thực trạng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu trong hoạt động xnk uỷ thác một số mặt hàng tại cty cổ phần xuất nhập khẩu và hợp tác đầu tư vilexim hà nội - Pdf 14

LỜI MỞ ĐẦU
Thế kỷ XX qua đi cùng bao nhiêu niềm vui nỗi buồn, những thành
tựu và niềm trăn trở. Hòa chung vào xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế
thế giới và khu vực ,Việt Nam chuyển sang hoạt động theo cơ chế thò
trường có sự quản lý của Nhà nước . Sự nghiệp đòi hỏi chúng ta phải
nhanh chóng tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến, đẩy
mạnh các hoạt động ngoại thương, đặc biệt hoạt động Xuất Nhập Khẩu
để từng bước khảng đònh mình trên thi trường quốc tế .
Để đẩy mạnh việc phát triển kinh tế của mình và tham gia tốt vào
mối quan hệ kinh tế quốc tế, Đảng và Nhà nước ta có những chính sách
phù hợp .Đó là việc phát triển kinh tế theo xu hướng mở cửa, chuyển từ
nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thò trường có sự điều tiết của Nhà
nước.Do đó trong việc xúc tiến Thương mại quốc tế Đảng và Nhà nước
đã quan tâm đến việc thành lập các Doanh nghiệp trực tiếp tiến hành
các hoạt động kinh tế đối ngoại, đứng ra ký kết các Hợp đồng Xuất
Nhập Khẩu hoặc Nhận ủy thác xuất nhập cho các Doanh nghiệp khác .
Bên cạnh việc khuyến khích đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu thì vấn
đề nhập khẩu nhằm để tăng cường lực lượng sản xuất, thúc đẩy sự phát
triển của các ngành kinh tế, tiết kiệm chi phí sản xuất, hỗ trợ cho hoạt
động xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu dân sinh Đối với nước ta - một nước
đang ở giai đoạn đầu của quá trình Công nghiệp hoá -Hiện đại hoá đất
nước là một hoạt động tối cần thiết.
Để ký kết và thực hiện Hợp đồng Nhập Khẩu có hiệu quả đạt được
mục tiêu lợi nhuận là vấn đề mà tất cả các nhà Nhập Khẩu quan tâm.
Tuy nhiên trong quá trình này do có khoảng cách xa về không gian, sự
khác biệt của các chủ thể về các yếu tố ngôn ngữ, văn hoá, luật pháp và
quan trọng nhất là yếu tố quyền lợi nên các nhà kinh doanh Nhập Khẩu
thường gặp rủi ro, sự cố dẫn đến thiệt hại lớn.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề đó, trong thời gian thực
tập tại Công ty cổ phần Xuất Nhập Khẩu và hợp tác đàu tư VILEXIM
Hà Nội , em đã đi sâu vào nghiên cứu đề tài

I. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP
KHẨU ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN.
Xuất Nhập Khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán ở phạm vi quốc
tế , nhằm mục đích đẩy mạnh sản xuất hàng hóa phát triển, chuyển đổi
cơ kinh tế ổn đònh và nâng cao đời sống. Nó cho phép khai thác tiềm
năng, thế mạnh của các nước trên thế giới, tiếp cận được nền công
nghiệp hiện đại của các nước phát triển.Ngoài ra Xuất Nhập khẩu là cầu
nối thông suốt giữa nền kinh tế trong nước và nước ngoài tạo điều kiện
cho phân công lao động và hợp tác quốc tế, phát huy được lợi thế so
sánh của đất nước trên cơ sở chuyên môn hoá tạo đều kiện nâng cao
hiểu biết về thế giới, tiếp thu được nền văn hoá, văn minh của nhân loại
.
Trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta chủ trương mở rộng
và phát triển quan hệ đối ngoại, trong đó lónh vực cực kỳ quan trọng là
thương mại hoá và dòch vụ với nước ngoài. Đó là chủ trương hoàn toàn
đúng đắn và phù hợp với thời đại, xu thế phát triển của nhiều nước trên
thế giới trong những năm gần đây. Do Việt nam là một nước bước vào
công cuộc đổi mới công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nên lẽ dó
nhiên Xuất Nhập Khẩu vẫn là hoạt động quan trọng, nó tác động một
cách trực tiếp và quyết đònh tới yếu tố sản xuất và đời sống. Xuất Nhập
Khẩu là để tăng cường cơ sở sở vật chất kỹ thuật, công nghệ tiên tiến,
3
hiện đại cho sản xuất, và các hàng hoá cho tiêu dùng mà trong nước
không sản xuất được, hoặc sản xuất không đáp ứng được nhu cầu. Xuất
Nhập Nhẩu còn để thay thế nghóa là Nhập Khẩu những mặt hàng mà
sản xuất không có lợi bằng Nhập khẩu. Làm được như vậy sẽ tác động
tích cực đến sự phát triển cân đối và khai thác tiềm năng, thế mạnh của
nền kinh tế quốc dân về sức lao động, vốn, cơ sở vật chất, tài nguyên và
khoa học kỹ thuật. Chính những điều kiện như vậy mà hoạt động Xuất
Nhập Khẩu là một trong những nhân tố quan trọng để thúc đẩy nền kinh

