Vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế để hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp trong điều kiện ở Việt Nam - Pdf 14

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO
TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH

LÊ HOÀNG PHÚC
VẬN DỤNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ
ĐỂ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH
DOANH NGHIỆP TRONG ĐIỀU KIỆN Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO
TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH

LÊ HOÀNG PHÚC
VẬN DỤNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ
ĐỂ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH
DOANH NGHIỆP TRONG ĐIỀU KIỆN Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : KẾ TOÁN
Mã số : 62343001
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học :
PGS.TS VÕ VĂN NHỊ
TP.HCM, năm 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
số liệu và nội dung trong luận án là trung thực. Kết quả của luận án chưa
từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào.
Tác giả luận án

10
10
11
12
14
14
14
20
21
21
28
1.3. Nội dung Báo cáo tài chính
1.3.1. Các yếu tố và ghi nhận các yếu tố của báo cáo tài chính
1.3.1.1. Theo Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế
1.3.1.2. Theo Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Mỹ
1.3.2. Nội dung của báo cáo tài chính
1.3.2.1. Báo cáo tài chính theo Chuẩn mực kế toán quốc tế
1.3.2.2. Báo cáo tài chính doanh nghiệp tại Mỹ, Pháp và
Trung Quốc
1.3.3. Nhận xét về Nội dung báo cáo tài chính
1.4. Áp dụng Chuẩn mực kế toán quốc tế đối với báo cáo
tài chính tại các quốc gia và kinh nghiệm cho Việt Nam
1.4.1. Tóm tắt quá trình phát triển và khái quát nội dung của
chuẩn mực kế toán quốc tế
1.4.1.1.Tóm tắt quá trình phát triển chuẩn mực kế toán
quốc tế
1.4.1.2. Khái quát nội dung của chuẩn mực kế toán
quốc tế
1.4.2. Thực trạng áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế đối với
báo cáo tài chính tại các quốc gia

2.1.1. Giai đoạn trước năm 1995
2.1.2. Giai đoạn từ năm 1995 đến nay
2.2. Hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp Việt Nam
hiện hành
2.2.1. Đặc điểm của các nhân tố tác động đến hệ thống báo cáo
tài chính doanh nghiệp ở Việt Nam
2.2.2. Mục đích, yêu cầu, nguyên tắc soạn thảo báo cáo
tài chính
2.2.3. Kết cấu, nội dung hệ thống báo cáo tài chính doanh
nghiệp hiện hành
62
63
66
66
73
76
2.3. Đánh giá thực trạng và vấn đề cần giải quyết đối với
hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp Việt Nam
2.3.1. Đối chiếu một số nội dung của hệ thống báo cáo tài
chính theo quy định của Việt Nam với IASB
2.3.1.1. Các nội dung tương đồng
2.3.1.2. Các nội dung khác nhau
2.3.2. Một số ý kiến của doanh nghiệp, nhà đầu tư và
chuyên gia về hệ thống báo cáo tài chính hiện hành
2.3.2.1. Ý kiến của một số doanh nghiệp, nhà đầu tư
2.3.2.2. Ý kiến của chuyên gia
2.3.3. Đánh giá thực trạng hệ thống báo cáo tài chính
doanh nghiệp Việt Nam
2.3.3.1. Ưu điểm
2.3.3.2. Hạn chế

3.2.1.2. Điều chỉnh, bổ sung kết cấu, nội dung hệ thống
Báo cáo tài chính hiện hành
3.2.1.3. Xây dựng hệ thống báo cáo tài chính linh hoạt
trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
3.2.2. Các giải pháp dài hạn phát triển, hoàn thiện hệ thống
Báo cáo tài chính doanh nghiệp Việt Nam
3.2.2.1. Định hướng sử dụng Giá trị hợp lý trong định giá
các yếu tố của báo cáo tài chính
3.2.2.2. Định hướng ghi nhận và báo cáo nguồn lực tri thức
doanh nghiệp trên báo cáo tài chính
3.2.2.3. Định hướng ghi nhận và báo cáo
trách nhiệm
xã hội doanh nghiệp trên báo cáo tài chính
3.2.3. Lộ trình thực hiện các giải pháp hoàn thiện hệ thống
báo cáo tài chính
3.3. Một số kiến nghị hỗ trợ cho việc hoàn thiện hệ thống
Báo cáo tài chính doanh nghiệp Việt Nam
123
123
123
127
136
140
140
152
161
169
173
3.3.1. Đối với Nhà nước, cơ quan chức năng quản lý về kế
toán kiểm toán và công bố thông tin trên thị trường

