Biện pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn kinh doanh tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam (VIB) chi nhánh Hải Phòng - Pdf 14

Luận văn tốt nghiệp

Trang: 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
o0o
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đề tài: Biện pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn
kinh doanh tại Ngân hàng Thương mại cổ phần
Quốc tế Việt Nam (VIB) chi nhánh Hải Phòng

Luận văn tốt nghiệp

Trang: 2

MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN KINH DOANH & HIỆU QUẢ HUY
ĐỘNG VỐN CỦA NHTM.
1.1. Tổng quan về vốn của NHTM 8
1.1.1. Khái niệm và đặc trưng của Vốn kinh doanh 8
1.1.2. Phân loại vốn 9
1.1.3. Nguồn hình thành vốn 10
1.2. Huy động vốn trong Ngân hàng 14
1.2.1. Các phương thức huy động vốn 14

QUẢ CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI NHTM CP QUỐC TẾ VIỆT NAM
CHI NHÁNH HẢI PHÒNG.
1. Định hướng phát triển tại VIB Bank chi nhánh Hải Phòng trong giai đoạn 2012
-
2015 76
2. Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tại NHTM CP Quốc
tế Việt Nam chi nhánh Hải Phòng 77
3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tại NHTM CP Quốc tế
Việt Nam chi nhánh Hải Phòng 82
Kết luận
87
Tài liệu tham khảo
90 Luận văn tốt nghiệp

Trang: 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT.
1. NHTW Ngân hàng Trung ương
2. NHNN Ngân hàng nhà nước
3. NHTM Ngân hàng thương mại.
4. TCTD Tổ chức tín dụng.
5. VIB Bank Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam
6. MB Bank Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội
7. TSCĐ Tài sản cố định.
8. TSLĐ
Tài sản lưu động
9. TVHĐ Tổng vốn huy động
Luận văn tốt nghiệp

Trang: 6

LỜI NÓI ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài.

Bước sang năm 2012 nền kinh tế nước ta nói chung và ngành ngân hàng
nói riêng đang đứng trước những vận hội và thách thức lớn. Cùng với sự nghiệp
đổi mới đất nước, trong đó hệ thống các NHTM ở Việt Nam với vị trí là 1 trong
những mắt xích quan trọng cấu thành nên sự vận động nhịp nhàng của nền kinh
tế; đã có những bước phát triển vượt bậc: lớn mạnh cả về mọi mặt, kể cả số
lượng, quy mô và chất lượng. Trong những năm qua, hệ thống Ngân hàng
thương mại đã không ngừng được củng cố và phát triển, góp phần tích cực vào
thành tựu chung của công cuộc đổi mới. Nổi bật là đã góp phần tích cực huy
động vốn đẩy, mở rộng vốn đầu tư phục vụ có hiệu quả cho nhu cầu phát triển
kinh tế, xã hội, xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân đồng thời đẩy
lùi lạm phát phi mã, ổn định giá trị đồng tiền, ổn định nền kinh tế vĩ mô .
Hiện nay, đất nước ta đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây
dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong xu hướng hội
nhập kinh tế khu vực và thế giới. Một trong những vấn đề có vị trí quan trọng
hàng đầu mà chúng ta đang theo đuổi là vấn đề nguồn lực, vấn đề vốn - vấn đề
thuộc ''cơ sở hạ tầng mềm '' cho đầu tư phát triển. Đảng và Nhà nước ta đã chủ
trương “phát huy nội lực bên trong, nguồn vốn trong nước đóng vai trò quyết

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
_ Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác huy động vốn và hiệu quả huy
động vốn tại NHTM CP Quốc tế Việt Nam (VIB) chi nhánh Hải Phòng.
_ Phạm vi nghiên cứu là khảo sát hoạt động huy động vốn tại NHTM CP Quốc
tế Việt Nam (VIB) chi nhánh Hải Phòng trong 3 năm từ 2009 đến 2011.
Luận văn tốt nghiệp

Trang: 8

4. Phương pháp nghiên cứu.
_ Phương pháp quan sát.
_ Phương pháp thống kê.
_ Phương pháp chuyên gia.
5. Kết cấu của đề tài.
Ngoài phần mở đầu , kết luận , tài liệu tham khảo ,đề tài được chia làm 3
chương:

Chương 1 : Lý luận chung về Vốn kinh doanh và công tác huy động vốn
của NHTM.
Chương 2 : Thực trạng công tác huy động vốn tại NHTM CP Quốc tế Việt
Nam (VIB) chi nhánh Hải Phòng.
Chương 3 : Một số giải pháp và kiến nghị để đẩy mạnh công tác huy động
vốn tại của NHTM CP Quốc tế Việt Nam (VIB) chi nhánh Hải Phòng.


