Tính toán thiết kế hệ thống xử lý nước thải bệnh viện Nguyễn Trãi - Pdf 14

Đồ án tốt nghiệp GVHD : TS.Tôn Thất Lãng
Thiết kế hệ thống xử lý nước thải bệnh viện Nguyễn Trãi
CHƯƠNG 1 :
MỞ ĐẦU
MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Tại những thành phố lớn của các nước đang phát triển, song song với việc
phát triển kinh tế là vấn nạn ô nhiễm môi trường. Thành phố Hồ Chí Minh cũng
không phải là một trường hợp ngoại lệ, thành phố càng phát triển thì vấn đề ô
nhiễm môi trường càng khó kiểm soát. Hiện nay, Thành phố đang phải đối mặt
với nhiều vấn đề môi trường cấp bách như : ô nhiễm do khí thải, khói thải phát
sinh từ các hoạt động công nghiệp, giao thông, ô nhiễm do nước thải, rác thải sinh
hoạt, nước thải từ các nhà máy, xí nghiệp, bệnh viện… Trong đó, quản lý và xử lý
nước thải đang là vấn đề cần được quan tâm.
Hằng ngày, tại Thành phố Hồ Chí Minh, một khối lượng lớn nước thải
được thải ra từ nhiều nguồn khác nhau mà không qua xử lý hoặc chỉ là xử lý sơ
bộ, không đạt tiêu chuẩn. Tùy theo từng nguồn thải khác nhau mà tính chất nước
thải cũng khác nhau. Các nguồn thải chủ yếu là từ các cảng, các nhà máy, xí
nghiệp, cơ sở sản xuất, bệnh viện,… Nước thải từ các hoạt động công nghiệp chứa
nhiều kim loại nặng, và các hoá chất độc hại khác gây nguy hiểm cho môi
trường.
Bên cạnh đó, nước thải từ các bệnh viện, với các tính chất ô nhiễm đặc
trưng, đã và đang đe dọa đến sức khỏe con người và môi trường. Nước thải bệnh
viện nói chung có tính chất gần giống với nước thải sinh hoạt, nhưng xét về độc
tính thì loại nước thải này độc hại hơn nước thải sinh hoạt gấp nhiều lần. Trong
nước thải bệnh viện chứa một lượng lớn các chất khí như NH
3
, CO
2
, H
2

đối với các loại thuốc điều trò bệnh ung thư hoặc các sản phẩm chuyển hóa của
chúng nếu xả ra bên ngoài mà không được xử lý sẽ có khả năng gây quái thai,
ung thư cho những người tiếp xúc với chúng (các công nhân nạo vét cống thoát
nước là đối tượng có nguy cơ bò nhiễm độc loại chất thải này nhiều nhất).
Với tốc độ gia tăng dân số như hiện nay, mỗi ngày các bệnh viện trên đòa
bàn Thành phố phải tiếp nhận một số lượng bệnh nhân rất lớn, chưa kể đến lượng
bệnh nhân từ các bệnh viện tuyến dưới chuyển về. Lượng nước thải, rác thải cũng
SVTH : Nguyễn Ngọc Thu An
2
Đồ án tốt nghiệp GVHD : TS.Tôn Thất Lãng
Thiết kế hệ thống xử lý nước thải bệnh viện Nguyễn Trãi
từ đó mà tăng theo. Tuy nhiên, vấn đề xử lý khối lượng lớn nước thải, rác thải
này lại chưa được quan tâm đúng mức.
Một số bệnh viện và Trung tâm y tế đã nâng công suất phục vụ lên đáng
kể nhằm đáp ứng nhu cầu trong việc khám chữa bệnh tăng nhanh. Do đó, lượng
nước thải tại một số bệnh viện đã vượt công suất thiết kế của hệ thống xử lý.
Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng nước thải sau xử lý. Vì vậy,
việc tiến hành nghiên cứu, đánh giá ô nhiễm nguồn nước thải, thiết kế hệ thống
xử lý nước thải bệnh viện là công việc hết sức cần thiết.