VAS Chuẩn mực kế toán Việt Nam
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 : Các đặc điểm chất lượng của thông tin tài chính hữu ích theo IASB
và FASB
Bảng 1.2 : T
ác động của các giá trị văn hóa đến giá trị kế toán
Bảng 1.3 : Tình hình sử dụng IAS/IFRS tại các quốc gia đến tháng 06/2013
Bảng 2.1: Đối chiếu mục đích, đặc điểm chất lượng, ghi nhận các yếu tố và
nguyên tắc soạn thảo, trình bày BCTC giữa VAS và IAS/IFRS
Bảng 2.2 : Đối chiếu hệ thống báo cáo, các BCTC cơ bản giữa VAS và
IAS/IFRS
Bảng 2.3 : Đối chiếu nội dung một số khoản mục chủ yếu trên BCTC giữa VAS
và IAS/IFRS
Bảng 2.4 : Thống kê mô tả kết quả khảo sát doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Bảng 2.5 : So sánh việc ghi nhận giá trị các nguồn
lực
tri thức trong cơ cấu
tài sản vô hình của doanh
nghiệp giữa VAS và IAS/IFRS
Bảng 3.1 : Các thành phần và thuộc tính của nguồn lực tri thức
Bảng 3.2 : Các thành phần và thuộc tính chủ yếu của nguồn lực tri thức trình
bày trên BCTC doanh nghiệp Việt Nam
Bảng 3.3 : Nội dung cơ bản của Báo cáo trách nhiệm xã hội doanh nghiệp
Việt Nam
Bảng 3.4 : Các yếu tố trình bày trên báo cáo trách nhiệm xã hội doanh nghiệp
Việt Nam
Bảng 3.5 : Hệ thống chỉ số đánh giá trách nhiệm xã hội doanh nghiệp Việt Nam
Bảng 3.6 : Lộ trình phát triển và hoàn thiện hệ thống BCTC doanh nghiệp
Việt Nam.
DANH MỤC HÌNH

tiếp cận với thông lệ quốc tế trên cơ sở thực tiễn của Việt Nam, có sự cải cách,
khá đầy đủ và có tính hệ thống. Tuy nhiên, trong giai đoạn hội nhập quốc tế về
kinh tế và kế toán mạnh mẽ như hiện nay, tính hữu ích của thông tin kế toán
- 2 -
không chỉ giới hạn trong phạm vi quốc gia, các tiêu chuẩn chất lượng và công bố
thông tin phải được tiếp cận theo thông lệ quốc tế, hệ thống BCTC hiện nay đã
bộc lộ những tồn tại chưa được giải quyết, từ những vấn đề cụ thể như đo lường,
ghi nhận, đến việc củng cố các luận cứ khoa học, làm cơ sở vững chắc, ổn định
cho việc ban hành các chuẩn mực kế toán, đánh giá chất lượng BCTC. Cơ sở định
giá, đặc điểm chất lượng và nguyên tắc lập BCTC chưa được quy định đầy đủ,
thiếu tính đồng bộ, chưa phù hợp với chuẩn mực kế toán và thông lệ quốc tế; hệ
thống BCTC mang tính khuôn mẫu, thiếu sự linh hoạt; hệ thống báo cáo, một số
nội dung, khoản mục trên BCTC chưa đầy đủ, hoặc chưa phù hợp với chuẩn mực
kế toán và thông lệ quốc tế; chưa đề cập hoặc quy định việc ghi nhận và trình bày
nguồn lực tri thức, trách nghiệm xã hội doanh nghiệp trên báo cáo… Những hạn
chế này có nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau, ảnh hưởng đáng kể đến
tính hữu ích và quá trình hội nhập quốc tế của hệ thống BCTC.
Trên thế giới, có nhiều nghiên cứu liên quan đến BCTC, cũng như việc áp
dụng chuẩn mực kế toán quốc tế đối với hệ thống BCTC tại các quốc gia. Tuy
nhiên, hầu như chưa có một nghiên cứu có hệ thống liên quan trực tiếp đến việc
đánh giá và hoàn thiện hệ thống BCTC doanh nghiệp ở Việt Nam trong điều kiện
hội nhập quốc tế về kinh tế và kế toán.
Ở Việt Nam, gần đây, có một số nghiên cứu chuyên sâu về BCTC doanh
nghiệp. Nghiên cứu của Nguyễn Phúc Sinh (2008) đã tiếp cận với các luận điểm
về hệ thống BCTC doanh nghiệp của IASB, FASB nhằm đưa ra giải pháp nâng
cao tính hữu ích của hệ thống BCTC doanh nghiệp Việt Nam. Nghiên cứu của
Nguyễn Thị Kim Cúc (2009) đã nhận định lại về khung pháp lý cho việc lập và
trình bày BCTC doanh nghiệp, tương thích với quy mô và cơ cấu tổ chức của các
loại hình doanh nghiệp. Nghiên cứu của Nguyễn Đình Hùng (2010) đề cập đến
việc kiểm soát sự minh bạch thông tin tài chính công bố của các công ty niêm yết

