Đề tài: Quản trị tài chính trong các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam - Pdf 14

Giảng viên: Nguyễn Thị Liên Hoa Thực hiện: Nhóm 05

1

B


GI
Á
O D

C &
Đ
À
O T

O

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC


ĐỀ TÀI 11:
QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH TRONG CÁC DOANH
NGHIỆP FDI TẠI VIỆT NAM

bản được ban hành để thu hút va sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này. Nhờ đó, nguồn vốn
đầu tư nước ngoài đã tang lên và có tác động tích cực vào sự tăng trưởng của nền kinh tế.
Đại hội IX (năm 2001) của Đảng ta khẳng định, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
là một thành phần kinh tế. Trong thời gian qua, doanh nghiệp có đầu tư nước ngoài đã thể
hiện vai trò quan trọng của nó trong nền kinh tế Việt Nam, góp phần tích cự vào việc thúc
đẩy phát triển công nghiệp, thúc đẩy xuất khẩu, thu hẹp khoảng cách về trình độ kinh tế
của nước ta với các nước trong khu vực, nâng dần vị thế chính trị và kinh tế của Việt Nam
trên trường quốc tế.
 Tuy nhiên, để phát triển và sử dụng có hiệu quả kinh tế có vốnb đầu tư nước ngoài, đặc biệt
là nguồn vốn FDI, thì chúng ta cần phải nổ lực về nhiều phương diện.

Trong bài tiểu luận này, chúng ta sẽ cùng nhau nghiên cứ về vấn đề quản trị tài chính trong
các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam, trong đó chúng ta sẽ chú trọng tìm hiểu về các chính
sách của Nhà nước tác động lên các doanh nghiệp FDI như thế nào trong quá trình quản trị
điều hành và sử dụng vốn để đầu tư dự án, các nguồn tài trợ, cơ cấu nguồn vốn đầu tư. . .
Giảng viên: Nguyễn Thị Liên Hoa Thực hiện: Nhóm 05

3
Từ đó rút ra được bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp trong nước và đưa ra các giải
pháp để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp FDI hoạt động hiệu quả để góp phần

vào quá trình phát triển chung của cả nước.
Giảng viên: Nguyễn Thị Liên Hoa Thực hiện: Nhóm 05

4
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỂ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH
NGHIỆP

I. Khái niệm
Quản trị tài chính là một môn khoa học quản trị, nó nghiên cứu các mối quan hệ tài

tránh được những thiệt hại do ứ đọng vốn gây ra, đồng thời giảm bớt được nhu cầu vay
vốn, từ đó giảm được các khoản tiền trả lãi vay. Việc hình thành và sử dụng tốt các quỹ của
doanh nghiệp, cùng với việc sử dụng các hình thức thưởng phạt vật chất một cách hợp lý sẽ
góp phần quan trọng thúc đẩy người lao động gắm bó với doanh nghiệp từ đó nâng cao
năng suất lao động,cải tiến kỹ thuật , nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