Trang: 10

* Đặc trưng của vốn kinh doanh.
- Vốn kinh doanh của ngân hàng là số tiền ứng trước cho hoạt động
kinh doanh của ngân hàng. Tất nhiên muốn có được lượng vốn đó, các ngân
hàng phải chủ động khai thác, thu hút vốn trên thị trường.
- Mục đích vận động của tiền vốn là sinh lời. Nghĩa là vốn ứng trước
cho hoạt động kinh doanh phải được thu hồi về sau mỗi chu kỳ kinh doanh, tiền
vốn thu hồi về phải lớn hơn số vốn đã bỏ ra.
1.1.2. Phân loại vốn.
1.1.2.1. Căn cứ vào nguồn hình thành.
* Vốn của chủ sở hữu của ngân hàng: Vốn mà chủ sở hữu của ngân hàng
phải ứng ra để mua sắm, xây dựng các tài sản cần thiết cho hoạt động kinh doanh
của ngân hàng. Vốn của chủ sở hữu khi mới thành lập chỉ có vốn điều lệ (nguồn
vốn kinh doanh). Vốn điều lệ là số vốn ghi trong điều lệ của ngân hàng. Trong
quá trình hoạt động vốn chủ sở hữu còn tăng thêm từ các quỹ của ngân hàng, lợi
nhuận chưa phân phối.
* Các khoản nợ phải trả bao gồm: nợ ngắn hạn & nợ dài hạn mà ngân
hàng có thể huy động được trong đó:
- Nợ ngắn hạn: chủ yếu bao gồm các khoản tiền gửi và tiền vay từ các tổ
chức tín dụng trong nước và tiền gửi của khách hàng.
- Nợ dài hạn: chủ yếu bao gồm chứng chỉ tiền gửi, vốn nhận từ chính
phủ, các tổ chức quốc tế và các tổ chức khác, nợ phải trả khác kể cả thuế chưa
nộp. Ngân hàng chủ yếu sử dụng nguồn vốn huy động này để cấp tín dụng sau
khi tạo lập dự trữ theo yêu cầu.

Luận văn tốt nghiệp

Trang: 11


của ngân hàng bao gồm: vốn chủ sở hữu, vốn huy động, vốn đi vay và một số
vốn khác.
1.1.3.1. Vốn chủ sở hữu.
Vốn chủ sở hữu là số vốn thuộc quyền sở hữu của NHTM, đó là nguồn
tiền được đóng góp chủ yếu bởi những người chủ ngân hàng. Vốn chủ sở hữu
của ngân hàng bao gồm nhiều loại khác nhau và được phân thành vốn cấp 1 và
vốn cấp 2. Trong đó: Vốn cấp 1 (vốn cơ bản) được xem là sức mạnh và tiềm lực
thực sự của ngân hàng; Vốn cấp 2 (vốn bổ sung) được giới hạn tối đa bằng 100%
vốn cấp 1. Theo các văn bản hiện hành của NHTW Việt Nam, vốn của NHTM
được xác định cụ thể như sau:
1.1.3.1.1. Vốn cấp 1.
Vốn cấp 1 bao gồm: vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và lợi nhuận không
chia. Trong đó:
- Vốn điều lệ là số vốn được ghi trong điều lệ hoạt động của NHTM.
Tùy theo hình thái sở hữu mà vốn điều lệ của NHTM được hình thành từ các
nguồn khác nhau: Đối với NHTM nhà nước, vốn điều lệ do ngân sách nhà nước
cấp khi thành lập và được bổ sung trong quá trình hoạt động; NHTM cổ phần,
vốn này do các cổ đông đóng góp; Chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động
tại Việt Nam, vốn điều lệ do ngân hàng mẹ ở nước ngoài cấp.
- Vốn điều lệ nhiều hay ít phụ thuộc vào khả năng tài chính của các
chủ sở hữu và ý đồ thành lập ngân hàng với quy mô hoạt động khác nhau. Vốn
điều lệ của mỗi ngân hàng phải lớn hơn hoặc tối thiểu bằng vốn pháp định, là số
vốn do Chính phủ quy định trong từng thời kỳ cho từng loại hình ngân hàng.
Luận văn tốt nghiệp