đề xuất các giải pháp ngắn hạn, giải pháp dài hạn hoàn thiện hệ thống BCTC
doanh nghiệp Việt Nam trên cơ sở vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế,
nâng cao tính hữu ích của BCTC, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
Các quan điểm, phương hướng và giải pháp được xây dựng trên cơ sở
đã phân tích, tổng hợp, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về hệ thống BCTC doanh
nghiệp theo chuẩn mực kế toán và thông lệ quốc tế, thực trạng áp dụng chuẩn
mực kế toán quốc tế đối với hệ thống BCTC tại các quốc gia và bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam, cũng như trên cơ sở nhận diện các đặc điểm về môi
trường kế toán tại Việt Nam, ưu điểm, hạn chế và các vấn đề cần giải quyết đối
với hệ thống BCTC doanh nghiệp hiện hành.
3. Phạm vi, nội dung nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận án được xác định trong khuôn khổ BCTC
riêng của các loại hình doanh nghiệp, không bao gồm các ngân hàng và các tổ
chức tài chính tương tự.
Phạm vi chuẩn mực kế toán quốc tế được vận dụng để hoàn thiện hệ thống
BCTC bao gồm các IAS/IFRS liên quan trực tiếp đến trình bày và công bố thông
tin BCTC, không bao gồm toàn bộ các IAS/IFRS hiện có.
Luận án tập trung vào các nội dung sau:
(1) Lý luận về hệ thống BCTC doanh nghiệp theo chuẩn mực kế toán và
thông lệ quốc tế;
(2) Thực trạng áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế đối với hệ thống
BCTC tại các quốc gia và kinh nghiệm cho Việt Nam;
(3) Quá trình phát triển của hệ thống BCTC Việt Nam qua các thời kì;
- 5 -
(4) Đánh giá thực trạng hệ thống BCTC Việt Nam hiện hành trên cơ sở đối
chiếu hệ thống BCTC theo quy định của Việt Nam với hệ thống BCTC theo quy
định của IASB, ý kiến của các doanh nghiệp, nhà đầu tư và chuyên gia về hệ
thống BCTC doanh nghiệp, các nhân tố môi trường kế toán, cũng như yêu cầu
của quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam.
(5) Quan điểm, phương hướng, mục tiêu hoàn thiện hệ thống BCTC

lý luận về hệ thống BCTC doanh nghiệp theo chuẩn mực kế toán và thông lệ
quốc tế; mô tả, lý giải, làm rõ những vấn đề tồn tại của hệ thống BCTC hiện hành
và xác định vấn đề cần phải giải quyết, phương hướng và giải pháp thực hiện.
- Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh,
phương pháp tư duy đã được sử dụng kết hợp theo từng nội dung và mục tiêu cụ
thể của luận án. Theo đó, phương pháp phân tích, tổng hợp đã được sử dụng để
hệ thống hóa cơ sở lý luận, đưa ra nhận xét về hệ thống BCTC doanh nghiệp theo
chuẩn mực kế toán và thông lệ quốc tế và quá trình áp dụng chuẩn mực kế toán
quốc tế tại các quốc gia, kinh nghiệm cho Việt Nam. Phương pháp so sánh được
sử dụng để đối chiếu hệ thống BCTC theo quy định của Việt Nam với hệ thống
BCTC theo quy định của IASB, giữa thực trạng hệ thống BCTC với những yêu
cầu của quá trình hội nhập quốc tế. Phương pháp tư duy được sử dụng phối hợp
với phương pháp chuyên gia, phương pháp tổng hợp để xác định vấn đề cần giải
quyết, xây dựng phương hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống BCTC.
- Phương pháp chuyên gia: Tác giả tiến hành phỏng vấn để thu thập ý
kiến các chuyên gia về kế toán và BCTC doanh nghiệp. Các ý kiến trả lời được
tổng hợp, lý giải, làm cơ sở hoặc củng cố cho nhận định về hệ thống BCTC
doanh nghiệp Việt Nam.
- 7 -
- Phương pháp điều tra: Tiến hành khảo sát bằng các phiếu điều tra đối với
một số doanh nghiệp và nhà đầu tư. Thang đo Likert được sử dụng để đo lường
các mức độ đánh giá. Thực hiện thống kê mô tả kết quả điều tra và phân tích
phương sai Anova một yếu tố để kiểm tra về sự khác biệt trong kết quả đánh giá
giữa các nhóm đối tượng. Kết hợp kết quả với những dữ liệu thứ cấp khác để
diễn giải, so sánh, nhằm tạo ra cơ sở tham khảo hữu ích cho những nhận định,
đánh giá.
Như vậy, phương pháp định tính, với những tổng hợp, lý giải, đánh giá các
thông tin, là phương pháp được sử dụng chủ yếu, nhằm diễn giải hoặc quy nạp
theo các chủ điểm về nội dung và mục tiêu đã được thiết kế của luận án. Các
phân tích và đánh giá được thực hiện bằng những lý luận khách quan, theo các

