LUẬN VĂN: Hai mặt tăng trưởng kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội - Pdf 10

LUẬN VĂN:

hai mặt tăng trưởng kinh tế và đảm
bảo công bằng xã hội

Tính cấp thiết của đề tài
Triết học Mác-Lênin đã vạch rõ về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc
thượng tầng trong xã hội có giai cấp là cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng và
kiến trúc thượng tầng có tác động trở lại với cơ sở hạ tầng. Một xã hội muốn phát triển ổn
định, bền vững cần phải được xây dựng trên nền tảng của cơ sở hạ tầng bền vững. Do đó,
đối với mỗi một quốc gia, việc xây dựng một nền kinh tế phát triển ổn định, hiệu quả cao
chính là một bộ phận quan trọng trong việc xây dựng cơ sở hạ tần bền vững góp phần quyết
định đối với kiến trúc thượng tầng.
Văn kiện Đại hội Đảng nước ta đã chỉ rõ: “Xây dựng nền kinh tế nước ta trở thành
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa” . như vậy, từ chỗ xác định rõ vai trò quyết
định của cơ sở hạ tầng chúng ta đã xác định rõ đẻ xây dựng nền kinh tế thị trường ở nước ta
cần có sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế với chức năng quản lý theo định hướng xã hội
chủ nghĩa. Chính vì vậy, chúng ta cần đi sâu nghiên cứu về lý luận vai trò kinh tế của Nhà
nước và thực trạng sự quản lý nền kinh tế ở nước ta để đề ra những biện pháp cần thiết để
tăng cường vai trò đó trong hiện tại cũng như tương lai.
Sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước mà toàn Đảng, toàn dân, toàn
quân ta đang hăng hái thực hiện cần có một sự chỉ đạo nhất quán và thống nhất, một người
thuyền trưởng kiên định điều khiển con tàu đi đúng hướng.
Xét về mặt thực tiễn, sau khi chính sách đổi mới kinh tế của Nhà nước ta được qpa
dung, chúng ta đã thu được rất nhiều thành tựu đáng tự hào. Khái quát là:
-Xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình
độ của lực lượng sản xuất . Bước đầu tạo một cơ cấu kinh tế nhằm phát triển sản xuất.
-Làm đủ ăn và có tích luỹ
-Tạo ra sự tiến bộ đáng kể về mặt xã hội
-Bảo đảm nhu cầu củng cố quốc phòng và an ninh. -Tốc độ tăng GDP cao và ổn định.
- Xuất khẩu liên tục tăng.

biện chứng ở đây là cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng. Cơ sở hạ tầng
nào thì sinh ra kiến trúc thượng tầng ấy, giai cấp nào chiếm địa vị thống trị về
kinh tế thì cũng chiếm địa vị trong đời sống tinh thần. Ngược lại kiến trúc thượng
tầng có tác động tích cực đối với cơ sở hạ tầng thể hiện ở chức năng xã hội của
kiến trúc thượng tầng là bảo vệ, duy trì và củng cố cơ sở hạ tầng sinh ra nó. Trong
xã hội có giai cấp đối kháng, kiến trúc thượng tầng bảo đảm sự thống trị về chính
trị và tư tưởng của giai cấp giữ địa vị thống trị trong nền kinh tế.
+, Do sự phát triển của trình độ xã hội hoá sản xuất. Lực lượng sản xuất càng
phát triển kéo theo quan hệ xã hội cũng phát triển tương ứng phù hợp với tính
chất trình độ của lực lượng sản xuất. Nền sản xuất càng được xã hội hoá thì càng
đòi hỏi phải củng cố hơn nữa vai trò kinh tế của nhà nước.
Đối với nhà nước ta thì tư tưởng nhà nước can thiệp vào kinh tế cũng được
hình thành từ rất sớm. Nhiều tư liệu lịch sử đã cho thấy rằng ngay từ buổi đầu
nhà nước phong kiến Việt Nam đã can thiệp vào kinh tế với tư cách là tư liệu sản
xuất quan trọng nhất của nền văn minh nông nghiệp. Đặc biệt là các nhà nước đã ý
thức được rất sâu sắc về quyền sở hữu ruộng đất và ra sức thực hiện các biện pháp
để duy trì củng cố quyền lực của nhà nước trung ương, kiểm soát hoạt động của
các quan lại, địa chủ . . .
2. Sự ra đời và phát triển vai trò kinh tế nhà nước qua lịch sử các học
thuyết của các trường phái.
ở mục trên nếu ta nhìn trên phương diện lịch sử phát triển, hình thành vai trò
kinh tế của nhà nước chỉ mang tính chất bộc phát, chắp vá cùng với sự phát triển
và hình thành của nhà nước. Tuy nhiên dưới con mắt của những nhà khoa học
những ông tổ của trường phái kinh tế chính trị thì sự ra đời và phát triển vai trò
kinh tế của nhà nước lại mang tính quy luật và là một tất yếu khách quan. Để thấy rõ điều khẳng định này chúng ta hãy cùng nghiên cứu lịch sử các học thuyết của
các trường phái.
Mở đầu là tư tưởng nhà nước không can thiệp vào kinh tế, tất cả mọi hoạt

tệ một cách nghiêm ngặt hạn chế hàng ngoại nhập qui định tỷ giá hối đoái bắt
buộc, thực hiện chế độ thuế quan bảo hộ Sau giai đoạn chủ nghĩa trọng thương
vai trò kinh tế của nhà nước không còn được coi trọng như trước, mà bao trùm lên
toàn bộ nền kinh tế là tư tưởng do kinh tế Adamsmith. Chỉ đến khi các cuộc khủng
hoảng kinh tế kéo dài bắt đầu tác động xấu đến nền kinh tế mà đặc biệt là cuộc
khủng hoảng kinh tế năm 1929- 1933, 1972 – 1975 đã chứng tỏ rằng “bàn tay vô
hình” không còn bảo đảm sự ổn định cho nền kinh tế. Mặt khác, trình độ xã hội
hoá sản xuất phát triển ngày càng cao đã chỉ cho các nhà kinh tế thấy rằng: Cần
phảI có sự can thiệp của nhà nước vào quá trình hoạt động của nền kinh tế, điều
tiết nền kinh tế.
Nhà kinh tế học người Anh John MerneyKeneys một đại diện tiêu biểu cho
chủ nghĩa trọng thương giai đoạn cuối thế kỷ 19. Ông đã đưa ra lý thuyết nhà
nước điều tiết nền kinh tế. Mà theo ông nhà nước can thiệp vào kinh tế cả tầm vi
mô lẫn vĩ mô. ở tầm vĩ mô nhà nước sử dụng công cụ là lãi suất, chính sách tín
dụng, điều tiết lưu thông tiền tệ, lạm phát, thuế, bảo hiểm . . .ở tầm vi mô nhà
nước trực tiếp phát triển các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh dịch vụ lao động.
Ông cho rằng chỉ như vậy mới có thể khắc phục đươc khủng hoảng và thất nghiệp
tạo sự ổn định cho phát triển kinh tế xã hội.
Tuy nhiên ngay cả đối với mô hình nền kinh tế tự do của Adamsmith hay mô
hình nền kinh tế nhà nước của John MerneyKeneys thì khủng hoảng và thất nghiệp
vẫn xẩy ra trầm trọng. Chính vì vậy mà tư tưởng có sự kết hợp cả thị trường và
nhà nước ra đời mà tiêu biểu là học thuyết kinh tế hỗn hợp của Samuelson nhà
kinh tế học người Mỹ. Theo ông “điều hành một nền kinh tế không có cả chính
phủ lẫn thị trường thì cũng như vỗ tay bằng một bàn tay”. Cơ chế thị trường xác định giá cả và sản lượng trong nhiều lĩnh vực trong khi chính phủ điều tiết thị
trường bằng các chương trình thuế, chỉ tiêu và luật thuế. Cả hai bên thị trường và
chính phủ đều có tính thiết yếu.
Sự phát triển và ra đời của các học thuyết ngày càng phản ánh một cách chính xác hơn

+ Ba là, nhà nước không thể kiểm soát nền kinh tế một cách hoàn thảo nếu không ta
sẽ không phải chứng kiến những suy thoái và lạm phát trầm trọng, bởi vậy để quản lý nền
kinh tế nhà nước cần phải đặt các nhiệm vụ quan trọng lên trên hết. Như để giải quyết
những tác động bên ngoài gây ra (ô nhiễm môi trường sống) chính phủ có thể bắt buộc
những doanh nghiệp phải nộp phạt những thiệt hại do ô nhiễm mà các doanh nghiệp gây ra.
Chính sự can thiệp này của chính phủ sẽ làm cho thị trường hoạt động được hiệu quả hơn.
Một nguyên nhân khác nữa cũng làm giảm tính hoạt động hiệu qủa của thị trường đó là sự
xuất hiện độc quyền. Các tổ chức độc quyền thường thì để tăng doanh thu họ thường tăng
giá dẫn đến lợi nhuận của họ thì cao lên còn lợi ích của người tiêu dùng bị giảm xuống. Một
nền kinh tế được thúc đẩy bởi sự cạnh tranh nhưng có cạnh tranh sẽ làm hạn chế khả năng
đạt lợi nhuận độc quyền cho nên các doanh nghiệp thường giảm bớt cạnh tranh. Vì vậy nhà
nước có một nhiệm vụ rất cơ bản đó là bảo vệ cạnh tranh, chống độc quyền để nâng cao
tính hoạt động hiệu quả của thị trường.
+ Bốn là: đồng thời để đảm bảo tính hiệu quả thì nhà nước phải sản xuất ra hàng
hoá công cộng, đảm bảo xây dựng kết cấu hạ tầng cho nền kinh tế, thực hiện công bằng xã
hội. Sự hoạt động của cơ chế thị trường có thể làm cho nền kinh tế hoạt động có hiệu quả
cao hơn. Nhưng cơ chế thị trường hoạt động phi nhân tính, nó không tính đến các khía cạnh
nhân đạo và xã hội, không mang lại những kết quả mà xã hội cố gắng vươn tới. Việc phân
phối và sử dụng tối ưu các nguồn lực không tự động mạng lại một sự phân phối thu nhỏ tối
ưu. Qua quan điểm chủ đạo của chủ nghĩa Mác Lênin và chi tiết vai trò điều tiết nền kinh tế
thị trường của nhà nước, ta thấy với chiều dài lịch sử thì các học thuyết kinh tế chính trị
ngày càng được hoàn thiện hơn và phản ánh một cách khách quan hơn các quy luật kinh tế.
Và khẳng định muốn vận hành được nền kinh tế phát triển thì cần phải có sự điều tiết của nhà nước khi đó sẽ vừa tạo được sự ổn định, vừa phát huy được sự phát triển của nền kinh
tế.
II. Sự hình thành cơ chế quản lý mới của Việt Nam
1. Cơ chế quản lý cũ
Trong quá trình phát triển của lịch sử xã hội nước ta đã trải qua nhiều thời kỳ phát