 Giám sát, kiểm tra thường xuyên, chặt chẽ các mặt hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Thông qua tình hình thu, chi tiền tệ hàng ngày, tình hình tài chính và thực hiện các
chỉ tiêu tài chính, lãnh đạo và các nhà quản lý doanh nghiệp có thể đánh giá tổng hợp và
kiểm soát được các mặt hoạt động của doanh nghiệp, phát hiện được kịp thời những tồn tại
hay khó khăn vướng mắc trong kinh doanh, từ đó có thể đưa ra các quyết định để điều
chỉnh các hoạt động phù hợp với diễn biến thực tế kinh doanh.
2) Vai trò quản trị tài chính tại một số quốc gia trên thế giới
Ở nhiều nước như Mỹ và châu Âu, trong các công ty, tập đoàn kinh tế lớn như
General Motor, Microsoft, Apple, Vodaphone, quản trị tài chính được tách rời đối với
công tác kế toán thống kê. Tại các hãng này, quản trị tài chính là tổng hợp, phân tích, đánh
giá thực trạng về tài chính và đưa ra những quyết định về mặt tài chính ngắn hạn cũng như
dài hạn của doanh nghiệp. Bộ phận quản trị tài chính trong các doanh nghiệp Mỹ và châu
Âu dựa vào các báo cáo kế toán, báo cáo doanh thu, chi phí, báo cáo nhân sự và tiền
lượng, do các bộ phận kế toán tài chính, kế toán quản trị, thống kê cung cấp, kết hợp với
những yếu tố khách quan để tiến hành phân loại, tổng, hợp, phân tích và đánh giá tình hình
tài chính của doanh nghiệp, so sánh kế quả phân loại của kỳ này với kỳ trước của doanh
nghiệp mình với các doanh nghiệp cùng ngành, lĩnh vực sản xuất, so sánh với các chuẩn
mực của ngành. Bằng các chỉ tiêu và sự nhạy bén mà bộ phận quản trị tài chính có thể chỉ
ra những mặt mạnh cũng như những thiếu sót của doanh nghiệp trong kỳ. Ngoài ra, bộ
Giảng viên: Nguyễn Thị Liên Hoa Thực hiện: Nhóm 05

6
phận quản trị tài chính còn giúp giám đốc hoạch định chiến lược tài chính ngắn và dài hạn

7
CHƯƠNG II:QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
FDI TẠI VIỆT NAM
I. QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH TẠI DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, tại Việt Nam rất nhiều công ty được
thành lập có quy mô lớn nhỏ khác nhau. Tuy nhiên, trừ một số doanh nghiệp liên doanh,
doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài còn lại đại đa số các doanh nghiệp đều chưa hình
thành bộ phận quản trị tài chính và chức danh giám đốc tài chính. Trong nhiều doanh
nghiệp, những nhiệm vụ, chức năng của giám đốc tài chính và bộ phận quản trị tài chính đã
mặc nhiên giao cho một phó giám đốc và kế toán trưởng làm thay. Thế nhưng, trớ trêu
thay, theo Điều lệ kế toán trưởng các doanh nghiệp quốc doanh còn đang có hiệu lực, kế
toán trưởng lại không có những chức năng nhiệm vụ của giám đốc tài chính. Thậm chí,
trong luật kế toán cũng vậy. Do đó, có khá nhiều việc kế toán trưởng làm cũng không được
mà không làm cũng vô can. Sự “làm thay tự nguyện” này chính là một trong những
nguyên nhân tạo ra một “khoảng trống về quản trị tài chính” trong các doanh nghiệp Việt
Nam hiện nay. Nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên là sự nhầm lẫn chức năng giữa bộ
phận kế toán và bộ phận tài chính doanh nghiệp, không chỉ có trong nhận thức của các chủ
doanh nghiệp mà cả trong tư duy của không ít nhà làm luật. Chẳng hạn, cho đến nay, trong
hệ thống văn bản pháp quy về kế toán chưa có một văn bản nào quy định về giám đốc tài
chính. Trong một số công ty liên doanh, khi tồn tại song song hai chức danh giám đốc tài
chính và kế toán trưởng, nếu giám đốc tài chính là người nước ngoài và kế toán trưởng là
người Việt Nam thì thông thường kế toán trưởng chỉ tồn tại trên hình thức. Như vậy, có thể
nói để có thể phát triển, tình hình tài chính ổn định thì các doanh nghiệp cần:
 Phân định rõ ràng chức năng của giám đốc tài chính và kế toán trưởng như là một bộ phận
quản trị tài chính và bộ phận kế toán trong doanh nghiệp;
 Tổ chức bộ phận quản trị tài chính doanh nghiệp do giám đốc tài chính đứng đầu theo một
cơ cấu thống nhất giữa các doanh nghiệp;
 Có sự phối hợp chặt chẽ hơn mối quan hệ mật thiết giữa bộ phận quản trị tài chính doanh
nghiệp với các phòng ban chức năng khác, đặc biệt là tạo ra mối quan hệ chặt chẽ giữa bộ
Giảng viên: Nguyễn Thị Liên Hoa Thực hiện: Nhóm 05