Là một bệnh viện nằm ở trung tâm thành phố – bệnh viện Nguyễn Trãi đã
và đang mở rộng quy mô hoạt động nhằm đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức
khỏe của người dân. Trong khi đó, hệ thống xử lý nước thải của bệnh viện đã
khá cũ kỹ, và trở nên quá tải. Do đó, đề tài : “Thiết kế hệ thống xử lý nước thải
bệnh viện Nguyễn Trãi” được thực hiện nhằm thiết kế một hệ thống xử lý mới
phù hợp hơn so với hệ thống hiện nay.
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Đánh giá hiện trạng hệ thống xử lý nước thải của bệnh viện, từ đó đề xuất
quy trình công nghệ và tính toán thiết kế hệ thống xử lý nước thải cho bệnh viện
Nguyễn Trãi.
1.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

đã bò thay đổi tính chất ban đầu của chúng. Thông thường nước thải được phân
loại theo nguồn gốc phát sinh. Đây cũng là cơ sở cho việc lựa chọn công nghệ xử
lý nước thải. Theo cách phân chia này, có các loại nước thải sau :
• Nước thải sinh hoạt :
Đây là loại nước thải phát sinh từ quá trình sinh hoạt của con người như vệ
sinh, giặt giũ, chế biến thực phẩm,… tại các khu dân cư, khu vực hoạt động thương
mại, công sở, trường học, bệnh viện và các cơ sở tương tự khác. Thành phần của
loại nước thải này tương đối đơn giản, bao gồm các chất hữu cơ dễ phân hủy
(cacbon hydrat, protein, dầu mỡ,…), chất khoáng (photphat, nito, magie,…) và vi
sinh vật.
• Nước thải công nghiệp :
Nước thải công nghiệp là nước thải từ các nhà máy công nghiệp đang hoạt
động, có cả nước thải sinh hoạt như trong đó nước thải công nghiệp là chủ yếu.
Thành phần và tính chất nước thải công nghiệp rất đa dạng và phụ thuộc vào
nhiều yếu tố như : ngành nghề sản xuất, trình độ của dây chuyền sản xuất,
nguyên vật liệu, lưu lượng,…
SVTH : Nguyễn Ngọc Thu An
5
Đồ án tốt nghiệp GVHD : TS.Tôn Thất Lãng
Thiết kế hệ thống xử lý nước thải bệnh viện Nguyễn Trãi
• Nước thấm qua :
Đây là nước mưa thấm vào hệ thống cống bằng nhiều cách khác nhau qua
các khớp nối, các ống có khuyết tật hoặc thành của hố ga.
• Nước thải đô thò :
Nước thải đô thò là thuật ngữ chung chỉ chất lỏng trong hệ thống cống thoát
nước của thành phố. Đó là hỗn hợp của các loại nước thải trên.
2.1.2 Các tính chất đặc trưng của nước thải
2.1.2.1 Tính chất vật lý
• Màu :
Phát sinh từ nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp và sự phân rã tự

• Các chất lơ lửng :
Các chất rắn lơ lửng có thể dẫn đến việc tăng khả năng lắng bùn và điều
kiện kò khí khi thải nước thải không qua xử lý vào môi trường.
• Các chất hữu cơ phân hủy sinh học :
Gồm protein, cácbonhydrat và chất béo. Nếu thải trực tiếp vào môi trường,
quá trình ổn đònh sinh học của chúng có thể làm giảm lượng oxi trong nước tự
nhiên, làm cho nước có mùi vò.
• Các nhân tố gây bệnh :
Rất nhiều bệnh có thể lan truyền qua các vi khuẩn gây bệnh trong nước
thải.
• Các chất dinh dưỡng :
Nitơ, Photpho và Cacbon là những chất dinh dưỡng chính cho sự phát triển
của sinh vật. Khi thải chúng vào môi trường nước, các chất dinh dưỡng này có thể
dẫn đến sự phát triển ngoài ý muốn của vi sinh vật trong môi trường nước.