-Khi tiến hành Xuất nhập khẩu uỷ thác các doanh nghiệp chỉ tính
phí uỷ thác vào doanh thu chứ không được tính giá trò nhập khẩu vào
doanh thu dồng thời chòu thuế thu nhập doanh nghiệp cho phần uỷ thác
được nhận.
-Khi Xuất nhập khẩu uỷ thác ,các doanh nghiệp nhận uỷ thác phải
lập hai bản hợp đồng la:
.Hợp đồng nội (hợp đồng giữa bên uỷ thác và bên nhận uỷ thác )
gọi là hợp đồng uỷ thác.
.Hợp đồng ngoại (kí kết giữa bên nhận uỷ thác và nước ngoài ) gọi
là hợp đồng thương mại quốc tế ,hợp đồng xuất nhập khẩu.
-Về chủ thể:
Chủ thể uỷ thác nhập khẩu là tất cả các doanh nghiệp có giấy phép
kinh doanh trong nước hoặc giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu.
Chủ thể nhận uỷ thác Nhập khẩu là tất cả các doanh nghiệp có giấy
phép kinh doanh xuất nhập khẩu.
Hàng hoá: các loại hàng hoá được lưu thông đều được phép nhận
uỷ thác nhập khẩu
Phí uỷ thác: phí uỷ thác do hai bên thoả thuận trong hợp dồng hoặc
theo qui đònh của pháp luật
-Về điều kiện chủ thể Xuất Nhập khẩu uỷ thác:
Theo ngò đònh 57/1998/NĐ-CP và thông tư số 18/TT-BTM thì điều
kiện :
*Đối với bên nhận uỷ thác:
-Tất cả các doanh nghiệp nhận uỷ thác bắt buộc phải có giấy phép
kinh doanh trong nước hoặc có giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu.
-Có ngành hàng phù hợp với hàng hoá nhận uỷ thác
*Đối với bên uỷ thác:
5
-Có giấy phếp kinh doanh trong nước hoặc có giấy phép kinh doanh
xuất nhập khẩu

được mọi người chú ý quan tâm ,nhưng đến nay do chính sách mở cửa
6
nền kinh tế cộng với sự chuyên môn hoá trong lónh vực ngoại thương
nên hoạt động xuất nhập khẩu uỷ thác đang được Nhà nước quan tâm
chú ý đến, biểu hiện là những văn bản luật như:
-Quyết đònh 117-HĐBT ngày 16/06/1985 qui đònh về chính sách
,biện pháp đẩy mạnh xuất nhập khẩu ,về tăng cường xuất nhập khẩu.
-Quyết đònh 305-CT 30/09/1988 về cấp hạn ngạch và giấy phép
xuất nhập khẩu hàng hoá.
-Quyết đònh 64-HĐBT 10/06/1989 nói về chấn chỉnh và đổi mới cơ
chế xuất nhập khẩu .
-Chỉ thò số 131-CT ngày 03/05/1990 của Chủ tòch HĐBT về tiếp tục
đổi mới chính sách và cơ chế quản lý hoạt động xuấ nhập khẩu .
-Nghò đònh 114/HĐBT 07/04/1992 qui đònh toàn diện các mặt hoạt
động xuất nhập khẩu nước ta.
-Pháp lệnh về hợp đồng kinh tế ,nghò đònh 57/CP của chính phủ về
quản lý Nhà nước đối với xuất nhập khẩu
-Thông tư của Bộ trưởng Bộ thương mại số 18/1998/TT-BTM ban
hành riêng về việc điều chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu uỷ thác.
II. KHÁI QUÁT VỀ HP ĐỒNG XUẤT NHẬP KHẨU UỶ
THÁC
1.Khái niệm, vò trí, vai trò và đặc điểm của hợp đồng Xuất Nhập
khẩu Uỷ thác.
1.1. Khái niệm:
Hợp đồng Xuất Nhập Khẩu (uỷ thác) nói chung là sự thỏa thuận
giữa các bên đương sự có trụ sở kinh doanh ở các quốc gia khác nhau.
Trong đó một bên gọi là Bên xuât khẩu (bên bán) có nghóa vụ chuyển vào
quyền sở hữu của một bên khác gọi là Bên nhập khẩu (bên mua) một tài
sản nhất đònh ,gọi là hàng hoá ; Bên mua có nghóa vụ nhận hàng và trả
tiền hàng.