và doanh nghiệp trong nước.
Giảng viên: Nguyễn Thị Liên Hoa Thực hiện: Nhóm 05

9
 Lộ trình cải cách thuế: sau khi gia nhập WTO, Chính phủ Việt nam sẽ tiến hành các
chương trình hoàn thiện chế độ, chính sách thuế đối với các doanh nghiệp FDI, cụ thể như
sau:
+ Đối với Luật thuế GTGT, dự kiến sẽ sửa đổi bổ sung thêm đối tượng chịu thuế là hàng
hoá, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và giảm bớt nhóm hàng hoá, dịch vụ không chịu
thuế. Thuế suất thuế GTGT sẽ được xem xét bỏ dần một số mức thuế suất tiến tới chỉ có
một mức thuế suất. Chỉ áp dụng khấu trừ đối với hoá đơn GTGT mua vào có ghi rõ số thuế
GTGT.
+ Đối với Luật thuế tiêu thụ đặc biệt, do sẽ có bổ sung thêm đối tượng chịu thuế GTGT
vốn đến nay chỉ là đối tượng chịu thuế TTĐB nên thuế suất thuế TTĐB sẽ được giảm phù
hợp với việc đánh thuế GTGT vào mặt hàng trước đó chỉ chịu thuế TTĐB.
+ Về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, sẽ nghiên cứu và áp dụng thí điểm về thuế tuyệt đối
và hạn ngạch thuế quan; việc áp dụng giá tính thuế - tối thiểu sẽ được xem xét bãi bỏ để
chuyển sang thực hiện giá tính thuế nhập khẩu theo Hiệp định giá trị hải quan của GATT.
+ Về Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế suất và ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ
từng bước được thống nhất thành một mức giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp
FDI.
 Nh
ập
khẩu:
Trước đây, các doanh nghiệp FDI không được phép nhập khẩu hàng hóa từ nước
ngòai về bán lại trong nước, ngoại trừ máy móc thiết bị, nguyên vật liêu phục vụ cho họat
động sản suất của mình. Tuy nhiên, trên thực tế, từ lâu doanh nghiệp FDI kinh doanh tại
Việt Nam vẫn có quyền nhập khẩu hàng hóa, nhưng chỉ với mục đích trang bị cho doanh
nghiệp hoặc bán thử nghiệm, chứ không được phân phối ở nội địa.
Hiện nay theo cam kết của Việt nam về dịch vụ của Việt Nam khi gia nhập WTO, ngay


Năm
T
ổng KLGD

( CP)
T
ổng GTGD

(1.000 đồng)
2000

3,641,000

90,214,760
2001

19,028,200

946,019,653
2002
Giảng viên: Nguyễn Thị Liên Hoa Thực hiện: Nhóm 05

11
35,028,200

959,329,653

khóan Việt nam trong thời gian qua nổi nên như là một trong những kênh huy động vốn
hiệu quả. Bằng chứng là tuy mới ra đời được 5 năm và thật sự bùng nổ khoản 2 năm gần
đây nhưng tổng số lượng giao dịch trên TTCK vào khoảng 269 ngàn tỷ vào năm 2007. Trải
qua nhiều thăng trằm, vẫn đạt mức tăng trưởng vượt bậc với giá trị vốn hóa đạt 43,7%
GDP-một con số không nhỏ so với một thị trường còn non trẻ như Việt nam.
 Lợi ích từ việc huy động vốn trên TTCK
 Quản bá thương hiệu: thị trường chứng khóan là kênh quảng bá thương hiệu rất tốt. Khi
tham gia thị trường chứng khoán, hình ảnh và tên tuổi công ty sẽ được xuất hiện thường
xuyên trên các bản tin tài chính của báo đài, đặc biệt là những công ty làm ăn hiệu quả có
khối lượng giao dịch lớn và tăng trưởng đều đặn. Đây được xem như một sự quảng cáo
miễn phí cho doanh nghiệp. Đối với người tiêu dùng, việc công ty được niêm yết trên
TTCK sẽ mặc nhiên được xem là một công ty tốt, làm ăn có hiệu quả vì để được niêm yết
trên thị trường công ty phải đáp ứng một số điều kiện nhất định trong đó có chỉ tiêu lợi
nhuận.
 Minh bạch hóa tình hình tài chính: tham gia TTCK, các công ty phải thường xuyên cung
cấp báo cáo tài chính đã được kiểm toán. Ngoài ra, ban lãnh đạo công ty dưới sức ép của
Giảng viên: Nguyễn Thị Liên Hoa Thực hiện: Nhóm 05