SVTH : Nguyễn Ngọc Thu An
7
Đồ án tốt nghiệp GVHD : TS.Tôn Thất Lãng
Thiết kế hệ thống xử lý nước thải bệnh viện Nguyễn Trãi
• Các chất hữu cơ trơ :
Các chất hữu cơ này không bò phân hủy bởi các phương pháp xử lý nước
thải thông thường.
• Kim loại nặng :
Các kim loại nặng thường nhiễm vào nguồn nước do các hoạt động công
nghiệp, chúng cần được khử ra khỏi nước thải.
• Các chất rắn vô cơ hoà tan :
Các thành phần vô cơ như Canxi, Natri, Sunfat có mặt trong nước thải sinh
hoạt từ quá trình sử dụng nước.
2.1.3 Nguyên tắc xả thải vào nguồn
Nguồn nước có thể được coi là một công trình làm sạch sinh học trong điều
kiện tự nhiên bởi nó có khả năng tự làm sạch. Tuy nhiên, nguồn nước cũng như

5,5 ≤ pH ≤ 8,5
6. Màu sắc Hỗn hợp nước thải và nước nguồn sau khi xáo trộn kỹ phải
không có màu khi nhìn qua cột nước cao :
20 cm 10 cm 5 cm
7. Vi trùng gây
bệnh
Cấm xả vào nguồn nước những loại nước thải chứa vi trùng
gây bệnh
8. Các chất độc hại Nước thải xả vào nguồn nước không mang tính độc hại
(Nguồn : Xử lý nước thải – PGS.TS Hoàng Huệ)
2.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NƯỚC THẢI
2.2.1 Phương pháp xử lý cơ học
Sử dụng phương pháp này nhằm mục đích tách các chất không hoà tan và
một phần các chất ở dạng keo ra khỏi nước thải. Những công trình xử lý cơ học
bao gồm :
SVTH : Nguyễn Ngọc Thu An
9
Đồ án tốt nghiệp GVHD : TS.Tôn Thất Lãng
Thiết kế hệ thống xử lý nước thải bệnh viện Nguyễn Trãi
• Song chắn rác :
Gồm các thanh đan sắp xếp với nhau ở trên mương dẫn nước. Đây là công
trình xử lý sơ bộ chuẩn bò điều kiện cho việc xử lý nước thải sau đó, nó có nhiệm
vụ chắn giữ các cặn bẩn có kích thước lớn hay ở dạng sợi được gọi chung là rác.
• Bể lắng cát :
Cát lắng lại trong bể lắng gây khó khăn cho công tác lấy cặn. Hơn nữa,
trong cặn có cát thì có thể làm cho các ống dẫn bùn của các bể lắng không hoạt
động được. Do đó, bể lắng cát được thiết kế nhằm tách các chất bẩn vô cơ có
trọng lượng riêng lớn hơn nhiều so với trọng lượng riêng của nước thải ra khỏi
nước thải. Có 3 loại bể lắng cát :
+ Bể lắng cát ngang nước chảy thẳng hoặc vòng.

đi qua lớp lọc đặc biệt hoặc lớp vật liệu lọc. Những loại vật liệu lọc có thể sử
dụng là cát thạch anh, than cốc hoặc sỏi nghiền, thậm chí cả than nâu, than bùn
than gỗ. Việc chọn vật liệu lọc phụ thuộc vào loại nước thải và điều kiện đòa
phương.
Phương pháp xử lý cơ học có thể loại bỏ được đến 60% các tạp chất không
hoà tan có trong nước thải sinh hoạt và giảm BOD đến 20%.
2.2.2 Phương pháp xử lý hóa lý và hóa học
Đưa vào nước thải các chất phản ứng nào đó để gây tác động với tạp chất
bẩn như : biến đổi hoá học, tạo thành chất khác dưới dạng cặn hoặc chất hoà tan
nhưng không độc hại hay gây ô nhiễm môi trường.