- Chương 1 : Cơ sở lý luận về Báo cáo tài chính doanh nghiệp.
- Chương 2 : Đánh giá thực trạng hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp
Việt Nam.
- Chương 3 : Giải pháp hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp
Việt Nam.
Ngoài ra, luận án còn có 17 Phụ lục để minh họa hoặc mô tả chi tiết một số
nội dung của luận án.
- 9 -
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1. Bản chất của Báo cáo tài chính
1.1.1. Khái niệm Báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính (Financial statements) là sản phẩm của kế toán tài chính,
là đầu ra của hệ thống thông tin kế toán, phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình
hình tài chính, kết quả tài chính của doanh nghiệp. BCTC cung cấp các thông tin
về tình hình tài chính, kết quả tài chính và các luồng tiền của doanh nghiệp, đáp
ứng yêu cầu của số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định
kinh tế, nó cũng cho thấy kết quả quản lý của ban giám đốc đối với các nguồn lực
được giao phó cho họ (IASB, 2012).
Để đáp ứng mục tiêu này, BCTC trình bày thông tin về: tài sản, nợ phải
trả, vốn chủ sở hữu, thu nhập và chi phí, bao gồm cả lãi và lỗ, khoản góp vốn của
chủ sở hữu và phân phối cho chủ sở hữu, các dòng tiền. Thông thường, một hệ
thống BCTC bao gồm: báo cáo tình hình tài chính, báo cáo thu nhập; báo cáo vốn
chủ sở hữu; báo cáo lưu chuyển tiền và thuyết minh BCTC.
Có nhiều cách thức và khía cạnh khác nhau trong việc tiếp cận với BCTC.
Chẳng hạn, khi xem xét dưới góc độ khoa học kế toán, thì BCTC được xem là kết
quả của phương pháp tổng hợp - cân đối. Khi xem xét dưới góc độ các yếu tố của
một hệ thống thông tin kế toán thì BCTC được xem là đầu ra của hệ thống này,
được xử lý và cung cấp bởi quy trình kế toán tài chính. Khi đề cập đến lợi ích của

điểm mạnh và điểm yếu về tình hình tài chính của doanh nghiệp. Những thông tin
này có thể giúp người sử dụng đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp,
cũng như nhu cầu bổ sung nguồn lực tài chính (IASB, 2010a).
Thông tin về kết quả kinh doanh của doanh nghiệp giúp người sử dụng đánh
giá được các khoản thu nhập tạo ra từ việc sử dụng các nguồn lực kinh tế. Thông
tin này giúp đánh giá trách nhiệm quản lý trong việc sử dụng có hiệu quả nguồn
lực của doanh nghiệp. Thông tin về kết quả kinh doanh, cũng như sự thay đổi và
các yếu tố cấu thành của các khoản thu nhập cũng quan trọng trong việc đánh giá
- 11 -
khả năng tạo tiền trong quá khứ và tương lai của doanh nghiệp.
Thông tin về lưu chuyển tiền trong một kỳ của doanh nghiệp giúp người sử
dụng đánh giá khả năng doanh nghiệp tạo ra dòng tiền thuần trong tương lai. Nó
chỉ ra phương thức doanh nghiệp tạo ra và chi tiêu tiền, bao gồm thông tin về vay
và trả nợ, cổ tức bằng tiền hoặc phân phối bằng tiền khác cho các nhà đầu tư, và
các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Thông tin về dòng tiền “giúp người sử dụng dụng hiểu rõ về hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp, đánh giá hoạt động đầu tư và tài chính, ước tính tính
thanh khoản, khả năng thanh toán và giải thích các thông tin về kết quả hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp” (IASB, 2010a, p.OB20).
Theo IAS 1- Trình bày BCTC (IASB hiệu chỉnh tháng 05/2012), mục đích
của BCTC là cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, kết quả tài chính và
các luồng tiền của doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu của số đông những người sử
dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế. BCTC cũng báo cáo kết quả đạt
được trên cương vị quản lý của ban giám đốc đối với các nguồn lực được giao
phó. Để đáp ứng mục tiêu này, BCTC trình bày thông tin về: tài sản, nợ phải trả,
vốn chủ sở hữu, thu nhập và chi phí, khoản góp vốn và phân phối cho chủ sở hữu,
lưu chuyển tiền tệ, cùng với những thông tin thuyết minh.
1.1.2.2. Theo Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Mỹ (FASB)
Mở đầu Chương Mục đích của BCTC trong Khái niệm kế toán tài chính số
8 - Statement of Financial Accounting Concepts No.8 (SFAC 8), FASB khẳng