12
hội đồng quản trị phải luôn cố gắng nâng cao hiệu quả họat động của công ty để đánh bóng
hình ảnh công ty.
 Là kênh huy động vốn hiệu quả: nguồn vốn huy động được từ TTCK được xem là nguồn
vốn tự có của công ty và do đó công ty không bị đặt dưới sức ép trả nợ như việc huy động
từ các thị trường khác. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu nào cho thấy chi phí từ
việc huy động vốn trên TTCK rẻ hơn so với các thị trường khác như TTNH hay không?.
 Thực trạng tài trợ vốn của các doanh nghiệp FDI trên TTCK Việt nam
Mặc dù là kênh huy động vốn hiệu quả và phổ biến, tuy nhiên, TTCK hiện nay vẫn
chưa phải là sân chơi cho các công ty FDI vì mới chỉ có khoảng 5 doanh nghiệp trên tổng
số gần 200 doanh nghiệp đang niêm yết trên TTCK.Việc cổ phần hóa và niêm yết trên
TTCK đối với một công ty FDI đã và đang gặp phải một số vướng mắc như:

thuê thu tiền trước; các doanh nghiệp đầu tư theo hình thức BT, BOT, BTO; DN có quy mô
vốn đầu tư ghi trên giấy phép trên 70 tr.USD hoặc dưới 1 tr.USD…
Song, việc cổ phần hóa và tham gia vào TTCK sẽ là một xu thế tất yếu đối với các
doanh nghiệp lớn có uy tín và định hướng làm ăn lâu dài tại Việt nam. Họ cũng biết được
giá trị thực sự của mình trên thị trường, tăng tính thanh khoản cho cổ phiếu của họ. TTCK
còn là một kênh huy động vốn hiệu quả, DN FDI có thể qua đó tìm gọi vốn cho các kế
hoạch sản xuất - kinh doanh. Đến nay, các DN tham gia TTCK, không kể là vốn trong
nước hay FDI, đều đã thu hút, huy động vốn khá hiệu quả từ các nhà đầu tư. Ngược lại,
việc các doanh nghiệp FDI tham gia thị TTCK sẽ giúp thị trường trở lên sôi động hơn, các
nhà đầu tư sẽ có nhiều lựa chọn hơn trong danh mục đầu tư của mình.
b. Doanh nghiệp FDI với thị trường tài chính -ngân hàng
 Thị trường Ngân hàng:
Là một kênh huy động vốn phổ biến nhất và có từ lâu đời. So với doanh nghiệp nhà
nước được định giá đất vào tài sản doanh nghiệp, các doanh nghiệp FDI đa số là thuê đất
nên không được tính vào giá trị doanh nghiệp. Ngòai ra, các doanh nghiệp FDI không được
nhà nước đứng ra bảo lănh khi vay ngân hàng.
 Thị trường cho thuê tài chính:
Tổng quan về thị trường cho thuê tài chính (CTTC)
Giảng viên: Nguyễn Thị Liên Hoa Thực hiện: Nhóm 05