Trang: 13

- Các quỹ dự trữ gồm: quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng
tài chính, quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ. Các quỹ này được hình thành trong
quá trình hoạt động và được tích lũy theo thời gian để sử dụng cho các mục đích

năng không thể thay thế được trong hoạt động ngân hàng như: cung cấp nguồn
lực ban đầu để giúp ngân hàng mới thành lập hoạt động, cung cấp nền tảng cho
sự tăng trưởng và mở rộng, giúp ngân hàng chống lại rủi ro và duy trì niềm tin
của công chúng vào khả năng phát triển và quản lý của ngân hàng. Để đảm bảo
an toàn trong hoạt động kinh doanh, các ngân hàng phải duy trì tỷ lệ an toàn tối
thiểu là 8% giữa vốn chủ sở hũu với tài sản có rủi ro.
1.1.3.2. Vốn huy động.
Vốn huy động của NHTM dưới hình thức bằng tiền (nội tệ và ngoại tệ)
và bằng vàng được hình thành từ 2 bộ phận: Vốn huy động từ tiền gửi và vốn
huy động thông qua các giấy tờ có giá.
1.1.3.2.1. Vốn huy động từ tiền gửi.
Để huy động vốn, các ngân hàng đã cung cấp rất nhiều loại tiền gửi
khác nhau cho khách hàng lựa chọn. Mỗi công cụ huy động tiền gửi mà các ngân
hàng đưa ra đều có những đặc điểm riêng nhằm làm cho chúng phù hợp hơn với
nhu cầu của khách hàng trong tiết kiệm và thực hiện thanh toán. Căn cứ vào
nguồn hình thành, vốn tiền gửi của các NHTM bao gồm tiền gửi của tổ chức
kinh tế, tiền gửi của dân cư & tiền gửi khác.
a. Tiền gửi của tổ chức kinh tế.
- Tiền gửi không kì hạn.
Luận văn tốt nghiệp

Trang: 15

- Tiền gửi có kì hạn.
b. Tiền gửi của dân cư.
- Tiền gửi tiết kiệm.
- Tiền gửi thanh toán.
c. Tiền gửi khác.
1.1.3.2.2. Vốn huy động thông qua phát hành các giấy tờ có giá.
Đây là nguồn vốn mà NHTM có được thông qua phát hành các giấy tờ

hiện vào bất kì lúc nào, ngân hàng khó có thể xác định trước, nhưng trên thực tế
luôn tồn tại một số dư tiền gửi không kì hạn và ngân hàng có thể sử dụng để cho
vay. Lãi suất của loại tiền gửi này rất thấp, thậm chí có những khoản tiền ngân
hàng không phải trả lãi. Cho nên nguồn vốn này giúp ngân hàng hạ thấp chi phí
mua vốn, nâng cao khả năng cạch tranh trong cho vay và đầu tư.
- Tiền gửi có kì hạn.
Tiền gửi có kì hạn là loại tiền gửi có sự thỏa thuận về thời gian rút tiền.
Tiền gửi có kì hạn là loại tiền gửi mà chủ sở hữu nó chỉ có thể rút ra theo thời
hạn đã định, nên còn gọi là tiền gửi định kì. Nhiều khoản thu của doanh nghiệp
và các tổ chức xã hội sẽ được chi trả sau một khoảng thời gian nhất định. Tiền
gửi thanh toán tuy rất thuận tiện trọng hoạt động thanh toán song lãi suất lại thấp.
Để đáp ứng nhu cầu của người gửi tiền, ngân hàng đã đưa ra hình thức tiền gửi
có kỳ hạn. Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi được ủy thác vào ngân hàng trên cơ
sở có sự thỏa thuận về thời gian rút tiền giữa khách hàng và ngân hàng. Như vậy,
Luận văn tốt nghiệp

Trang: 17

theo nguyên tắc khách hàng ký thác chỉ được rút tiền ra khi đến hạn đã thỏa
thuận. Tuy nhiên trên thực tế do phải cạnh tranh để thu hút tiền gửi, các ngân
hàng thường cho phép khách hàng được rút trước hạn. Trong trường hợp này có
thể có hai cách giải quyết: hoặc khách hàng vay tiền của ngân hàng, sau đó khi
đến hạn rút tiền thì dùng số tiền và lãi thu được để trả nợ (cả gốc và lãi vay của
ngân hàng); hoặc là thỏa thuận với khách hàng rút tiền ra trước hạn và nhận lãi
suất thấp hơn.
Xét về tính chất, tiền gửi có kì hạn của doanh nghiệp là nguồn vốn kinh
doanh ổn định, NHTM có thể sử dụng 1 cách chủ động để cho vay. Vì vậy,
NHTM rất quan tâm và sử dụng nhiều biện pháp nghiệp vụ để huy động loại tiền
gửi này như: đưa ra nhiều kỳ hạn khác nhau phù hợp với thời gian nhàn rỗi ở các
đơn vị, quy định nhiều mức lãi suất thích hợp. Ngoài ra các NHTM còn thực

