thành nên điểm cân bằng mới K với sản lượng và lãi
suất đều giảm so với mục tiêu. Như vậy, chính sách tài khóa có tác dụng yếu hơn trong việc
gia tăng sản lượng.
Như vậy, trong chế dộ tỷ giá linh hoạt và dòng chu chuyển vốn hoàn toàn, chính sách
tiền tệ có tác dụng mạnh hơn trong khi chính sách tài khóa có tác dụng yếu hơn.
Có thể tóm tắt các tác động thành bảng sau:
Các chính sách
Tỷ giá thả nổi Tỷ giá cố định
Y e NX Y e NX
Tài khóa mở rộng 0 + - + 0 0
Tiền tệ mở rộng - - + 0 0 0
Hạn chế Nhập khẩu 0 + 0 + 0 +
Trong đó: 0: không thay đổi, -: giảm, +: tăng
siêu lạm phát.
- Ổn định tỷ giá giữ tỷ gía được duy trì giúp tạo ra cái neo danh nghĩa để chính phủ tiến
hành các biện pháp ổn định giá cả. Cái neo này làm cho nhận thức của nhà đầu tư đối với
rủi ro giảm đi, làm tăng thêm niềm tin của công chúng vào đồng nội tệ. Tất cả giúp làm môi
trường đầu tư tốt hơn. Tuy nhiên tỷ giá cố định hay ổn định quá mức có mặt trái của nó. Tỷ
giá quá ổn định làm cho chính phủ mất đi một công cụ để hấp thụ các cú sốc bên trong và
bên ngoài truyền dẫn vào nền kinh tế.
- Hội nhập tài chính nghĩa là dòng vốn được tự do ra vào nền kinh tế. Việc này cho
phép công dân nước đó đa dạng hóa tài sản bằng cách đầu tư ra nước ngoài. Nó cũng
khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đem theo các nguồn lực, kinh nghiệm, chuyên môn
để đầu tư vào nước đó. Lợi ích của hội nhập tài chính đến từ hai mặt: hữu hình và vô hình.
Về mặt hữu hình,lợi ích của hội nhập tài chính giúp quốc gia tăng trưởng nhanh hơn và
phân bổ nguồn lực tốt hơn. Chúng cũng giúp nhà đầu tư đa dạng hóa đầu tư, nhờ vậy mà họ
mới mạnh dạn bỏ vốn vào nền kinh tế. Thị trường tài chính nội địa nhờ đó cũng phát triển
theo. Hội nhập tài chính còn giúp giải quyết được phần nào vấn đề mất cân xứng thông tin
do từ khu vực doanh nghiệp đến chính phủ phải minh bạch thông tin nếu muốn thu hút
nhiều hơn. Lợi ích lớn nhất - lợi ích vô hình - mang lại từ hội nhập tài chính là tạo ra động
lực giúp cho chính phủ tiến hành nhiều cải cách và quản trị tốt hơn để theo kịp những thay
đổi từ hội nhập. Mặc dù vậy hội nhập tài chính cũng được cho là nguyên nhân dẫn đến bất
ổn kinh tế những năm gần đây.
Tuy nhiên, không thể cùng lúc đạt được cả ba mục tiêu trên. Một số quốc gia chỉ có thể
lựa chọn một lúc đồng thời hai trong ba mục tiêu. Bất kỳ cặp mục tiêu nào cũng có thể đạt
được bằng một chế độ tỷ giá tương ứng nhưng phải từ bỏ mục tiêu chính sách còn lại.
Hình 3 minh họa bộ ba bất khả thi, mỗi cạnh tượng trưng cho một mục tiêu kỳ vọng.
Tuy nhiên không thể đồng thời thực hiện cả ba cạnh của tam giác. Đối nghịch với mỗi cạnh
(mỗi mục tiêu) là các chính sách tương ứng tại các đỉnh.
- Thị trường vốn đóng ( Closed Financial Markets): kết hợp ổn định tỷ giá và độc lập
tiền tệ. Lựa chọn này có nghĩa chính phủ phải thiết lập kiểm soát vốn, từ bỏ hội nhập tài
chính.
