TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
BÀI THUYẾT TRÌNH
ĐỀ TÀI: SỞ HỮU VỀ TƯ LIỆU SẢN XUẤT VÀ CÁC
THÀNH PHẦN KINH TẾ TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ
LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Văn Sáng
Lớp : Cao học Kinh tế Chính trị - K19
Học viên thực hiện : Nhan Thanh
Nguyễn Thiệu Thành
Nguyễn Thị Thu
Mai Thành TrungTP. HCM - 01/2010
1. Sở hữu và các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất trong thời kỳ
quá độ ở Việt Nam:
2
Sở hữu là một phạm trù kinh tế biểu hiện các quan hệ giữa người với
người đối với việc chiếm hữu của cải vật chất, trước hết là đối với những tư
liệu sản xuất chủ yếu. Sở hữu tư liệu sản xuất quy định mục đích của sản
xuất, hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, phương thức quản lý, phân phối
sản phẩm và cơ chế điều tiết chúng. Mỗi phương thức sản xuất có một hình
thức sở hữu tư liệu sản xuất đặc trưng.
Trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam có ba loại hình sở hữu cơ bản: sở
hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân (tư hữu), mỗi loại hình sở
hữu lại có nhiều hình thức sở hữu ở nhiều mức độ chín muồi khác nhau. Các
hình thức sở hữu tư liệu sản xuất tồn tại khách quan, lâu dài và thường đan
xen lẫn nhau. Trong một đơn vị sản xuất kinh doanh có thể có nhiều chủ sở
hữu đại diện cho nhiều hình thức sở hữu tư liệu sản xuất. Ví dụ, trong công
ty cổ phần bao gồm nhiều cổ đông thuộc nhiều loại hình sở hữu khác nhau
kinh tế tư bản nhà nước).
Sự tồn tại kinh tế nhiều thành phần không những là khách quan, mà
còn là động lực thúc đẩy, kích thích sự phát triển lực lượng sản xuất xã hội.
Bởi vì :
• Một là, sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế, tức là tồn tại nhiều
hình thức tổ chức kinh tế, nhiều phương thức quản lý phù hợp với trình độ
khác nhau của lực lượng sản xuất. Chính sự phù hợp này đến lượt nó, có tác
dụng thúc đẩy tăng năng suất lao động, tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu
quả kinh tế trong các thành phần kinh tế và trong toàn bộ nền kinh tế quốc
dân.
• Hai là, sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế là cơ sở để phát triển
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Nền kinh tế
này, do sự tác động của các quy luật kinh tế (như quy luật giá trị, quy luật
cạnh tranh, quy luật cung cầu) và sự quản lý, điều tiết của nhà nước có tác
dụng phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ
thuật, nâng cao đời sống nhân dân. Mặt khác, kinh tế thị trường định hướng
Chủ Nghĩa Xã Hội lại tạo điều kiện để mọi công dân tùy theo khả năng và
điều kiện của mình, tự do lựa chọn hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh
thực hiện quyền dân chủ về kinh tế theo pháp luật.
5
• Ba là, sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế đáp ứng được lợi ích
kinh tế của các giai cấp, tầng lớp xã hội, có tác dụng khai thác sử dụng các
nguồn lực, các tiềm năng của đất nước, như sức lao động, vốn, tài nguyên
thiên nhiên, kinh nghiệm quản lý để tăng trưởng kinh tế nhanh và có hiệu
quả cao.
2.2 Cơ cấu các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ:
Qua thực tiễn của hơn 15 năm đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX (4/2001) Đảng ta đã xác định nền kinh tế nước ta có 6 thành phần. Đó
là:
• Kinh tế nhà nước
7
Thành phần kinh tế này dựa trên hình thức tư hữu nhỏ về tư liệu sản
xuất. Sự khác nhau giữa kinh tế cá thể và kinh tế tiểu chủ ở chỗ : trong kinh
tế cá thể nguồn thu nhập hoàn toàn dựa vào lao động và vốn của bản thân và
gia đình, còn trong kinh tế tiểu chủ, tuy nguồn thu nhập vẫn dựa vào lao
động và vốn của bản thân và gia đình, nhưng có thuê lao động.
Ở nước ta, do trình độ lực lượng sản xuất còn thấp, thành phần kinh tế
này có vai trò to lớn trong nhiều ngành nghề và ở khắp các địa bàn cả nước.
Nó có khả năng sử dụng và phát huy có hiệu quả các tiềm năng về vốn, sức
lao động, các kinh nghiệm sản xuất, ngành nghề truyền thống. Hạn chế của
thành phần này là ở tính tự phát, manh mún và chậm ứng dụng tiến bộ khoa
học - công nghệ.
• Kinh tế tư bản tư nhân
Thành phần kinh tế này dựa trên hình thức sở hữu tư nhân tư bản chủ
nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột lao động làm thuê. Trong thời kỳ quá độ
ở nước ta, thành phần này còn có vai trò đáng kể để phát triển lực lượng sản
xuất, xã hội hóa sản xuất, giải quyết việc làm, khai thác các nguồn vốn và
góp phần giải quyết các vấn đề xã hội khác.
• Kinh tế tư bản nhà nước
Thành phần kinh tế này dựa trên hình thức sở hữu hỗn hợp về vốn
giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư bản tư nhân trong nước và ngoài nước
dưới các hình thức hợp tác liên doanh. Kinh tế tư bản nhà nước có khả năng
8
to lớn trong việc huy động vốn, công nghệ, khả năng tổ chức quản lý tiên
tiến vì lợi ích của bản thân kinh tế tư bản tư nhân và phát triển của đất nước.
Thành phần kinh tế này có vai trò đáng kể trong giải quyết việc làm và tăng
trưởng kinh tế.
• Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Thành phần kinh tế này dựa trên hình thức sở hữu hầu như tuyệt đối là
vốn của nước ngoài. Nhưng chủ sở hữu không nhất thiết là nhà tư bản.
2.3 Mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế:
Các thành phần kinh tế không tồn tại độc lập mà đan xen vào nhau,
tác động qua lại với nhau, mỗi thành phần kinh tế dựa trên một hình thức sở
hữu nhất định về tư liệu sản xuất và biểu hiện lợi ích của một giai cấp, tầng
10
lớp xã hội nhất định. Các thành phần kinh tế vừa thống nhất vừa mâu thuẫn
với nhau.
Tính thống nhất biểu hiện ở chỗ mỗi thành phần kinh tế là một bộ
phận của nền kinh tế, nằm trong hệ thống phân công lao động xã hội có mối
liên hệ phụ thuộc lẫn nhau cả "đầu vào" và "đầu ra". Các thành phần kinh tế
đều hoạt động trong một môi trường thống nhất (các chính sách, pháp luật và
sự quản lý vĩ mô của nhà nước …) và đều là nội lực của nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta.
Mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế biểu hiện ở xu hướng vận
động khác nhau, mang bản chất kinh tế khác nhau, biểu hiện lợi ích kinh tế
khác nhau. Ngoài ra, ngay trong nội bộ mỗi thành phần kinh tế cũng có mâu
thuẫn do sự vi phạm hợp đồng, vì lợi ích cục bộ, chiếm dụng vốn của nhau,
vi phạm bản quyền sở hữu phát minh, nhãn mác, giành thị trường, … Những
mâu thuẫn của nền kinh tế nhiều thành phần chỉ được giải quyết dần dần
trong quá trình xã hội hóa sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
11
12