kiệm có kì hạn luôn được các NHTM trả cao, ngoài ra các NHTM còn đưa ra rất
nhiều chương trình khuyến mãi nhằm thu hút loại tiền gửi này như: tiết kiệm dự
thưởng trúng nhà, xe Tiền gửi được huy động một cách thường xuyên, liên tục
gắn liền với các hoạt động của ngân hàng.
- Tiền gửi thanh toán.
Các cá nhân trong xã hội cũng có nhu cầu và được pháp luật cho phép
thực hiện thanh toán qua ngân hàng. Khi đó họ cũng mở tài khoản tiền gửi thanh
toán tại ngân hàng và gửi tiền vào đó để đáp ứng nhu cầu thanh toán cũng như sử
dụng các tiện ích khác có liên quan của ngân hàng. Tiền gửi thanh toán cá nhân
là loại tiền gửi mà chủ tài khoản sử dụng để thanh toán tiền lương, tiền công,
chuyển khoản cho bên thứ 3 hoặc rút tiền mặt ở ATM của ngân hàng. Giống như
tiền gửi của các tổ chức kinh tế, tiền gửi tiết kiệm (kể cả không kì hạn và có kì
Luận văn tốt nghiệp

Trang: 19

hạn), tiền gửi thanh toán của dân cư tạo đã nên nguồn vốn hoạt động cho ngân
hàng.
c. Tiền gửi khác.
Ngoài hai loại tiền gửi trên tại các NHTM còn có thêm các khoản tiền
gửi khác như sau:
- Tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác: Nhằm mục đích nhờ thanh
toán hộ giữa các ngân hàng có quan hệ trên thị trường liên ngân hàng tạo thuận
tiện cho khách hàng, thực hiện nghiệp vụ đại lý, thanh toán tiền hàng NHTM
này có thể gửi tiền tại NHTM khác. Tuy nhiên quy mô nguồn này thường không
lớn do hình thức này chỉ được áp dụng trong trường hợp ngân hàng có nguồn
vốn tạm thời nhàn rỗi chưa đầu tư, cho vay hoặc hiệu quả việc đầu tư, cho vay
không hiệu quả bằng gửi tiền ở ngân hàng khác.
- Tiền gửi của Kho bạc nhà nước, các tổ chức đoàn thể xã hội
1.2.1.2. Vốn huy động thông qua phát hành các giấy tờ có giá.

được nguồn vốn chủ động với tính chất ổn định cao nhưng chi phí mà ngân hàng
bỏ ra cũng rất lớn. Do vậy ngân hàng phải có chính sách huy động vốn linh hoạt
để đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh trong ngắn hạn cũng như trong
dài hạn.
-

Phát hành trái phiếu: Trái phiếu ngân hàng thực chất là giấy nhận
nợ có kỳ hạn của ngân hàng đối với những người mua trái phiếu (nhà đầu tư).
Thời hạn của trái phiếu thường lớn hơn một năm. Lãi suất của trái phiếu thường
cao hơn lãi suất của tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu. Việc phát hành trái phiếu sẽ thu
hút được lượng tiền ổn định trong dài hạn do vậy phát hành trái phiếu chỉ được
Luận văn tốt nghiệp

Trang: 21

thực hiện khi ngân hàng thực sự cần một lượng vốn lớn hoặc khi ngân hàng đã
có kế hoạch sử dụng vốn để cho vay, trung dài hạn.
Với việc phát hành các giấy tờ có giá để huy động vốn, ngân hàng có
khả năng tập trung một khối lượng vốn lớn trong thời gian ngắn và hoàn toàn
chủ động trong việc sử dụng. Hình thức này thường được thực hiện khi ngân
hàng đã tiếp nhận được những dự án vay vốn lớn với thời hạn giải ngân nhanh
của khách hàng, hay sau khi đã cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn trong
toàn hệ thống mà vẫn còn thiếu và được sự đồng ý của Thống đốc ngân hàng
Nhà nước.
* Tóm lại, vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn (trên
80%) trong toàn bộ vốn kinh doanh của NHTM. Đây là nguồn vốn có ảnh hưởng
rất lớn đến chi phí và khả năng mở rộng kinh doanh của ngân hàng. Nguồn vốn
này có xu hướng ngày càng gia tăng, phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh
tế, trong điều kiện tái cơ cấu và nâng cao chất lượng dịch vụ của ngân hàng.
1.2.1.3. Vốn vay của các tổ chức tín dụng khác.