- Tỷ giá cố định (Fixed Exchange Rate): kết hợp ổn định tỷ giá và hội nhập tài chính
Tỷ giá thả
nổi
Có Có Không
Các nước đang phát
triển
Một thông điệp chính của lý thuyết bộ ba bất khả thi là sự thiếu hụt các công cụ
trong quản lý kinh tế vĩ mô. Sự thiếu hụt này do chính phủ buộc phải đối mặt với một sự
đánh đổi. Ví dụ chính phủ muốn hội nhập tài chính sâu hơn, buộc phải giảm tỷ trọng trung
bình của 2 mục tiêu còn lại (ổn định tỷ giá ít hơn, hoặc tiền tệ độc lập ít hơn hoặc cả hai).
Cách tiếp cận bộ ba bất khả thi như trên gọi là cách tiếp cận trung gian chứ không phải
tiếp cận theo ba đỉnh của tam giác. Có mô hình nào khái quát hóa điều này hay không?
2.1 Giới thiệu những phiên bản mở rộng của bộ ba bất khả thi
2.1.1 Thuyết tam giác mở rộng của Yigang và
Tangxian
Yigang và Tangxian (2001) tiếp tục
p hát triển lý thuyết bộ ba bất khả thi của
Mundell và đưa
lên
thành thuyết tam
gi ác mở rộng. Nền tảng của thuyết này
là những quan niệm mới về sự độc lập
c ủa
chính
sách tiền tệ và ổn định tỷ giá.
T heo đó, bộ ba bất khả thi của Mundell
k ết luận rằng một quốc gia không
thể
c ó một chính sách tỷ giá ổn định một
nửa (half-stability) và chính sách tiền
tệ độc lập một nửa
mà không nhất thiết phải đánh đổi hoàn toàn theo như tam giác bất khả thi của Mundell –
Fleming.
2.1.2 Thuyết tứ diện
Thuyết tam giác mở rộng của Yigang và Tangxian (2001) thực sự đã chuẩn hoá tam
giác bất
khả
thi
của Mundell. Tuy nhiên, giống như mô hình của Mundell, lý thuyết này
chưa xem xét đến sự khác
nhau
về khả năng vay mượn nước ngoài bằng nội tệ trong các
nền kinh tế khác nhau sẽ tác động trực tiếp
đến
biến
động tỷ giá. Hausmann (2000) phát
hiên ra một mối quan hệ vững chắc giữa mẫu hình thả nổi tỷ
giá
của một quốc gia với
khả năng vay mượn quốc tế bằng nội tệ của quốc gia đó. Cụ thể, quốc gia nào
có
khả
năng vay mượn nước ngoài bằng nội tệ (the ability to borrow abroad) nhiều hơn có
khuynh hướng nắm giữ mức dự trữ ngoại hối
nhỏ
hơn, và cho phép tỷ giá biến động
cao hơn so với biến động trong dự trữ ngoại hối hoặc lãi suất.
Hausmann
một sự kết hợp thường thấy ở các quốc gia đang phát triển với thị trường tài chính còn yếu
là không có khả năng vay nợ bằng đồng nội tệ kết hợp với chính sách tiền tệ độc lập, tỷ giá
cố định và kiểm soát vốn hoàn toàn.
Khi cho khả năng vay nợ bằng đồng nội tệ của một quốc gia bằng 0 thì mặt C của tứ
diện sẽ không tồn tại. Lúc này tứ diện sẽ trở thành tam giác đều. Như vậy, tam giác bất khả
thi của Mundell-Fleming chỉ là một trường hợp đặt biệt của thuyết tứ diện khi một quốc gia
không có khả năng vay nợ nước ngoài bằng nội tệ.
Hình 6. Tam giác bất khả thi –trường hợp đặc biệt của thuyết tứ diện
Trong giới hạn nội dung, nhóm chúng em không nghiên cứu sâu hai mô hình trên mà chỉ
giới thiệu sơ lược. Các phân tích của các phần khác cũng chủ yếu dựa trên mô hình cổ điển.
3.1 Thước đo bộ ba bất khả thi
Chinn và Ito đã phát triển ba thước đo để đánh giá mức độ độc lập tiền tệ (MI), ổn
định tỷ giá ( ERS) và hội nhập tài chính ( KAOPEN).
Độc lập tiền tệ MI. Mức độ độc lập tiền tệ được đo lường bằng hàm đảo nghịch của
mức tương quan hằng năm của lãi suất hàng tháng giữa quốc gia sở tại và quốc gia cơ sở.