Nhập Khẩu sẽ tạo công ăn, việc làm cho người lao động thông qua việc
sản xuất hàng hoá trong nước xuất khẩu ra thò trường nước ngoài nhằm
tăng lợi nhuận và nguồn thu ngân sách cho nhà nước. Ngoài ra, thông
qua hoạt động Xuất Nhập Khẩu, doanh nghiệp sẽ thiết lập được mối
quan hệ kinh tế chặt chẽ với bạn hàng trong và ngoài nước, đồng thời
củng cố và phát triển nguồn cung ứng và tiêu thụ hiện có của doanh
nghiệp.
1.4. Đặc điểm:
8
Trong hợp đồng mua bán nói chung và hợp đồng Xuất nhập khẩu
uỷ thác nói riêng có nhiều điểm khác với hợp đồng mua bán trong nước
ở những điểm sau:
-Hàng hoá-đối tượng của hợp đồng được di chuyển ra khỏi biên
giới quốc gia.
-Đồng tiền thanh toán có thể là ngoại tệ.
-Các bên ký kết có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau.
2. Nôi dung Hợp đồng xuất Nhập khẩu uỷ thác
Hợp đồng Xuất nhập khẩu uỷ thác được ký kết giữa hai đơn vò kinh
tế là các pháp nhân trong nước.Căn cứ vào công văn chấp nhận uỷ thác
và đồng ý uỷ thác trên cơ sở bàn bạc thống nhất với hai bên sẽ đi đến kí
kết hợp đồng xuất nhập khẩu uỷ thác .
Hợp đồng là sự thoả thuận bằng văn bản ,tài liệu giao dòch ,ứng
dụng
tiến bộ khoa học kỹ thuật và các thảo thuận khác có mục đích kinh
doanh với sự qui đònh rõ ràng quyền và nghóa vụ của bên xác nhận và
thực hiện kế hoạch của mình.
Thông thường các điều khoản của bên A và bên B sẽ được thoả
thuận ghi trong hợp đồng như sau:
Điều I: Tên hàng, giá cả, số lượng
Tên hàng là điều kiện quan trọng của hợp đồng, nó nói lên chính

Điều III: Bao bì, đóng gói, kí mã hiệu
Trong điều kiện về bao bì ,các bên giao dòch thường phải thoả
thuận với nhau những vấn đề về yêu cầu chất lượng và giá cả của bao
bì.
Trong buôn bán quốc tế đã hình thành một số tập quán quốc tế về
các loại bao bì như:
- Qui cách chất lượng của bao bì phải phù hợp với một phương thức
vận tải nào đó.VD: bao bì thích hợp với vận chuyển bằng đường sắt,
đường biển, hàng không …
- Qui đònh cụ thể các yêu cầu về bao bì như:
+yêu cầu về vật liệu của bao bì
+yêu cầu về hình thức của bao bì
+yêu cầu về số lớp và cánh thức cấu tạo mỗi lớp …
10
Ở điều khoản này vì qui cách của hàng hoá thường xuyên thay đổi
và phức tạp nên sau phần hợp đồng người ta thường đính kèm các phụ
lục chi tiết có liên quan đến hàng hoá .
Nhìn chung điều khoản này thường được qui đònh theo nhu cầu hợp
đồng ngoại mà bên nhận uỷ thác đã kí kết với phía nước ngoài.
Điều IV: Giao hàng
Nội dung của điều kiện giao hàng là sự xác đònh thời hạn và đòa
điểm giao hàng, sự xác đònh phương thức giao hàng và việc thông báo
giao hàng .Trong hợp đồng cần phải ghi rõ về:
-Thời hạn giao hàng: là thời hạn mà người bán phải hoàn thành
nghóa vụ giao hàng .Nếu hai bên không có thoả thuận gì khác thì thời
hạn giao hàng này cũng là lúc di chuyển rủi ro và tổn thất về hàng hoá
từ người bán sang người mua,
-Đòa điểm giao hàng: việc lựa chọn đòa điểm giao hàng có liên
quan chặt chẽ đến phương thức chuyên chở hàng hoá và đến điều kiện
cơ sở giao hàng .Tuy nhiên ,có những điều kiện cơ sở giao hàng chỉ là

-Bảng kê chi tiết hàng hoá
-Hoá đơn thương mại đã ký
-Giấy chứng từ xuất xứ
-Giấy chứng nhận số lượng do nhà sản xuất cấp
-Hợp đồng bảo hiểm 100% giá trò hàng hoá với điều kiện mọi rủi ro
sẽ được thanh toán tại Việt Nam bằng ngoại tệ như hoá đơn
-Bản Copy Telex/Fax thông báo cho bên A chi tiết giao hàng.
*Trường hợp xuất khẩu uỷ thác:
Thông thường bên B sẽ chuyển tiền vào tài khoản của bên A ngay
sau khi phía nước ngoài thanh toán tiền hàng.Tuỳ theo từng điều kiện
thanh toán giữa bên B với bên nước ngoài trong hợp đồng ngoại mà tiền
được chuyển cho bên A một lần hay nhiều lần ,nhanh hay chậm.
Điều khoản thanh toán trong hợp đồng xuất khẩu uỷ thác cũng sẽ
gần giống như điều khoản thanh toán giữa bên B kí kết với phía nước
ngoài trong hợp đồng ngoại.Có điều, tiền chuyển cho bên A sẽ chậm
hơn ít ngày.
Điều VI: Giám đònh hàng hoá
*Đối với nhập khẩu uỷ thác :
Việc giám đònh hàng hoá cuối cùng sẽ do cơ quan giám đònh hàng
hoá của Việt Nam (Vinacontrol) tiến hành. Mọi khiếu nại nếu có sẽ
được thông báo ngay cho nhà ủy thác, nhà sản xuất và đựơc xác nhận
12
bằng thư bảo đảm có cùng với các điều kiện kèm theo của Vinacontrol
trong vòng 20 ngày kể từ ngày nhận hàng.Nếu trách nhiệm thuộc về nhà
sản xuất thì nhà sản xuất phải giải quyết ngay không được chậm trễ.
*Đối với xuất khẩu uỷ thác :
Việc giám đònh hàng hoá cuối cùng sẽ do cơ quan giám đònh hàng
hoá của người nhập khẩu tiến hành, mọi khiếu nại nếu có sẽ được thông
báo cho xuất khẩu.Thông thường khiếu nại được thông báo bằng thư bảo
đảm cùng với tài liệu kèm theo chứng minh về hàng hoá, trong vòng 10

Trong quá trình thực hiện hợp đồng mọi tranh chấp phát sinh trái
ngược nhau hay khác biệt ,không đạt được sự thoả thuận giữa hai bên sẽ
được giải quyết cuối cùng bởi trọng tài kinh tế Việt Nam. Phán quyết
của trọng tài sẽ là quyết đònh cuối cùng bắt buộc hai bên liên quan.
Chi phí trọng tài và các chi phí khác sẽ do bên thua kiện chòu ,ngoài
trừ các thoả thuận khác.
Điều X: Phạt vi phạm
*Trong trường hợp uỷ thác nhập khẩu:
Do hàng hóa đa dạng từ đơn giản đến phức tạp nên trong từng hợp
đồng điều khoản phạt cũng thể hiện một cách khác nhau.Thông thường
điều khoản này qui đònh:
Bên B (nhà cung cấp) cùng nhà sản xuất cam kết sản xuất những
hàng hoá theo đúng yêu cầu của bên A(bên đặt hàng).Nếu hàng hóa đặc
biệt thì qui đònh bên B cùng hãng sản xuất chỉ sản xuất đúng số lượng
mà bên A yêu cầu theo đơn đặt hàng.
Nếu bên A có chứng cớ hàng hoá sai qui đònh (hoặc số lượng thiếu
hụt) thì bên A yêu cầu nhà sản xuất điều tra xác minh về nguồn
gốc.Nếu hàng hoá thực sự sản xuất sai so với yêu cầu đơn hàng của bên
A thì bên B có trách nhiệm tìm ra nguyên nhân và chòu trách nhiệm giải
quyết vấn đề.
Trong trường hợp giao hàng chậm: nếu hàng hoá không thể xếp lên
tàu trước X tuần (thường là từ 15-17 ngày đối với các nhà sản xuất ở
Châu Âu) thì bên B cùng nhà sản xuất bò phạt 0.2%/tuần nhưng không
quá 6% giá trò hợp đồng .Ngoài X ngày, bên A có quyền huỷ hợp
đồng .Bên B cùng nhà sản xuất có trách nhiệm bồi thường tiền phạt và
tiền đặt cọc .
*Trường hợp uỷ thác xuất khẩu:
Nếu hàng hoá do bên B cấp khác với bên A gửi hàng hoặc khác với
đơn đặt hàng thì bên B chòu trách nhiệm bồi thường cho bên A và phía
14