14
+ Thị trường tài chính một số nước trên thế giới: tại Mỹ, ngành cho thuê tài chính chiếm
khoảng 25-30% tổng số tiền tài trợ cho các giao dịch mua bán thiết bị hàng năm của các doanh
nghiệp. Doanh thu từ hoạt động cho thuê tài chính trung bình hàng năm ở Hàn Quốc là 17 tỉ
USD, ở Thái Lan 3 tỉ USD Và tổng doanh thu hàng năm của ngành này trên toàn thế giới
ước đạt trên 500 tỉ USD với đà tăng trưởng trung bình 7% hàng năm.
+ Thị trường tài chính Việt nam: xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1995, song hoạt động của các
công ty CTTC trong thời gian qua đã phần nào làm giảm sức ép và gánh nặng cho hệ thống
ngân hàng thương mại (NHTM) trong việc cung ứng vốn đối với các doanh nghiệp (DN), đặc
biệt là vốn trung và dài hạn. Tính đến tháng 10/2006 đã có 11 công ty CTTC hoạt động tại

thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp đi thuê khi đã thanh toán đủ nợ gốc, lãi tiền thuê và giá
quyền chọn mua danh nghĩa.
+ Tích kiệm chi phí khi mua tài sản. Khi cần mua một dây truyền sản xuất, thông thường
doanh nghiệp phải tự tìm hiểu, đàm phán với đối thác và thuê bên thứ ba thẩm định chất
lượng. Công việc này đòi hỏi mất nhiều thời gian, tiền bạc, công sức và nhân lực và đôi khi
doanh nghiệp vẫn có thể mua phải hàng không đúng với chất lượng. Các CTTC với đội ngũ
nhân viên chuyên nghiệp của mình sẽ đứng ra đảm nhận toàn bộ công việc này và khi đó
doanh nghiệp chỉ việc đem vào sử dụng.
 Khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp FDI từ các công ty CTTC.
CTTC là hình thức tài trợ vốn trung và dài hạn rất tốt cho các doanh nghiệp vừa và
nhỏ khi cần vốn mở rộng sản xuất kinh doanh. Hiện nay, ở Việt Nam số doanh nghiệp nhỏ
và vừa chiếm trên 95% tổng số doanh nghiệp. Đó là một thị trường tiềm năng to lớn cho
các công ty CTTC khai thác. Tuy là một kênh tài trợ vốn trung và dài hạn với nhiều ưu
điểm nhưng việc tiếp cận nguồn vốn từ các CTTC hiện nay ở Việt nam vẫn chưa phổ biến
và gặp nhiều khó khăn, trở ngại như:
+ Họat động cho thuê tài chính chưa mang tính phổ biến. Theo một cuộc khảo sát ngẫu nhiên
mới đây đối với 1.000 doanh nghiệp thuộc các thành phần khác nhau thì hơn 70% số doanh
nghiệp được hỏi trả lời rằng họ biết rất ít và chưa bao giờ tìm hiểu, sử dụng dịch vụ cho thuê
tài chính; gần 20% hoàn toàn không biết về dịch vụ này, thậm chí có doanh nghiệp hiểu cho
thuê tài chính như hoạt động mua trả góp, nhiều doanh nghiệp chưa hiểu rõ bản chất cấp tín
dụng của dịch vụ cho thuê tài chính, chưa thấy rõ được hiệu quả, lợi ích từ dịch vụ cho thuê tài
chính mang lại Nguyên nhân là do mặc dù đã xuất hiện 10 năm trên thị trường Việt Nam
Giảng viên: Nguyễn Thị Liên Hoa Thực hiện: Nhóm 05

16
nhưng sự quảng bá, giới thiệu để cộng đồng doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ về
lĩnh vực cho thuê tài chính còn hạn chế.
+ Giá cho thuê còn cao. Giá cho thuê (gồm tiền trích khấu hao tài sản thuê, phí, bảo hiểm )
hiện nay còn cao. Nếu bỏ qua các yếu tố an toàn, chi phí bỏ ra ban đầu thấp thì cho đến hết
thời hạn thanh lý hợp đồng cho thuê tài chính, bên thuê sẽ phải thanh toán tổng số tiền đối với