Chỉ số mức độ độc lập tiền tệ được xác định bằng:
MI = 1 -
Trong đó: i: quốc gia sở tại, j: quốc gia cơ sở. Với công thức như trên, giá trị tối đa,
tối thiểu tương ứng là 1 và 0. Gía trị càng tiến về 1 có nghĩa là chính sách tiền tệ càng độc
lập hơn. VÍ dụ nếu chúng ta muốn đo lường mức độ độc lập tiền tệ của Việt Nam, quốc gia
sở tại là Việt Nam và quốc gia cơ sở là Mỹ ( nếu chúng ta muốn xem xét thay đổi lãi suất
VNĐ với lãi suất USD).
Ổn định tỷ giá (ERS). Độ ổn định tỷ giá chính là độ lệch chuẩn của tỷ giá, được
tính theo năm dựa trên dữ liệu tỷ giá mỗi tháng giữa quốc gia sở tại và quốc gia cơ sở. Độ
ổn định tỷ giá nằm giữa giá trị 1 và 0, càng tiến về 1 tỷ giá càng ổn định.
ERS =
Cách thức đo lường độ ổn định tỷ giá như trên có ưu điểm là giúp chúng ta xác định
được chính sách tỷ giá trên thực tế mà một quốc gia đang áp dụng chứ không phải dựa trên
những gì mà quốc gia đó tuyên bố. Nếu chỉ đơn thuần áp dụng công thức này thì chỉ số đo
lường độ ổn định tỷ giá có xu hướng rất nhỏ. Điều đó có nghĩa là nó sẽ phóng đại mức độ
cho thấy quốc gia mở cửa hơn với những giao dịch vốn xuyên quốc gia.
Lưu ý là chỉ số KAOPEN chỉ cho ta thấy độ mở tài khoản vốn theo pháp lý dựa trên
các báo cáo của chính phủ cho IMF, WB các chỉ số kinh tế vĩ mô liên quan đến kiểm soát
vốn và ngoại hối.
Lane và Milesi-Ferretti (2006) có đề xuất sử dụng chỉ số độ mở tài khoản vốn trên
thực tế. Chỉ số của Lane và Milesi-Ferretti đo lường khối lượng nợ và tài sản nước ngoài
trong cán cân thanh toán. Khi đo lường tổng lượng nợ và tài sản nước ngoài trong cán cân
thanh toán, ta sẽ thấy được mức độ kiểm soát vốn trên thực tế mà quốc gia đó đang theo
đuổi. Ngoài ra còn một phương pháp thứ hai để đo lường độ mở của tài khoản vốn trên thực
tế, đó là tính toán tỷ số dòng tài chính xuyên biên giới trong cán cân thanh toán quốc tế so
với GDP.
Thường khi phân tích các chỉ số của bộ ba bất khả thi các nhà kinh tế có xu hướng sử
dụng đồng thời cả hai chỉ số độ mở tài khoản vốn theo pháp lý và trên thực tế cùng một lúc.
4.1 Chứng minh bộ ba bất khả thi
4.1.1 Ổn định tỷ giá và độc lập tiền tệ
Xuất phát từ A thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng làm dịch chuyển LM đến LM1 .
LM1 cắt IS tại B thì có R thấp hơn, có Y1 >Yo làm cho NX giảm làm mất cân bằng tỷ giá .
Nếu nhà nước cho hội nhập tài chính làm cho áp lực càng lớn đối với cố định tỷ giá. Vậy
hội nhập tài chính sẽ không tồn tại.
4.1.2 Độc lập tiền tệ và hội nhập tài chính
Xét tại điểm A nếu nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng thì đường LM dịch
chuyển xuống thành LM1. Đường LM1 cắt IS tại B có r thấp làm dòng vốn dịch chuyển ra
nước ngoài và tại đó có mức sản lượng Y1 lớn hơn mức sản lượng Yo làm cho xuất khẩu
ròng giảm dẫn đến cung ngoại tệ giảm cầu ngoại tệ tăng. Vậy không thể ổn định tỷ giá .