Tùy theo điều kiện đòa phương và yêu cầu vệ sinh mà phương pháp hóa lý
được chọn là giải pháp cuối cùng hoặc là giai đoạn xử lý sơ bộ cho các giai đoạn
xử lý tiếp theo.
SVTH : Nguyễn Ngọc Thu An
11
Đồ án tốt nghiệp GVHD : TS.Tôn Thất Lãng
Thiết kế hệ thống xử lý nước thải bệnh viện Nguyễn Trãi
2.2.2.1 Trung hòa
Nước thải thường có những giá trò pH khác nhau. Muốn nước thải xử lý tốt
bằng phương pháp sinh học phải tiến hành trung hòa và điều chỉnh pH về giá trò
6,6 – 7,6. Trung hòa bằng cách dùng các dung dòch axit hoặc muối axit, các dung
dòch kiềm để trung hòa dung dòch nước thải.
2.2.2.2 Keo tụ
Quá trình kết hợp các hạt lơ lửng, khi cho các hợp chất cao phân tử vào
nước, sự keo tụ được tiến hành nhằm thúc đẩy quá trình tạo bông hydroxit nhôm
và sắt với mục đích tạo thành những bông lớn hơn làm tăng vận tốc lắng. Chất
keo tụ có thể là hợp chất tự nhiên và tổng hợp.
2.2.2.3 Hấp phụ
Phương pháp hấp phụ được dùng để loại hết các chất bẩn hòa tan trong
nước mà các phương pháp xử lý sinh học và các phương pháp khác không loại bỏ

được dùng phổ biến để làm mềm nước, loại ion Ca
2+
, Mg
2+
ra khỏi nước cứng.
Các chất trao đổi ion là hợp chất hữu cơ tổng hợp rất phong phú. Chúng là
các cao phân tử, có bề mặt riêng lớn. Các loại nhựa tổng hợp cũng có tính chất
trao đổi ion.
2.2.2.6 Khử trùng
Loại bỏ các vi sinh vật gây bệnh. Các hóa chất thường dùng là : chlorine,
Dioxide, Bromide chloride, ozone,… Các hóa chất này tiêu diệt các vi sinh vật,
tảo, động vật nguyên sinh, giun sán… có trong nước thải.
2.2.3 Phương pháp xử lý sinh học
SVTH : Nguyễn Ngọc Thu An
13
Đồ án tốt nghiệp GVHD : TS.Tôn Thất Lãng
Thiết kế hệ thống xử lý nước thải bệnh viện Nguyễn Trãi
Xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học dựa trên hoạt động sống của vi
sinh vật, chủ yếu là vi khuẩn dò dưỡng hoại sinh có trong nước thải. Quá trình
hoạt động của chúng làm cho các chất hữu cơ gây nhiễm bẩn được khoáng hóa và
trở thành các chất vô cơ, các chất khí cơ bản và nước.
Vi sinh vật có trong nước thải sử dụng các hợp chất hữu cơ và một số chất
khoáng làm nguồn dinh dưỡng và tạo ra năng lượng. Quá trình dinh dưỡng làm
cho chúng sinh sản, phát triển, tăng số lượng tế bào (tăng sinh khối), đồng thời
làm sạch (có thể là gần hoàn toàn) các chất hữu cơ hòa tan hoặc các hạt keo phân
tán nhỏ.
Công trình xử lý sinh học được chia làm 2 nhóm :
• Công trình xử lý sinh học thực hiện trong điều kiện tự nhiên : cánh đồng
tưới, bãi lọc, hồ sinh học,… Quá trình xử lý diễn ra chậm, dựa chủ yếu vào
nguồn oxi và vi sinh có trong đất và nước.

- Không đòi hỏi nhiều vốn đầu tư.
- Bảo trì vận hành đơn giản, không đòi hỏi có người quản lý thường
xuyên.
- Hầu hết các đô thò có nhiều ao hồ hay khu ruộng trũng đều có thể
tận dụng làm hồ sinh học mà không cần xây dựng thêm.
2.2.3.2 Công trình xử lý sinh học nước thải trong điều kiện nhân tạo
• Bể Aeroten :
Ở các trạm xử lý nước thải, người ta thường xây dựng các bể Aeroten bằng
bê tông cốt thép theo hình khối chữ nhật hay hình trụ. Trong đó hình khối chữ
nhật được sử dụng rộng rãi hơn.
SVTH : Nguyễn Ngọc Thu An
15
Đồ án tốt nghiệp GVHD : TS.Tôn Thất Lãng
Thiết kế hệ thống xử lý nước thải bệnh viện Nguyễn Trãi
Vi sinh vật trong bể hiếu khí tạo thành bùn hoạt tính sẽ phân hủy các chất
hữu cơ và làm sạch nước. Bùn hoạt tính một phần được hồi lưu dùng làm tác nhân
phân giải cho các đợt sau, phần còn lại được xử lý rồi dùng làm phân bón cho cây
trồng hoặc các mục đích khác.
Để thỏa mãn điều kiện hiếu khí cho vi sinh vật phát triển trong bể
Aeroten, người ta sục khí vào hệ thống để cung cấp oxi cho vi sinh vật bằng các
hệ thống khí nén. Khi cung cấp khí vào bể Aeroten, không khí cần phải được
cung cấp đầy đủ và đều khắp bể Aeroten để làm tăng hiệu quả xử lý.
• Bể lọc sinh học – Biôphin :
Bể Biôphin là một công trình xử lý sinh học nước thải trong điều kiện nhân
tạo nhờ các vi sinh vật hiếu khí dính bám.
Quá trình xử lý diễn ra khi cho nước thải tưới lên bề mặt của bể và thấm
qua lớp vật liệu lọc. Ở bề mặt của hạt vật liệu lọc và giữa các khe hở giữa chúng,
các cặn bẩn được giữ lại và tạo thành màng gọi là màng vi sinh. Lượng oxy cần
thiết để oxy hóa các chất bẩn hữu cơ thâm nhập vào bể cùng với nước thải. Vi
sinh hấp thụ chất hữu cơ và nhờ có oxy mà quá trình oxy hóa được thực hiện.

2
, phần còn lại là các khí khác). Khí tạo ra không
chuyển lên trên theo bề mặt ngay mà dính vào các hạt cặn bùn lơ lửng, chuyển
động theo chiều hướng lên trên, tạo ra sự xáo trộn cục bộ. Khi chuyển động lên
trên, chúng va vào vật chắn và bò vỡ ra, khí thoát lên trên còn cặn lắng lại xuống
dưới. Nước trong được chuyển lên trên và tập trung vào máng chuyển ra ngoài.
Hiệu quả xử lý chất hữu cơ trong nước thải do hệ vi sinh vật kỵ khí có
trong các hạt bùn lơ lửng quyết đònh. Khi bể vận hành sẽ hình thành hai lớp bùn
rõ rệt. Ở chiều cao ¼ bể kể từ đáy lên các hạt bùn sơ cấp được hình thành. Phía
trên lớp bùn này là những hạt bùn được tạo ra do sự lắng từ trên xuống hoặc được
lấy từ dưới lên. Nồng độ bùn ở đây khoảng 1.000 –3.000mg/l.
SVTH : Nguyễn Ngọc Thu An
17
Đồ án tốt nghiệp GVHD : TS.Tôn Thất Lãng
Thiết kế hệ thống xử lý nước thải bệnh viện Nguyễn Trãi
Hỗn hợp vi sinh kỵ khí tham gia phân hủy chất hữu cơ trong bể thường tồn
tại lẫn lộn trong pha khí, pha lỏng và pha rắn. Người ta tách chất khí ra khỏi bể
bằng cách thiết kế các tấm vách trong bể. Hỗn hợp bùn và nước được tách ra bởi
ngăn lắng.
• Bể khí sinh học (biogas) :
Bể khí sinh học còn gọi là bể mêtan. Khi lên men, vật chất có trong bể
mêtan biến đổi rất mạnh, tạo ra những lớp rất rõ theo chiều cao của bể.
Khi vận hành bể mêtan, nước trong được lấy ra liên tục và bổ sung vào
nước thải mới, do đó lượng cặn được tạo ra liên tục. Có hai lớp bùn cặn: lớp bùn
cặn lơ lửng phía trên và lớp bùn cặn được lắng xuống dưới đáy bể. Phải lấy cặn
lắng ở đáy bể ra theo đònh kỳ hoặc liên tục để tăng khả năng phân hủy vật chất
hữu cơ và tăng thể tích hữu ích của bể.
Các loại bể mêtan rất thích hợp cho việc xử lý nước thải các xí nghiệp
chăn nuôi gia súc, gia cầm.
 Giai đoạn xử lý sinh học tiến hành sau giai đoạn xử lý cơ học. Quá trình

viện.
SVTH : Nguyễn Ngọc Thu An
19
Đồ án tốt nghiệp GVHD : TS.Tôn Thất Lãng
Thiết kế hệ thống xử lý nước thải bệnh viện Nguyễn Trãi
3.1.2 Tính chất đặc trưng của nước thải bệnh viện
3.1.2.1 Nước thải phát sinh từ hoạt động khám và điều trò bệnh
• Tính chất vật lý :
- Màu : chủ yếu là màu của các hoá chất như các dung dòch thuốc dùng để
điều trò bệnh, đặc biệt trong khu vực phòng mổ, nước thải có màu của máu phát
sinh từ quá trình mổ và rửa các dụng cụ phẫu thuật.
- Mùi : sinh ra do quá trình thối rữa các loại bệnh phẩm có nguồn gốc hữu
cơ còn sót lại do việc thu gom chất thải không triệt để.
- Chất rắn : các loại bệnh phẩm có nguồn gốc hữu cơ còn sót lại như : bông
băng, các bộ phận cơ thể bò bệnh của người cắt lọc ra… (có kích thước rất nhỏ nên
không thể thu gom được).
• Thành phần hoá học :
- Thành phần hữu cơ : thành phần hữu cơ chủ yếu có trong nước thải là một
số chất sinh ra trong quá trình phân rã tự nhiên các chất hữu cơ từ các bệnh phẩm.
- Thành phần vô cơ : chủ yếu là thành phần vô cơ có trong các dung dòch
thuốc dùng trong quá trình điều trò.
• Thành phần sinh học :
- Bao gồm các vi sinh vật, vi khuẩn gây bệnh. Rất nhiều bệnh có thể lan
truyền qua các vi khuẩn gây bệnh trong nước thải.
3.1.2.2 Nước thải sinh hoạt
Cũng như nước thải sinh ra từ quá trình điều trò bệnh, nước thải sinh hoạt
trong bệnh viện cũng có những tính chất vật lý, hoá học, sinh học tương tự.
SVTH : Nguyễn Ngọc Thu An
20
Đồ án tốt nghiệp GVHD : TS.Tôn Thất Lãng

3.2 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NƯỚC THẢI BỆNH VIỆN ĐANG
ĐƯC ÁP DỤNG
Một hệ thống xử lý nước thải bệnh viện phải đảm bảo được các tiêu chuẩn
sau :
- Giảm nồng độ các tác nhân gây ô nhiễm xuống dưới tiêu chuẩn cho phép.
- Phù hợp với điều kiện mặt bằng, diện tích cho phép và đòa hình của bệnh
viện so với các khu vực xung quanh.
- Có khả năng đầu tư.
Một số phương pháp xử lý nước thải bệnh viện tiêu biểu đang được áp
dụng tại các đòa phương :
• Nước thải  Sàng rác  Điều hòa lưu lượng có sục khí  Lắng sơ cấp
kết hợp keo tụ  Lọc sinh học  Lắng thứ cấp  Khử trùng.
• Nước thải  Sàng rác  Điều hòa lưu lượng  Lắng sơ cấp (không
keo tụ)  Tiếp xúc sinh học  Lắng thứ cấp  Khử trùng.
• Nước thải  Sàng rác  Điều hòa lưu lượng  Lắng sơ cấp kết hợp
keo tụ  Xử lý vi sinh Aeroten  Khử trùng.
• Nước thải  Sàng rác  Điều hòa lưu lượng có sục khí  Lắng sơ cấp
(không keo tụ)  Xử lý vi sinh Aeroten  Khử trùng.
Ngoài ra, người ta bổ sung thêm vào nước thải BIOWC 96 và DW 97 để
đẩy nhanh quá trình thủy phân các tạp chất hữu cơ và tăng cường mật độ vi sinh
vật có ích cho việc phân hủy chất thải. Chế phẩm BIOWC 96 và DW 97 là tổ hợp
vi sinh và enzime được sản xuất tại Việt Nam, có tác dụng phân hủy nhanh các
SVTH : Nguyễn Ngọc Thu An
22
Đồ án tốt nghiệp GVHD : TS.Tôn Thất Lãng
Thiết kế hệ thống xử lý nước thải bệnh viện Nguyễn Trãi
chất thải hữu cơ có trong nước thải. Mặt khác, BIOWC 96 và DW 97 còn có tác
dụng diệt trứng giun sán và phần lớn các vi khuẩn gây hại có trong nước thải.
Các thiết bò chính trong dây chuyền xử lý nước thải bệnh viện :
• Song chắn rác :

nhiễm, nhằm giải quyết tình trạng ô nhiễm cục bộ và các khu vực lân cận.
Theo số liệu báo cáo gần đây của các bệnh viện, cho thấy các bệnh viện
đã và đang đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải và chuẩn bò đưa vào sử
dụng. Nhiều bệnh viện đã xây dựng dự án khả thi để xử lý ô nhiễm môi trường
với các đề xuất, biện pháp, công nghệ xử lý chất thải rắn cũng như xử lý nước
thải phù hợp, trong đó một số dự án đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Tuy nhiên, trên thực tế, theo kết quả thanh tra của Sở Tài nguyên môi
trường thì kết quả rất đáng lo ngại. Từ tháng 8/2005, Sở Tài nguyên môi trường
đã tiến hành một đợt tổng kiểm tra về hệ thống xử lý nước thải tại các bệnh viện
và Trung tâm y tế trên toàn thành phố. Kết quả cho thấy, mỗi ngày có 17.276 m
3
nước thải được thải ra từ 109 bệnh viện và Trung tâm y tế. Nguồn nước thải chủ
yếu từ các khâu giải phẫu, xét nghiệm, khám chữa bệnh, giặt giũ, vệ sinh của
nhân viên y tế, bệnh nhân và thân nhân. Kết quả phân tích nước thải cho thấy
loại nước thải này ô nhiễm nặng về măït hữu cơ và vi sinh, hầu hết các chỉ số ô
nhiễm đều vượt tiêu chuẩn cho phép, trong đó :
Nhu cầu oxy sinh hóa (BOD
5
) : 350 – 400 mg/l (tiêu chuẩn là 50 mg/l)
Chất rắn lơ lửng (SS) : 250 – 300 mg/l (tiêu chuẩn là 100 mg/l)
Hàm lượng vi sinh cao gấp 100 đến 1000 lần tiêu chuẩn cho phép.
SVTH : Nguyễn Ngọc Thu An
24
Đồ án tốt nghiệp GVHD : TS.Tôn Thất Lãng
Thiết kế hệ thống xử lý nước thải bệnh viện Nguyễn Trãi
Đáng chú ý nhất là trong số 17.276 m
3
nước thải hàng ngày thì chỉ có
12.925 m
3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status