Hiện nay, việc phát hành trái phiếu chủ yếu vẫn do chính phủ thực hiện đối với các
loại trái phiếu như: trái phiếu chính phủ, trái phiếu kho bạc, trái phiếu đô thị…Đối với trái
phiếu doanh nghiệp mới chỉ dừng lại ở việc Chính phủ phát hành thay cho một số Tổng
công ty nhà nước. Ví dụ, vừa qua chính phủ phát hành trái phiếu quốc tế 750 tr.USD với lãi
suất 7,125% để tài trợ cho các dự án lớn của Tổng công ty công nghiệp tàu thủy Việtnam
(Vinashin). Tuy nhiên, hiện nay Bộ tài chính đã có đề án báo cáo chính phủ về chủ chương
cho phép các doanh nghiệp được tiến hành phát hành trái phiếu quốc tế theo hai hướng:
chính phủ vay về và cho doanh nghiệp vay lại hoặc doanh nghiệp phát hành dưới sự bảo
lãnh của chính phủ. Bộ Tài chính khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện theo phương án
hai. Việc phát hành trái phiếu cũng đồng nghĩa với việc vay nợ quốc tê, và do đó khi đi vay
các doanh nghiệp phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
 Khi đi vay thì tiêu chí hiệu quả là đầu tiên.
 Không vay thương mại đối với những dự án không có khả năng hoàn trả trực tiếp.
 Không vay ngắn hạn tài trợ cho những mục tiêu dài hạn.
Hiện nay, mức nợ của Việt nam chỉ khoảng 31-32% GDP, trong khi đó, tiêu chí của
Ngân hàng Thế giới là 50% GDP mới là mức nguy hiểm.
Việc tiếp cận nguồn vốn quốc tế thông qua phát hành trái phiếu đối với các doanh
nghiệp Việt nam nói chung và các doanh nghiệp FDI nói riêng vẫn còn rất hạn chế do:
 Tình trạng tài chính của các doanh nghiệp chưa ổn định, vững chắc.
 Việc kiểm toán còn nhiều yếu kém về minh bạch hóa thông tin đối với thị trường, đây là
một yêu cầu rất quan trọng khi phát hành trái phiếu ra quốc tế.
 Hầu hết các doanh nghiệp Việt nam đều chưa có đánh giá về hệ số tín nhiệm.
 Các doanh nghiệp FDI khi đầu tư vào Việt nam đã xác định trước mục tiêu, quy mô hoạt
động và số vốn cần thiết. Đối với dự án của các tập đoàn kinh tế lớn, khi cần tăng vốn thì
Giảng viên: Nguyễn Thị Liên Hoa Thực hiện: Nhóm 05

18
đã có nhiều nguồn đặc biệt là sự tài trợ của công ty mẹ. Đối với các công ty liên doanh nhỏ
thì hầu như không thể vì không đủ khả năng.
 Quy trình thủ tục phức tạp, tốn nhiều thời gian. Ngòai ra, doanh nghiệp còn gặp phải sự

Quyết định sso 1133/2003/QĐ - NHNN, ngày 30/9/2003 ban hành kèm theo qui chế).
Đồng thời số lượng các giao dịch còn ít khoảng gần 15 hợp đồng hoán đổi lãi suất và một
số ít hợp đồng phái sinh không chuẩn khác đã được cho phép thực hiện( trong số đó có một
số giao dịch đã chưa phát sinh giao dịch). Có thể liệt kê một số TCTD đã được Ngân hàng
nhà nước cho phép thực hiện:
 Ngân hàng Citibank thực hiện thí điểm hoán đổi lãi suất giữa 2 đồng tiền từ ngày 1/3/2005
đến 2/2006.
 Ngân hàng Standard Chartered chi nhánh tại Việt Nam thực hiện hoán đổi lãi suất chéo
giữa 2 đồng tiền chéo (Cross Currency Swap- CCS) đối với khoản vay ngoại tệ của khách
hàng sau khi khách hàng vay ngoại tệ;thực hiện cung cấp sản phẩm gắn với rủi ro tín dụng-
lãi suất cơ cấu cho tiền gửi và giấy tờ có giá, theo đó lãi suất của khách hàng được hưởng
sẽ không cố định mà nằm trong một khoảng giao động nhất định và phụ thuộc vào sự biến
động của một số yếu tố thị trường , như tỷ giá, lãi suất, giá sản phẩm hàng hóa nào đó
 Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, thực hiện thí điểm giao dịch quyền chọn lãi suất
đối với các khoản cho vay hoặc đi vay trung hạn bằng USD hoặc euro. Đối tác thực hiện
giao dịch quyền chọn lãi suất là các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam, các NHTM hoạt
động tại VN được NHNN cho phép thực hiện thí điểm giao dịch quyền chọn lãi suất và các
NH nước ngoài. Số gốc của hợp đồng quyền chọn lãi suất tối đa bằng 15% vốn tự có của
NHĐT&PT. Tổng số là hợp đồng trong thời gian thí điểm không vượt quá 50% mức vốn tự
có của NH. thời hạn hợp đồng không quá 5 năm; thực hiện nghiệp vụ tiền gửi kết hợp
quyền chọn tiền tệ- Dual currency Deposit; thực hiện hoán đổi tiền tệ chéo. Đó là việc trao
đổi các dòng tiền trong tương lai bằng các đồng tiền khác nhau. Trong các giao dịch hoán
đổi chéo thường có việc hoán đổi thanh toán lãi (cố định hoặc thả nổi) bằng một đồng tiền
sang thanh toán lãi (cố định hoặc thả nổi) bằng một đồng tiền khác. Số tiền gốc trong giao
dịch có thể được hoán đổi vào kỳ đầu (nếu có) và kỳ cuối, hoặc nhiều kỳ trong thời gian
hiệu lực của giao dịch
 NHNT thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất kèm theo điều kiện quyền chọn với các đối tác
là TCTD hoạt động tại Việt Nam và các pháp nhân khác hoạt động ở trong nước và nước
Giảng viên: Nguyễn Thị Liên Hoa Thực hiện: Nhóm 05


Giảng viên: Nguyễn Thị Liên Hoa Thực hiện: Nhóm 05

21
trong quá trình hội nhập và mở cửa thị trường tài chính ở Việt Nam. Khi mà rủi ro luôn là
bạn đường của các nhà đầu tư và ngày càng gia tăng trong quá trình hội nhập, thì phát triển
thị trường các nghiệp vụ phái sinh được xem như là là chắn quan trọng để hạn chế rui ro
cuả thị trường đối với những nhà đầu tư. Vì vậy phát triển thị trường phái sinh là rất cần
thiết hiện nay.
3. Quản trị tài chính trong nội bộ doanh nghiệp
a. Phân chia cổ phiếu và cổ tức
Theo Thông tư 18/2007/TT-BTC, tổng số cổ phiếu phát hành theo chương trình
không được vượt quá 5% vốn cổ phần đang lưu hành của công ty. Điều này tạo ra sự thắc
mắc trong cộng đồng doanh nghiệp về tỷ lệ trên là của vốn điều lệ hay của vốn phát hành
thêm.
Với nhiều doanh nghiệp, việc quy định một tỷ lệ nhỏ như vậy là không hợp lý, vì
nhiều doanh nghiệp có số lượng lao động lớn, việc phân chia theo tỷ lệ này dẫn đến việc
mỗi người lao động chỉ được nhận một vài cổ phiếu, không tương xứng với công sức đóng
góp của họ.
Qua việc xem xét đặc điểm của mỗi loại vốn huy động của công ty cũng như mức
độ hiệu ứng đòn bẩy tài chính bằng việc xem xét chi phí sử dụng vốn vay tác động ảnh
hưởng tới tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu, công ty có thể tính toán và lựa chọn cơ cấu vốn
phù hợp với điều kiện cụ thể.
Chính sách cổ tức được xem là một trong những quyết định “đau đầu” nhất trong
quản trị tài chính của công ty cổ phần. Chính sách cổ tức có tác động đến giá cổ phiếu của
công ty, nguồn tiền công ty có thể sử dụng để tái đầu tư và có ảnh hưởng đến nguồn thu
nhập của các cổ đông hiện hành.
Hiện tại, hai mô hình trả lợi tức cổ phần phổ biến là mô hình lợi tức cổ phần ổn
định và mô hình lợi tức cổ phần thặng dư. Với mô hình lợi tức cổ phần ổn định, chính sách
cổ tức ổn định đưa ra tín hiệu về sự ổn định trong kinh doanh của công ty.
Với mô hình lợi tức cổ phần thặng dư, lợi nhuận dành trả lợi tức chỉ là phần còn