A
BP
Y
r
Y0
Y1
Nguồn: Aizeman, J., M. Chinn, and H. Ito (2008). The Impossible Trinity
Hypothesis in an Era of Global Imbalances: Measurement and Testing
Hình 9. International reserves and financial integration patterns
International reserves/GDP ratios and Capital account liberalization indices, for industrial
and developing countries
Nguồn: International Reserves: Precautionary Versus Mercantilist Views, Theory and
Evidence - Joshua Aizenman and Jaewoo Lee
Giải thích quan hệ của sự gia tăng nắm giữ ngoại hối chưa từng thấy trước đây với hệ
quả của hội nhập tài chính toàn cầu, Hình 6 là biểu đồ thể hiện dự trữ ngoại hối / GDP và
chỉ số tự do hóa tài khoản vốn giữa các nước công nghiệp và các nước đang phát triển.
Trong khi dự trữ ngoại hối/GDP dường như không biến động lớn trong những năm 1980,
sự gia tăng rõ rệt của việc nắm giữ ngoại hối tại các quốc gia đang phát triển xảy ra đầu
những năm 1990, trùng khớp với sự đẩy mạnh tự do hóa tài chính ở các quốc gia này. Dự
trữ ngoại hối tăng tốc thần kỳ ở các nước đang phát triển là kết quả sau cuộc khủng hoảng
Đông Á. Đây là bằng chứng phù hợp cho sự phỏng đoán rằng sự hội nhập tài chính của các
quốc gia đang phát triển đưa đến sự thay đổi mạnh mẽ nhu cầu của dự trữ ngoại hối. Trước
khi hội nhập tài chính, nhu cầu về dự trữ ngoại hối cung cấp một sự đảm bảo chắc chắn cho
bản thân nước đó chống lại các dòng quan hệ thương mại dễ biến động. Dự trữ ngoại hối
gia tăng một phần do chính phủ các nền kinh tế mới nổi phải đối phó với xu hướng dòng
vốn mang tính đầu cơ. Tích lũy dự trữ ngoại hối, vì vậy, là phương thức chính mà chính phủ
hướng đến như tấm đệm can thiệp phòng ngừa rủi ro dòng vốn đảo chiều.
So với trước đây, dự trữ ngoại hối tăng lên chủ yếu nhờ vào yếu tố thương mại, tức
thặng dư trong xuất khẩu, thì giờ đây yếu tố tài chính ngày càng đóng vai trò lớn hơn. Điều
này cho thấy chính phủ các nền kinh tế mới nổi có triết lý khá rõ ràng trong việc lựa chọn
các mục tiêu chính sách của bộ ba bất khả thi: từng bước mở cửa tài chính nhưng không
quên kiểm soát vốn, linh hoạt thay vì cố định tỷ giá và sử dụng công cụ chính sách tiền tệ
bơm thắt nhịp nhàng làm đầy kho dự trữ ngoại hối của mình.
Năm 2008, Aizenman, Chinn và Ito đã triển khai một dạng đồ thị hình kim cương để đo
lập tiền tệ ở hai nhóm quốc gia khá gần nhau. Tuy nhiên đến đầu những năm 90, chỉ số MI
ở nhóm quốc gia IDC đã giảm đi đáng kể. Điều này phản ánh nỗ lực của các nước thành
viên khu vực tiền tệ chung Euro. Sau sự sụp đổ hệ thống Bretton Woods (1973), đồng tiền
của các nước công nghiệp hóa trong hệ thống đều tự do thả nổi, đường biểu diễn ERS của
nhóm nước này giảm liên tục. Đến đầu những năm 80, tỷ giá trở nên ổn định hơn; cụ thể chỉ
số ERS không ngừng gia tăng mặc dù có một vài sự biến động do khủng hoảng EMS (1992-
1993). Ngược lại, các nước LDC vẫn kiên trì theo đuổi cơ chế tỷ giá cố định. Nhìn vào đồ
thị thứ 3, rõ ràng chúng ta không mấy ngạc nhiên khi chỉ số hội nhập tài chính của nhóm
nước IDC liên tục gia tăng đặc biệt giữa thập niên 90 có một sự tăng tốc đột biến về độ mở
cửa tài chính. Trong khi đó, các nước LDC tuy cũng bắt đầu theo đuổi mục tiêu này nhưng
nhìn chung còn khá khác biệt so với so với nhóm nước công nghiệp hóa.
So sánh giữa nhóm EMG và Non-EMG: