Tiểu luận: Phân tầng xã hội phân tích những nét cơ bản về đổi mới, tăng trưởng kinh tế và phân tầng xã hội - Pdf 14

Tiểu luận
Phân tầng xã hội
Công cuộc đổi mới gần 2 thập kỷ qua đã làm thay đổi căn bản diện mạo đời sống
kinh tế - xã hội ở nước ta. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - sản
phẩm của đổi mới đã phát huy hiệu quả của nó ở tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và
ổn định cùng với việc nâng cao mức sống của hầu hết các tầng lớp dân cư. Nhưng
bên cạnh đó, kinh tế thị trường cũng làm nảy sinh ra không ít những hệ quả xã hội
mà chúng ta đang phải tập trung giải quyết. Một trong các hệ quả như vậy là sự
phân tầng xã hội, sự phân hóa giàu nghèo. Trong đề tài này chúng tôi sẽ phân tích
những nét cơ bản về đổi mới, tăng trưởng kinh tế và phân tầng xã hội. Nghiên cứu
về vấn đề này cho chúng ta thấy bức tranh tổng thể về sự phân tầng xã hội ở Việt
Nam cũng như các yếu tố có liên quan. Qua đó, góp phần định hướng các mục tiêu
và chiến lược giảm bất bình đẳng xã hội.
I. ĐỊNH NGHĨA VỀ PHÂN TẦNG XÃ HỘI
1. Khái niệm phân tầng xã hội:
Phân tầng xã hôi là một trong những khái niệm cơ bản của xã hội học. Tuy
nhiên ở nước ta khái niệm này mới chỉ được đề cập và nghiên cứu trong thời gian
cách đây không lâu.
a. Khái niệm tầng xã hội:
Tầng xã hôi là tổng thể , tập hợp các cá nhân có cùng một hoàn cảnh xã hội ,
họ giống nhau hay bẳng nhau về địa vị kinh tế, chính trị, xã hội về khả năng thăng
tiến cũng như giành được những ân huệ hay vị trí xã hội.
b. Phân tầng xã hội:
Có nhiều định nghĩa khác nhau về phân tầng:
Quan niệm của M.Weber:
M.Weber là nhà xã hội học người Đức, ông là người đầu tiên nói đến khái
niệm phân tầng. Ông đã đưa ra nguyên tắc tiếp cận ba chiều đối với vấn đề phân
tầng, coi khái niệm phân tầng xã hội bao gồm cả việc phân chia xã hội thành các

thế hệ”.
Ông cũng đồng thời chỉ ra những điều kiện dẫn đến sự phân phối lợi ích
không đồng đều giữa các thành viên và các nhóm xã hội:
Một là, những cơ hội trong cuộc sống bao gồm những thuận lợi vật chất, của
cải và thu nhập, những lợi ích trong chăm sóc sức khỏe và an toàn công việc.
Hai là, địa vị xã hội tức là uy tín hay vị trí do quan niệm và sự đánh giá của
các thành viên khác trong xã hội.
Ba là, ảnh hưởng chính trị, tức là khả năng của một nhóm xã hội này thống trị
những nhóm xã hội khác, hay việc ra quyết định, cũng như viêc thu được nguồn lợi
từ các quyết định.
Theo B.Berber: “Phân tầng xã hội là sự bất bình đẳng được điều tiết về cấu
trúc, trong đó mọi người được xếp lớp theo thứ bậc từ đỉnh xuống đáy tương ứng
với giá trị và ý nghĩa xã hội của các vai trò xã hội và các dạng hoạt động khác
nhau”.
Theo A.Giddens: “Phân tầng xã hội là sự phân chia xã hội thành các tầng
lớp, khi nói về sự phân tầng là nói tới bất bình đẳng giữa các địa vị, vị trí của các
cá nhân trong xã hội”.
Theo H.P. Caroline: “Phân tầng xã hội là sự sắp xếp loại một cách ổn định
các vị trí trong cơ cấu xã hội dưới góc độ quyền lực hoặc đặc quyển, đặc lợi không
ngang bằng nhau”.
Theo I. Robersons: “Phân tầng xã hội là bất bình đẳng mang tính cơ cấu của
tất cả các xã hội loài người; là sự khác nhau về khả năng thăng tiến xã hội bởi địa
vị của họ trong thang bậc xã hội”.
Theo N. Smelser (nhà xã hội học người Mỹ) cho rằng: Phân tầng xã hội gắn
với những biện pháp mà nhớ nó, sự bất bình đẳng được lưu truyền từ thế hệ này
sang thế hệ khác, trong đó hình thành nên những tầng lớp khác nhau trong xã hội.
Quan niệm của Trung tâm xã hôi học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh đưa ra quan điểm như sau
1
:

bị quy định ngay từ lúc mới sinh bởi nguồn gốc, dòng dõi của cha mẹ mình.
Trong xã hội đẳng cấp, duy trì “nội giao” và cấm các thành viên thuộc các
đẳng cấp khác nhau kết hôn với nhau. Trong hệ thống phân tầng “đóng” trừ một số
bước tiến ngắn trong nội bộ các đẳng cấp( ví dụ các quý tộc, tăng lữ) còn tuyệt đại
đa số người còn lại sinh ra từ đẳng cấp nào thì cứ suốt đời ở trong đẳng cấp của
mình. Địa vị đẳng cấp dường như được coi là địa vị “tự nhiên” tức lạ địa vị được
“gán” cho con người mà không ai có thể lựa chọn hoặc tự kiểm soát được. Hệ
thống này điển hình nhất trước đây ở Ấn Độ và Nam Phi. Cho tới nay còn có thể
tìm thấy ở một số vùng biệt lập tại Bắc Phi, Trung Đông, châu Á.
b. Hệ thống phân tầng “ mở”
Đặc trưng của hệ thống phân tầng này là địa vị của con người chủ yếu phụ
thuộc vào địa vị của họ trong hệ thống kinh tế. Trong hệ thống phân tầng này, ranh
giới giữa các tầng không quá cứng nhắc và cách biệt như trong xã hội có đẳng cấp
mà mềm dẻo, uyển chuyển hơn. Một người từ tầng lớp thấp có thể chuyển lên vị
trí của một tầng xã hội cao hơn.
Trong một chừng mực nhất định, vị thế xã hội mà người ta đạt được là do nỗ
lực chủ quan( khả năng, ý chí, cơ may) chứ không phải là vị thế tự nhiên trong xã
hội đẳng cấp. Đặc trưng của các xã hội hiện đại là hệ thống phân tầng “ mở” tức là
hệ thống phân tầng trong xã hội có giai cấp mặc dù chúng có sự khác biệt từ xã hội
này sang xã hội khác. Trong xã hội nông nghiệp thường có hai giai cấp chủ yếu là
các chủ đất và nông dân. Trong xã hội công nghiệp thì sự phân chia có sự phức tạp
hơn, ngoài sự phân chia giai cấp còn phân chia thành các tầng lớp xã hội khác
nhau. Theo I.Robertsons, xã hội phương Tây hiện nay có thể phân làm 6 tầng lớp
mà theo cách gọi của ông là 6 giai cấp:
Giai cấp thượng lưu - tầng lớp quý tộc theo dòng dõi, là những nhà tư bản lớn,
những tỷ phú nhiều đời, có quyền lực và uy tín lớn trong xã hội.
Giai cấp thượng lưu tầng lớp dưới - những người có tiền, là những người buôn
bán bất động sản, các ông trùm hãng thức ăn nhanh, hãng máy tính
Giai cấp thượng lưu trên, gồm những gia đình thương gia và các doanh nghiệp
Giai cấp trung lưu tầng lớp dưới, gồm những người có thu nhập trung bình và

thành viên trong xã hội thuộc nhóm xã hội này có mức sống trung bình và khá.
đ. Tháp hình “đĩa bay” (thấp dẹt): có thể có 2 trạng thái là bình quân nghèo
khổ hoặc xã hội lý tưởng, thịnh vượng toàn dân, với tuyệt đại bộ phận các thành
viên của xã hội có mức sống trung lưu và khá giả (xã hội trung lưu).

5. Một số lý thuyết về phân tầng xã hội:

a. Lý thuyết chức năng:
Phân tầng xã hội là sự sắp xếp các cá nhân vào một hệ thống xã hội trên cơ sở
sự phân chia những ngạch bậc và những tiêu chuẩn chung về giá trị địa vị; là kết
quả trực tiếp của phân công lao động xã hội và sự phân hoá của các nhóm xã hội
khác nhau. Nó gắn liền với những biện pháp mà nhờ đó, sự bất bình đẳng được lưu
truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ đó hình thành nên những tầng lớp khác
nhau trong xã hội.
Thuyết này khẳng định, phân tầng xã hội và bất bình đẳng xã hội là những nét
thường trực tất yếu và không thể tránh khỏi trong xã hội loài người. Hiện tượng
này tồn tại trong quá khứ và sẽ tiếp tục tồn tại như một nét nổi bật trong xã hội
hiện tại và tương lai.
Những nhà xã hội học theo thuyết chức năng cho rằng, phân tầng xã hội và bất
bình đẳng xã hội tồn tại vì nó thực hiện một chức năng cần thiết và tích cực trong
xã hội. Sự bất bình đẳng là một di sản mà nhờ vào đó, xã hội đảm bảo những địa vị
quan trọng nhất phải do những người có tài năng nhất đảm nhiệm một cách có ý
thức. Trên cơ sở đó, dẫn tới sự khác nhau về mặt uy tín, thu nhập, khả năng thăng
tiến của các cá nhân trong xã hội và xã hội phải thiết chế hoá một số yếu tố của bất
bình đẳng.
Tức là, trong một xã hội, có những địa vị khác nhau thực hiện những chức
năng nhất định. Mức độ quan trọng của các địa vị là khác nhau tuỳ thuộc vào chức
năng của nó. Có những địa vị đặc biệt quan trọng, đòi hỏi phải có những kỹ năng
đặc biệt mà chỉ có một số ít người thực hiện được. Do vậy, những người thực hiện
được địa vị cao là không nhiều, họ phải trải qua một thời kỳ huấn luyện nhất định

cải, tài sản), địa vị chính trị (quyền lực) và địa vị xã hội (uy tín). Nhưng trong 3
yếu tố này, mặc dù về lý thuyết, Weber không tuyệt đối hoá yếu tố nào, nhưng qua
các lập luận và giải thích thì ông đề cao yếu tố địa vị xã hội và quyền lực chính trị.
Ông nhấn mạnh rằng, bất bình đẳng có thể không dựa trên quan hệ kinh tế, nhưng
dựa trên uy tín và quyền lực chính trị được huy động qua một đảng. Đồng thời, địa
vị và quyền lực chính trị có thể được hình thành từ quyền lực kinh tế nhưng không
phải là tất yếu, ngược lại, quyền lực kinh tế có thể có từ quyền lực chính trị và địa
vị xã hội.
Xét riêng về quyền lực kinh tế, nếu Marx đề cao quyền sở hữu tư liệu sản xuất
- là yếu tố chủ yếu hình thành giai cấp và bất bình đẳng trong xã hội tư bản thì Max
Weber lại nhấn mạnh đến tầm quan trọng của thị trường (khả năng chiếm lĩnh thị
trường của người lao động) và coi đây là nguyên nhân đầu tiên của bất bình đẳng
trong chủ nghĩa tư bản. Thị trường kỹ năng gắn liền với cơ may đời sống của
người lao động tạo ra hoàn cảnh giai cấp của các nhóm xã hội. Những người có
khả năng thị trường tương tự và do đó, có cơ may đời sống tương tự hợp thành giai
cấp nhất định.
d. Lý thuyết của Marx về phân tầng xã hội:
Marx phân tích phân tầng xã hội dưới khía cạnh giai cấp xã hội. Ông cho
rằng, phân tầng xã hội là do quyết định của nhân tố kinh tế (quyền sở hữu tư liệu
sản xuất thuộc về ai). Do vậy, có thể phân chia các tầng lớp trong xã hội tư bản
thành giai cấp tư sản và giai cấp vô sản trên cơ sở mối quan hệ của họ với tư liệu
sản xuất.
Theo Marx, mối lợi kinh tế, quyền lực chính trị, uy tín xã hội đều bắt nguồn từ
cấu trúc giai cấp và đấu tranh giai cấp là động lực thúc đẩy sự phát triển trong xã
hội . Đồng thời, đấu tranh giai cấp sẽ tạo ra những điều kiện xoá bỏ giai cấp cũng
như các nguyên nhân tạo nên bất bình đẳng và phân tầng xã hội.
Tóm lại, theo Weber, phân tầng xã hội là một hệ thống xếp hạng cấp bậc các
nhóm người vào những vị trí xác định, liên quan đến của cải (tài sản), quyền lực
chính trị, uy tín xã hội. Hệ thống này là một cơ cấu bất bình đẳng ổn định bền vững
qua các thế hệ.

trong tăng trưởng kinh tế và xoá đói giảm nghèo.Điều này không chỉ góp phần
giúp đất nước khắc phục tình trạng kém phát triển, mà còn làm tiền đề để thực hiện
nhiều mục tiêu kinh tế - xã hội khác như giảm thất nghiệp, cải thiện cán cân thanh
toán, tăng thu ngân sách, phát triển giáo dục, y tế, văn hoá, xóa đói giảm
nghèo Về cơ bản, những thành tựu tăng trưởng đã đến được với đại bộ phận
người dân, thể hiện ở mức tăng rõ rệt về thu nhập và tiêu dùng của tất cả các nhóm
dân cư trong thời gian qua. Tuy nhiên, nền kinh tế cũng đang bộc lộ ngày càng rõ
những lo ngại về chất lượng và sự bền vững của quá trình tăng trưởng, xét cả về
trung hạn và dài hạn.
1. Những mặt tích cực của nền kinh tế trong quá trình đổi mới
Với phương châm “nhìn thẳng vào sự thật”, từ Đại hội VI đến Đại hội X của
Đảng, Đảng ta đã phân tích, đánh giá tình hình trong nước và thế giới một cách
khách quan, xác định các xu thế phát triển tất yếu của thế giới và đã thực hiện bước
chuyển đổi quan trọng cả về lý luận và thực tiễn: xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung,
hành chính, quan liêu bao cấp, chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa. Công cuộc đổi mới tiến hành 25 năm đã đạt được những thành tựu
to lớn và có ý nghĩa lịch sử.
1.1. Đất nước ra khỏi khủng hoảng, kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng nhanh
Thực hiện đường lối đổi mới, với mô hình kinh tế tổng quát là xây dựng nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đất nước ta đã thoát khỏi khủng
hoảng kinh tế - xã hội, tạo được những tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ
phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
1986-1990: GDP tăng 4,4%/năm. Việc thực hiện tốt ba chương trình mục tiêu
phát triển về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu được đánh
giá là thành công bước đầu cụ thể hóa nội dung của CNH XHCN trong chặng
đường đầu tiên. Đây là giai đoạn chuyển đổi cơ bản cơ chế quản lý cũ sang cơ chế
quản lý mới, thực hiện một bước quá trình đổi mới đời sống KTXH và giải phóng
sức sản xuất.
1991-1995: Nền kinh tế khắc phục được tình trạng trì trệ, suy thoái, đạt được
tốc độ tăng trưởng tương đối cao liên tục và toàn diện.GDP bình quân năm tăng


Từ một nước thiếu ăn, mỗi năm phải nhập khẩu 50 vạn - 1 triệu tấn lương thực,
Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới. Năm 2005, nước ta
đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo, thứ 2 về cà phê, thứ 4 về cao su, thứ 2 về
hạt điều, thứ nhất về hạt tiêu.
2005-2010: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 7%. Mặc dù khủng
hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng thu hút vốn đầu tư nước ngoài
vào nước ta đạt cao. Trong 5 năm, tổng vốn FDI thực hiện đạt gần 45 tỉ USD, vượt
77% so với kế hoạch đề ra. Tổng số vốn đăng ký mới và tăng thêm ước đạt 150 tỉ

2
Nguồn: Tính toán từ số liệu Niên giám thống kê VN, WB và IMFUSD, gấp hơn 2,7 lần kế hoạch đề ra và gấp hơn 7 lần so với giai đoạn 2001-2005.
Tổng vốn ODA cam kết đạt trên 31 tỉ USD, gấp hơn 1,5 lần so với mục tiêu đề ra;
giải ngân ước đạt khoảng 13,8 tỉ USD, vượt 16%. GDP bình quân đầu người đạt
1.168 USD
3
.
1.2. Cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực theo hướng công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, gắn sản xuất với thị trường.
Cơ cấu để chỉ cách thức tổ chức bên trong của một hệ thống, biểu hiện sự
thống nhất của mối quan hệ qua lại vững chắc giữa các bộ phận của nó, khi coi nền
kinh tế quốc dân như một hệ thống với nhiều bộ phận cấu thành và các kiểu cơ cấu
hợp thành chúng. Theo thời gian khi nền kinh tế vận động tăng trưởng thì các bộ
phận và các kiểu cơ cấu của nó cũng thay đổi. Do đó, cơ cấu kinh tế được hiểu là
tổng thể những mối quan hệ về số lượng và chất lượng giữa các bộ phận cấu thành
đó trong một thời gian và trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định
4

mạnh với thiết bị công nghệ ngày càng hiện đại.

5
Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê 2010, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2011.

Tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP đã tăng từ 38.6% năm 1990 lên 38.7%
năm 2000 và tăng lên 38,32% năm 2010. Các ngành dịch vụ đã phát triển đa dạng
hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của sản xuất và đời sống. Ngành du lịch,
bưu chính viễn thông phát triển với tốc độ nhanh. Các ngành dịch vụ tài chính,
ngân hàng, tư vấn pháp lý có bước phát triển theo hướng tiến bộ, hiệu quả.
1.3. Thực hiện có kết quả chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần, phát huy ngày càng tốt hơn tiềm năng của các thành phần kinh tế
Kinh tế Nhà nước được sắp xếp, đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả, tập
trung hơn vào những ngành then chốt và những lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế.
Cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước được đổi mới một bước quan trọng theo
hướng xoá bao cấp, thực hiện chế độ công ty, phát huy quyền tự chủ và trách
nhiệm của doanh nghiệp trong kinh doanh.
Kinh tế tư nhân phát triển mạnh, huy động ngày càng tốt hơn các nguồn lực và
tiềm năng trong nhân dân, là một động lực rất quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và
phát triển kinh tế. Năm 2005, khu vực kinh tế ngoài nhà nước (kinh tế tập thể, kinh
tế tư nhân và kinh tế cá thể) đóng góp khoảng 45,61% GDP của cả nước. Đến năm
2010, tỷ lệ này tăng lên 47,54%.
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, từ
15,99% năm 2005 tăng lên 18,72% năm 2010. Khu vực kinh tế này đang trở thành
một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân; là cầu nối quan trọng
với thế giới về chuyển giao công nghệ, giao thông quốc tế, đóng góp vào ngân sách
nhà nước và tạo việc làm cho nhiều người dân.
1.4. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dần dần được
hình thành, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định
Qua 25 năm đổi mới, hệ thống pháp luật, chính sách và cơ chế vận hành của

2. Một số mặt hạn chế cần khắc phục
Dưới góc độ xã hội – môi trường, cùng với quá trình tăng trưởng kinh tế, sự
phân hoá giàu nghèo ngày càng rõ nét và có chiều hướng gia tăng; chất lượng
nguồn nhân lực cũng chưa theo kịp yêu cầu tăng trưởng và phát triển của nền kinh
tế; tỷ lệ thời gian lao động không được sử dụng ở nông thôn vẫn còn cao; tốc độ
xoá đói giảm nghèo bắt đầu chững lại trong những năm gần đây; tốc độ suy thoái
và ô nhiễm môi trường diễn ra nhanh chóng Đây là những biểu hiện đáng báo
động về chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.
Xóa đói giảm nghèo
Mặc dù Việt Nam đã hoàn thành sớm kế hoạch toàn cầu “giảm một nửa tỷ lệ
nghèo vào năm 2015” mà Liên hợp quốc đề ra, nhưng thành tựu xoá đói giảm
nghèo vẫn chưa vững chắc. Số hộ có mức thu nhập bình quân đầu người nằm ngay
cận trên của chuẩn nghèo còn khá nhiều và nguy cơ bị tổn thương của các hộ này
trước những đột biến bất lợi còn lớn và khả năng tái nghèo còn cao. Điều này thể
hiện ở việc nếu so với mức “chuẩn” cũ của Việt Nam, năm 2008 người nghèo
chiếm khoảng 13,5%; còn nếu theo chuẩn mới, tỷ lệ người nghèo sẽ tăng lên 20%.
Nhưng, nếu tính theo cách của thế giới thì tỷ lệ này còn cao gấp 2-3 lần
6
.
Điều dễ nhận thấy là người nghèo đang gặp nhiều hạn chế trong việc tiếp cận
và hưởng thụ các dịch vụ xã hội cơ bản. Khả năng tiếp cận các dịch vụ, lợi ích của
tăng trưởng và thành quả do sự phát triển mang lại cho mọi công dân một cách
khách quan và công bằng chưa cao. Chẳng hạn, trong lĩnh vực y tế và giáo dục,
báo cáo của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc về an sinh xã hội cho biết

6
Tổng cục Thống kê (2009), Niên giám thống kê 2008, Nxb. Thống kê, Hà Nội.
nhóm 20% giàu nhất hưởng 45% các trợ cấp y tế, nhóm 20% nghèo nhất chỉ nhận
được 7%; nhóm 20% giàu nhất hưởng 35% các trợ cấp giáo dục, trong khi nhóm
20% nghèo nhất chỉ nhận có 15%

độ cao để tham gia vào các ngành sản xuất đó. Các chính sách bảo hộ, thay thế
nhập khẩu sẽ làm tăng chi phí sản xuất và giá cả sản xuất đối với hàng triệu người
nghèo. Cơ hội việc làm, thu nhập, tiếp cận thông tin, tri thức của người nghèo vì
thế ngày càng thấp – điều này ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế và công
bằng xã hội trong những năm tiếp theo.
Nền kinh tế Việt Nam lựa chọn là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa. Vì vậy tăng trưởng kinh tế mà Đảng và Nhà nước đã xác định là tăng trưởng
có chất lượng, tăng trưởng bền vững, tăng trưởng vì con người, vì một xã hội ngày
càng công bằng hơn, dân chủ hơn, tăng trưởng gắn với bảo vệ môi trường. Tuy
nhiên, kinh nghiệm của chính nền kinh tế đổi mới của nước ta trong những năm
gần đây cho thấy rằng tốc độ tăng trưởng cao không nhất thiết đi liền với xu hướng
tạo ra một nền kinh tế mạnh. Bằng việc xác định rõ định hướng phát triển trong dài
hạn, Việt Nam cần có sự lựa chọn thứ tự ưu tiên các mục tiêu phát triển phù hợp
với điều kiện kinh tế, xã hội, tài nguyên, môi trường trong từng giai đoạn nhất
định, từ đó thực sự có những bước phát triển bền vững
8
.

III. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ PHÂN TẦNG XÃ HỘI
1. Một số quan điểm lý luận về phân tầng xã hội và sự phát triển
Phân tầng xã hội là sự phân hoá xã hội theo chiều dọc tạo nên cấu trúc xã hội
tầng lớp trong đó tầng đỉnh chiếm vị thế và vai trò quyết định đối với sự vận động,
biến đổi của các tầng lớp khác và cả hệ thống xã hội. Phân tầng xã hội tạo ra các

8

/>

tầng lớp trên dưới, cao thấp khác nhau về kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục, y tế,
xã hội và nhiều đặc điểm, tính chất khác.

nghiệp và những yếu tố xã hội như quyền lực, vị thế, vai trò xã hội, hệ giá trị văn
hoá, chuẩn mực xã hội và các nguồn vốn phi kinh tế khác.
Kết quả của sự phân hoá giàu nghèo là người nghèo bị rơi xuống tầng đáy của
thang bậc phân tầng xã hội và người giàu nổi lên tầng trên, nắm giữ phần lớn
quyền lực, uy tín và của cải của toàn xã hội. Trong quá trình này, rất có thể một số
người bị mất tài sản trở nên nghèo đói, nhưng những người đó không nhất thiết bị
rơi xuống tầng đáy của xã hội bởi vì tình trạng đó có thể chỉ mang tính tạm thời.
Người nghèo kinh niên có thể may mắn có tài sản, ví dụ do trúng số độc đắc,
những vẫn có thể bị nghèo do không biết sử dụng số tiền kiếm được nhất thời đó.
Những người có uy tín xã hội hoặc nắm giữ quyền lực đều có thể trở nên giàu có,
nhưng những người giàu chưa chắc đã có uy tín và vị thế cao trong hệ thống phân
tầng xã hội. Điều này cho thấy tính phức tạp và năng động của các quá trình di
động, cơ động của sự phân tầng xã hội.
Bất bình đẳng xã hội là sự phân hoá xã hội đến mức làm tăng lợi ích của tầng
lớp xã hội này với cái giá của sự phương hại lợi ích của nhóm xã hội khác trong
cấu trúc phân tầng xã hội nhất định. Sự phân hoá xã hội luôn dẫn đến sự khác nhau
thậm chí sự phân tầng xã hội nhưng không phải sự phân hoá nào, cũng không phải
sự phân tầng xã hội nào cũng là sự bất bình đẳng xã hội. Ví dụ, sự khác nhau về
năng lực và trình độ học vấn, tay nghề có thể dẫn đến sự khác nhau về thu nhập
giữa các nhóm người. Nhưng đây chưa chắc đã là sự bất bình đẳng xã hội bởi vấn

Trích đoạn Khoảng cách giàu nghèo về tài sản giữa các nhóm về đồ dùng lâu bền. Khoảng cách giàu nghèo và tỉ lệ người biết chữ theo vùng Khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn về cơ hội đến trường Khoảng cách giàu nghèo và và cơ hội đến trường giữa các vùng Tình trạng sức khỏe: Tuổi thọ và chiều cao của dân số Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status