mỗi lao dộng trong doanh nghiệp FDI sinh lợi cho doanh nghiệp 25,1 triệu đồng/năm thì ở
doanh nghiệp nhà nước (DNNN), mỗi người lao động chỉ sinh lơi cho doanh nghiệp 8 triệu
đồng và con số này ở doanh nghiệp tư nhân (DNTN) là 5,l triệu đồng. Cũng theo phân tích,
Giảng viên: Nguyễn Thị Liên Hoa Thực hiện: Nhóm 05

23
1 đồng tiền lương đã tao ra 1,1 đồng lợi nhuận tại khối doanh nghiệp FDI, trong khi chỉ tạo
ra 0,5 đồng trong khối DNTN và 0,3 đồng tại khối DNNN. Tạo ra năng suất và hiệu quả
cao nhất nhưng khối doanh nghiệp FDI lại sử dụng lao động có trình độ cao ở mức thấp
nhất so với 2 loại hình DN còn lại. Số lao động đã qua đào tạo, đã có chứng chỉ hoặc bằng
cấp về nghề trong doanh nghiệp FDI chỉ chiếm 41,7% tổng số lao động làm việc 1 năm trở
lên trong doanh nghiệp. Trong khi đó, doanh nghiệp nhà nước là nơi sử dụng nhiều lao
động đã qua đào tao nhất, với tỷ lệ là 66,2%. Tiếp đó, khối doanh nghiệp tư nhân sử dụng
46,9% tổng số lao động đã qua đào tạo.
Qua khảo sát trên ta có thể thấy rằng không chỉ bó hẹp trong quản trị nguồn tiền mà
còn là sự kết hợp quản trị tất cả nguồn lực của doanh nghiệp sao cho hoạt động của doanh
nghiệp đạt hiệu quả cao nhất. Các doanh nghiệp FDI với chính sách tiền lương thông
thoáng, phúc lợi cao và đặc biệt là chế độ đào tạo tốt đã giúp nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn của mình. Tuy nhiên, cũng cần phải nhìn nhận rằng những chế độ trên chỉ đến được
với người lao động có tay nghề, học vấn ở các công ty lớn. Có một thực trạng đang hết sức
nóng bỏng hiện nay là việc đình công liên tục xẩy ra ở các nhà máy xí nghiệp sử dụng
nhiều lao động phổ thông so sự khắt khe trong chính sách tiền công đối với người lao động
phổ thông.


152,820,000

Công nghiệp nặng 277

2,585,513,710

48.5%

931,241,648

Công nghiệp nhẹ 322

1,883,775,461

35.3%

932,504,118 Công nghi
ệp thực
phẩm 27

91,807,125

1.7%

68,001,125

Xây dựng 69


Thủy sản 12

24,775,000

14.7%

18,559,000
III
Dịch vụ

387 4,253,401,251

100%

1,422,213,088

Dịch vụ 267

345,816,361

8.1%

148,775,221 Giao thông V


615,425,780 Văn hóa-Ytế-Giáo dục

38

183,031,700

4.3%

98,302,800 Xây d
ựng hạ tầng Khu
chế xuất-Khu công
nghiệp 5

83,500,000

2.0%
25,600,000 Xây d
ựng Khu đô thị
mới 2



44%
2%
54%
Công nghiệp
Nông-Lâm-Ngư nghiệp
Dịch vụ
Hình 1: CƠ CẤU NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ THEO NGÀNH
Phân tích vốn đầu tư theo ngành:
- Ngành công nghiệp chiếm 54% trong tổng nguồn vốn đầu tư
- Ngành Nông lâm – Ngư nghiệp chiếm 2% trong tổng vốn đầu tư


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status