Phí uỷ thác và các chi phí khác (chi phí phát sinh nằm ngoài các
điều khoản đã thoả thuận ) thì bên A sẽ thanh toán bằng tài khoản tiền
15
Việt cho bên B trên cơ sở các chứng từ hợp lệ. Phí uỷ thác có thể được
thanh toán theo từng giai đoạn như các bên đã thống nhất với nhau.
Khi có thông báo ngày giờ hàng về, bên A có trách nhiệm bố trí
đầy đủ các phương tiện nhận cũng như các bên đã thống nhất với nhau.
Khi nhận hàng nếu phát hiện hàng hóa không đảm bảo qui cách
vận chuyển theo qui đònh: vỡ kiện hàng …thì bên A có trách nhiệm thông
báo cho bên B để bên B có trách nhiệm yêu cầu hãng vận chuyển và
các cơ quan hữu quan lập biên bản xác nhận đồng thời tổ chức giám
đònh ngay.
Việc kết toán hợp đồng này được thực hiện trong vòng ngày kể từ
khi hết hạn ghi trong điều khoản bảo hành của hợp đồng.
*Trường hợp xuất khẩu :
-Trách nhiệm bên B:
Bên B đảm bảo nhận việc kí kết hợp đồng xuất khẩu hàng hoá theo
đúng chất lượng ,số lượng ,tính năng kó thuật với khách hàng nước ngoài.
Làm mọi thủ tục xuất khẩu hàng hoá với các cơ quan hữu quan ,thủ
tục giao hàng ,nhận tiền và chuyển tiền cho bên A.
-Trách nhiệm của bên A:
Bên A có trách nhiệm sản xuất và thu gom hàng hoá ,đóng gói bao
bì theo đúng yêu cầu mà bên B thông báo, chở hàng ra tập kết ở cảng
đúng thời hạn để cùng bên B làm thủ tục cần thiết cho việc xuất khẩu.
Bên A có trách nhiệm thanh toán cho bên B phí uỷ thác và các chi
phí khác như đã thoả thuận.
Điều XII: Các điều khoản khác
Đây là điều khoản qui đònh tính pháp lý của hợp đồng như:
- Mọi sự thay đổi hay điều chỉnh của hợp đồng chỉ có giá trò khi
được lập thành văn bản và được sự đồng ý của hai bên

hàng ; tiến hành các biện pháp hạn chế tổn thất nếu hàng về có hư hỏng
tổn thất.
III.CÁC HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ XUẤT NHẬP KHẨU UỶ
THÁC.
17
Qui trình nghiệp vụ, phương thức xuất-nhập khẩu uỷ thác phức tạp
hơn phương thức xuât-nhập khẩu trực tiếp .Ngoài việc luôn phải nghiên
cứu tìm hiểu thò trường ,mặt hàng và bạn hàng thì doanh nghiệp còn
phải quan tâm tìm hiểu bạn hàng uỷ thác,mặt hàng nhận uỷ thác .
Bên cạnh đó xuất-nhập khẩu uỷ thác liên quan đến 3 bên: bên uỷ
thác ,bên nhận uỷ thác ,bên xuất khẩu .Mối quan hệ giữa bên uỷ thác và
bên nhận uỷ thác là mối quan hệ trực tiếp ,được ràng buộc bằng hợp
đồng uỷ thác xuất-nhập khẩu.Giữa người cung ứng nước ngoài và bên
uỷ thác cũng là mối quan hệ trực tiếp ràng buộc bằng hợp đồng xuất
nhập khẩu không thể tách rời khỏi hợp đồng xuất nhâp khẩu.Các nghiệp
vụ chuyên môn liên
quan đến phương thức xuất nhập khẩu uỷ thác bao gồm:
-Đàm phán kí kết hợp đong uỷ thác xuất nhập khẩu (giữa bên uỷ
thác và bên nhận uỷ thác).
-Đàm phán kí kết hợp đồng xuất nhập khẩu(giữa bên nhận uỷ thác
và phía nước ngoài).
-Thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu.
-Bàn giao hàng hoá cho bên uỷ thác, nhận phí uỷ thác và thanh lí
hợp đồng.
-Tổ chức khiếu nại và giải quyết tranh chấp(nếu có).
1. Đàm phán kí kết hợp đồng uỷ thác xuất nhâp khẩu
Để có thể đi đến việc kí kết hợp đồng uỷ thác ,trước hết các bên
phải thông qua đàm phán để đi đến một thoả thuận chung trong việc uỷ
thác.Trong quá trình đàm phán, căn cứ vào yêu cầu của mình để cùng
nhau xem xét,bàn bạc đi đến sự thống nhất làm căn cứ soạn thảo hợp

số hàng hoá theo những điều kiện nhất đònh về giá cả ,thời gian giao
hàng ,phương thức thanh toán.Đây chỉ là lời đề nghò ký kết hợp đồng và
hai bên chưa có gì ràng buộc.
2.2. Đàm phán và ký kết
Nội dung gồm có:
-Hỏi giá: Là việc bên mua đề nghò cho bên bán biết các điều khoản
bán hàng như giá cả, thời gian giao hàng ,điều kiện thanh toán
-Báo giá: Khi đã báo giá tức là đã có sự cam kết của người bán với
giá đó và kèm theo các điều khoản trong thư báo giá mà người mua
không có quyền từ chối.
-Chào hàng: Là đề nghò của bên bán gửi cho bên mua biểu thò
muốn bán một số hàng nhất đònh theo những điều khoản nhất đònh.
19
-Đặt hàng : Là lời đề nghò ký kết hợp đồng của người mua dưới
hình thức đơn đặt hàng.
-Hoàn giá: Khi nhận được đơn đặt hàng hoặc chào hàng, nếu không
chấp nhận hoàn toàn nội dung trong đó thì một trong hai bên đưa ra đề
nghò mới gọi là hoàn giá và chào hàng hay đặt hàng cũ bò huỷ bỏ.
-Chấp nhận: Là người được chào hàng hay báo giá đồng ý hoàn
toàn với đơn chào hàng hay báo giá đó.
-Xác nhận: Là khảng đònh sự thoả thuận mua bán bằng văn bản xác
nhận của bên mua hoặc bên bán hoặc cả hai bên.
3. Thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu uỷ thác
Đây là bước cuối cùng trong số các nghiệp vụ của người nhận uỷ
thác .Nếu như không có tranh chấp xảy ra bởi thực hiện hợp đồng xuất
nhập khẩu nó cũng đồng thời kết thúc việc thực hiện hợp đồng uỷ
thác.Việc tực hiện hợp đồng là một công việc phức tạp đòi hỏi phải tuân
thủ pháp luật quốc gia và giữ chữ tín cho đơn vò mình đồng thời phải tiết
kiệm chi phí ,nâng cao doanh lợi và hiệu quả công việc.
4. Bàn giao hàng hoá cho bên uỷ thác, thu phí uỷ thác và thanh

không có hiệu lực.
Chủ thể là doanh nghiệp nước ngoài cũng phải hợp pháp. Nếu
không may ký kết với doanh nghiệp nước ngoài, sau đó mới phát hiện
doanh nghiệp này không phải là chủ thể hợp pháp thì cần phải tuyên bố
hợp đồng vô hiệu để khỏi phải thực hiện hợp đồng. Bởi vì nếu vẫn tiếp
tục thực hiện hợp đồng có khi sẽ bò thiệt hại và có đòi được tiền thì cũng
mất rất nhiều thời gian và chi phí.
-Hình thức của hợp đồng Nhập Khẩu uỷ thác phải hợp pháp:
Tuỳ theo luật pháp của các nước quy đònh hình thức của hợp đồng
có thể bằng miệng, bằng văn bản, hoặc bằng bất kỳ hình thức nào khác
hay hình thức của hợp đồng bắt buộc phải được lập thành văn bản. Công
ước Viên 1980 trong Điều 11 có quy đònh rằng: Hợp đồng mua bán
ngoại thương có thể được ký kết bằng miệng và không phải tuân thủ bất
kỳ yêu cầu nào khác về mặt hình thức của hợp đồng, nhưng ở Điều 96
thì lại cho phép các quốc gia bảo lưu không áp dụng Điều 11 nếu luật
pháp quốc gia quy đònh hình thức mua bán bằng văn bản là bắt buộc đối
với hợp đồng mua bán ngoại thương.
Luật pháp Việt Nam quy đònh, hợp đồng mua bán ngoại thương
phải được ký kết bằng văn bản mới có hiệu lực. Ngoài ra nó còn quy
21
đònh cụ thể thêm rằng: mọi sửa đổi, bổ xung mua bán hợp đồng ngoại
thương cũng phải được làm bằng văn bản(thư từ, điện tín, fax, telex cũng
được coi là văn bản). Mọi hình thức thoả thuận bằng miệng đều được coi
là không hợp pháp và không có giá trò. Vì vậy, khi ký kết một hợp đồng
nhập khẩu(uỷ thác), các doanh nghiệp Việt Nam phải nhất thiết ký kết
hợp đồng bằng văn bản, nếu không hợp đồng đó được coi là không hợp
pháp và người nhập khẩu sẽ phải gánh chòu những rủi ro pháp lý phát
sinh.
- Nội dung của hợp đồng nhập khẩu uỷ thác phải hợp pháp:
Thứ nhất, nội dung của hợp đồng hợp pháp khi hợp đồng có đủ các

V. CÁC ĐIỀU KHOẢN CHỦ YẾU CỦA MỘT HP ĐỒNG
NHẬP KHẨU (UỶ THÁC)
- Tên hàng: Tên hàng là điều khoản quan trọng của mọi đơn chào
hàng ,thư hỏi hàng hợp đồng hoặc nghò đònh thư. Nó nói nên chính xác
đối tượng trao đổi, mua bán. Vì vậy người ta luôn tìm cánh diễn đạt
chính xác tên hàng
Có những cách sau đây để diễn đạt tên hàng :
+ Người ta ghi tên thương mại của hàng hoá nhưng còn ghi kèm
theo tên thông thường và tên khoa học của nó .
+ Người ta ghi tên hàng kèm theo tên đòa phương sản xuất ra nó .
+ Người ta ghi tên hàng kèm theo nhãn hiệu của nó.
+ Người ta ghi tên hàng kèm theo công dụng của hàng đó .
+ Người ta ghi tên hàng kèm theo mã số của hàng hoá đó .
- Điều khoản số lượng nêu rõ:
+ Đơn vò đo lường (dựa vào tập quán quốc tế ).
+ Phương pháp xác đònh số lượng : thường có 2 cách:
Một là bên bán và bên mua quy đònh cụ thể số lượng hàng hoá giao
dòch. Phương pháp này thường được dùng với những hàng tính bằng cái,
chiếc.Hai là bên bán và bên mua quy đònh một cánh phỏng chừng về số
lượng hàng hoá giao dòch. Điều khoản này thường áp dụng đối với
những mặt hàng có khối lượng lớn như ngũ cốc, than, quặng, dầu mỏ.
Đó là do việc sản xuất những mặt hàng đó có quy mô lớn ,do việc cân
đo hàng đó khó đảm bảo chính xác tuyệt đối và còn do khó khăn trong
việc tìm phương tiện chuyên chở cho phù hợp với mặt hàng.Cho nên đối
với những mặt hàng này việc quy đònh dung sai về số lượng cho phép
tránh được những khó khăn trong khi thực hiện hợp đồng.
+ Phương pháp xác đònh trọng lượng: người ta thường dùng những
phương pháp sau đây :
.Trọng lượng cả bì: đó là trọng lượng của hàng hoá cùng với trọng
lượng của các loại hàng hoá bao bì đó.

hàng và việc thông báo giao hàng .
+Thời hạn giao hàng: thời hạn giao hàng là thời hạn mà người
bánphải hoàn thành nghóa vụ giao hàng.Thông thường có ba kiểu quy
đònh thời hạn giao hàng như sau:
.Thời hạn giao hàng có đònh kỳ.
.Thời hạn giao hàng ngay.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status