+ Số vốn trong thời gian đã trích khỏi tài khoản của người trả nhưng chưa
chuyển vào tài khoản của người hưởng do luân chuyển, xử lý chứng từ thanh
toán.
+ Số vốn trong thời gian khách hàng lưu ký tai ngân hàng nhưng chưa
thanh toán trong một số hình thức thanh toán như: séc bảo chi, thư tín dụng, thẻ
thanh toán, ký quỹ
Luận văn tốt nghiệp

Trang: 23

- Vốn ủy thác đầu tư, tài trợ của chính phủ hoặc các tổ chức trong và
ngoài nước cho các chương trình, dự án phát triển văn hóa, xã hội
1.2.2. Hiệu quả của công tác huy động vốn và sự cần thiết nâng cao hiệu quả
huy động vốn.
1.2.2.1. Hiệu quả của công tác huy động vốn của NHTM.
- Đối với các NHTM: Như đã đề cập trong tổng nguồn vốn của một
ngân hàng, vốn chủ sở hữu chỉ chiếm một phần rất nhỏ, còn đại bộ phận là
nguồn vốn huy động từ các đối tượng khác nhau. Phải có vốn huy động ngân
hàng mới có thể hoạt động bình thường và phát triển bởi chức năng chủ yếu của
nguồn vốn chủ sở hữu là bảo vệ an toàn và điều chỉnh hoạt động ngân hàng. Như
vậy trong quá trình hoạt động kinh doanh các ngân hàng dựa vào nguồn vốn chủ
sở hữu để đưa ra các quyết định kinh tế cho phù hợp với các qui định của luật
pháp. Còn nguồn vốn được sử dụng vào các hoạt động kinh doanh sinh lời của
một ngân hàng chính là từ vốn huy động. Nguồn vốn huy động càng nhiều ngân
hàng càng có khả năng cung ứng vốn kịp thời cho nền kinh tế từ đó thúc đẩy sự
tăng trưởng cũng như làm giàu cho ngân hàng. Như vậy chỉ với vốn huy động
ngân hàng mới có thể làm tốt chức năng trung gian tín dụng - chức năng quyết
định sự duy trì và phát triển của ngân hàng, đồng thời là cơ sở để thực hiện các
chức năng còn lại.
- Đối với nền kinh tế: Thông qua việc huy động vốn mà các NHTM đã

quan chặt chẽ với lãi suất tiền gửi các loại, lãi suất tiền gửi tiết kiệm các loại và
lãi suất các công cụ nợ do ngân hàng phát hành.
- Nguồn vốn huy động không những giúp cho ngân hàng bù đắp được
thiếu hụt trong thanh toán, tăng nguồn vốn trong kinh doanh mà thông qua huy
động vốn, ngân hàng nắm bắt được năng lực tài chính của khách hàng có quan
Luận văn tốt nghiệp

Trang: 25

hệ tín dụng với ngân hàng. Qua đó, ngân hàng có căn cứ để xác định mức vốn
đầu tư cho vay đối với những khách hàng đó hoặc có thể phát hiện kịp thời tệ
tham ô, trốn thuế, lừa đảo của các doanh nghiệp làm ăn không chính đáng. Từ đó
có biện pháp ngăn chặn và xử lý kịp thời.
- Cơ cấu nguồn vốn cũng ảnh hưởng trực tiếp tới cơ cấu cho vay của
NHTM. Vốn tự có của ngân hàng chỉ phát sinh khi nhu cầu thanh toán tín dụng
cấp bách còn ngân hàng cho vay chủ yếu bằng vốn huy động được. Nếu một
ngân hàng huy động được vốn trung và dài hạn thì có thể mở rộng nghiệp vụ tín
dụng đầu tư dài hạn. Nhưng hiện nay việc huy động vốn trung và dài hạn chưa
đáp ứng được nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế nên một ngân hàng có thể dùng
vốn hoạt động ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn nhưng không được vượt quá
một tỷ lệ nhất định vì điều đó sẽ dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán của
ngân hàng.
- Bản chất của ngân hàng là ''đi vay để cho vay'' hay nguồn vốn ngân
hàng huy động được lại là nguồn để các doanh nghiệp khác đi vay nên công tác
huy động vốn càng có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của ngân
hàng. Do vậy, công tác huy động vốn là một mảng hoạt động lớn của các NHTM
và nó quyết định rất lớn đến thành công hay thất bại trong kinh doanh của NH.
1.2.3. Đánh giá hiệu quả huy động vốn của ngân hàng.
1.2.3.1. Quan điểm về hiệu quả huy động vốn của ngân hàng.
Hiệu quả của công tác huy động vốn trong ngân hàng phải được đánh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status