thể yêu cầu doanh nghiệp cung cấp thông tin trực tiếp mà phải dựa vào BCTC
cho nhiều thông tin tài chính mà họ cần. Vì vậy, họ là những người sử dụng chính
mà BCTC hướng tới.
Các quyết định của nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng về việc mua, bán hoặc
nắm giữ cổ phiếu và công cụ nợ phụ thuộc vào thu nhập mà họ mong đợi từ việc
đầu tư, ví dụ như cổ tức, các khoản thanh toán nợ gốc và lãi hoặc sự gia tăng giá
trị thị trường. Tương tự như vậy, quyết định của người cho vay và các chủ nợ
khác về việc cung cấp các khoản cho vay và các hình thức tín dụng khác phụ
thuộc vào các khoản thanh toán nợ gốc và lãi hoặc các khoản thu nhập khác mà
họ mong đợi. Kỳ vọng của các các nhà đầu tư, người cho vay và các chủ nợ khác
- 13 -
về lợi nhuận phụ thuộc vào đánh giá của họ về giá trị, thời gian và triển vọng của
dòng lưu chuyển tiền thuần trong tương lai. Do vậy, các nhà đầu tư hiện tại và
tiềm năng, người cho vay và các chủ nợ khác cần thông tin để giúp họ đánh giá
triển vọng lưu chuyển tiền thuần trong tương lai của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, BCTC không thể cung cấp tất cả thông tin mà nhà đầu tư,
người cho vay và chủ nợ khác cần. Những người sử dụng cần phải xem xét thông
tin cần thiết từ các nguồn khác, chẳng hạn, điều kiện và triển vọng của nền kinh
tế, sự kiện, môi trường chính trị, công nghệ, tương lai doanh nghiệp. BCTC
không được thiết kế để trình bày thông tin về giá trị doanh nghiệp nhưng chúng
cung cấp thông tin giúp nhà đầu tư, người cho vay và các chủ nợ khác ước tính
giá trị doanh nghiệp (IASB, 2010a).
IFRS Framework cũng lưu ý rằng, các bên liên quan khác như cơ quan
quản lý, tổ chức, công chúng không phải là những nhà đầu tư, chủ nợ cũng có
thể tìm thấy thông tin hữu ích trên BCTC, mặc dù BCTC không phục vụ trực
tiếp cho những nhóm đối tượng này.
Ở một khía cạnh khác, khi tiếp cận vai trò của BCTC dưới góc độ
yêu cầu pháp lý của việc cung cấp thông tin, thì vai trò của BCTC được thể hiện
thông qua trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc soạn thảo BCTC và công bố
thông tin. Chẳng hạn, các nội dung trình bày trên BCTC nộp cho cơ quan thống

được trình bày trên BCTC. Chính xác hơn, chính những tính chất đặc trưng của
thông tin trên BCTC đã làm cho nó trở nên hữu ích qua việc thông tin được quan
tâm, được tin cậy và sử dụng để mang lại lợi ích.
Để có thể cung cấp thông tin hữu ích, BCTC cần thỏa mãn các đặc điểm
chất lượng. Các đặc điểm chất lượng của thông tin tài chính hữu ích trình bày
dưới đây là theo kết quả của một dự án hội tụ giữa IASB và FASB. Nói cách
khác, các đặc điểm chất lượng của thông tin tài chính hữu ích là tương đồng theo
quan điểm của IASB và FASB (Chương 3 trong IFRS Framework và Chương 3
trong SFAC 8). Theo đó, các đặc điểm chất lượng của thông tin tài chính hữu ích
là các đặc tính thông tin có thể hữu ích nhất cho nhà đầu tư, người cho vay và chủ
nợ khác trong việc ra quyết định về doanh nghiệp trên cơ sở thông tin trên BCTC
(IASB, 2010a).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status