đích hoạt động của các thành viên tham gia thị trường như các doanh nghiệp, cá nhân, các
thành phần kinh tế xã hội khác không tuân theo quy luật tự nhiên của kinh tế hàng hóa là
kinh doanh vì lợi nhuận mà tuân thủ theo một cách nghiêm ngặt hệ thống chỉ huy từ một
trung tâm. Bên cạnh đó có các cơ quan hành chính sự nghiệp can thiệp quá sau vào hoạt
động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở, làm chậm tốc độ phát triển sản xuất
nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về mặt vật chất đối với những quyết định của mình.
Thực hiện cơ chế quản lý chỉ huy, Nhà nước ta đã bỏ qua quan hệ hàng hóa tiền tệ,
các quan hệ mang lại hiệu quả cho nền kinh tế mà quản lý nền kinh tế bằng cách kế hoạch
hóa thông qua chế độ cấp phát và giao nộp sản phẩm, quan hệ hiện vật là chủ yếu, do vậy
hạch toán kinh tế chỉ mang tính hình thức, chế độ bao cấp được thể hiện qua các hình thức
như bao cấp qua giá, bao cấp qua tiền lương, qua hiện vật (chế độ tem phiếu) và bao cấp
qua cấp phát vốn của ngân sách Nhà nước mà không rằng buộc trách nhiệm vật chất đối với
người được cấp phát sử dụng vốn.
Nhược điểm: với việc thực hiện cơ chế quản lý chỉ huy trong thời gian dài nó đã dẫn
đến hình thành một bộ máy quản lý cồng kềnh của Nhà nước đối với nhiều cấp ngành, đơn
vị trung gian hoạt động trồng chéo lên nhau, hiệu qủa kém, từ đó phát snh ra một đội ngũ
cán bộ có năng lực quản lý, năng lực chuyên môn nhưng không được sử dụng, phát huy có
hiệu quả nhưng phong cách hoạt động rất quan liêu cửa quyền dẫn đến trì trệ, kìm hãm sự
phát triển của kinh tế xã hội trong một thời gian dài, đây là gánh nặng lớn cho đất nước
trong giai đoạn đổi mới hiện nay.
2. Cơ chế thi trường và sự vận dụng vào Việt Nam
a. Khái niệm kinh tế thị trường. Cơ chế thị trường là tổng thể hữu cơ của những mối quan hệ kinh tế biểu hiện ở các
yếu tố cung cầu và giá cả. nó chịu sự chi phói của “bàn tay vô hình” hay các quy luật vốn
có của kinh tế thị trường, đảm bảo nền kinh tế thị trường có thể tự vận động tự điều chỉnh
được.
Tuy nhiên ta cũng có thể thấy định nghĩa khác như sau: Cơ chế thị trường là cơ chế tự
điều chỉnh nền kinh tế hàng hóa dước sự tác động khách quan của các quy luật kinh tế vốn

dựng xã hội công bằng, văn minh. Với su hướng phát triển hiện nay thì cơ chế quản lý tập
trung quan liêu bao cấp đã bộc lộ rõ những yếu kém, đặc biệt là đã vi phạm quy luật khách
quan của sản xuất trong đó quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất, không tuân thủ theo “quá trình lịch sử tự nhiên” trong sự phát triển xã hội
nói chung và trong nền kinh tế nói riêng, do vậy nhu cầu cấp bách hiện nay là xoá bỏ từng
bước cơ chế quản lý chỉ huy, tạo điều kiện cho nền kinh tế thị trường dứa sự quản lý của
Nhà nước có điều kiện phát triển như Lê-Nin đã nói “nhiệm vụ của chủ nghĩa tư sản là
chủ yếu giải quyết về mặt chính quyền Nhà nước, làm cho kiến trúc thượng tầng phải thích
ứng với cơ sở hạ tầng”
Tại đại hội Đảng lần thứ VI đã khẳng định “…tiếp tục xoá bỏ cơ chế tập trung, quan
liêu bao cấp, hình thành đồng bộ và vận hành có hiệu quả cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước…” đại hội Đảng đã khẳng định cơ chế thị trường đã phát huy được tính tích
cực to lớn đến sự phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, nó chẳng những
không đối lập mà cònlà nhân tố khách quan cần thiết cho xây dựng và phát triển đất nước
theo con đường xã hội chủ nghĩa vì vậy “…tiếp tục đổi mới cơ chế kinh tế với mục tiêu xoá
bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, hình thành cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước theo định hướng phát triển xã hội chủ nghĩa”.
Nền kinh tế của nước ta hiện nay hoạt đọng theo những quy luật kinh tế vốn có như
quy luật gía trị, quy luật cung cầu, quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật cạnh tranh. Đây là bộ máy kinh tế điều tiết sự vận động của nền kinh tế thị trường thông qua việc điều tiết sản
xuất vào lưu thông hàng hóa vận hành nền kinh tế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước.
Cơ chế thị trường là một cơ chế điều tiết các quan hệ cung cầu, giá cả thị trường làm cho
người sản xuất và người tiêu dùng điều chỉnh hành vi của mình để thích ứng và tồn tai trên
thị trường. Ngoài ra điểm then chốt của kinh tế thị trường là lợi nhuận, đây là động cơ thúc
đẩy từng doanh nghiệp, từng cá nhân nói riêng và thị trường hàng hóa nói chung phải
nghiên cứu tìm hướng phát triển đi lên.
Mọi hình thái kinh tế xã hội đều đượcnghiên cứu, tổ chức bằng cách này hay cách
khác để huy động và sử dụng với hiệu quả tối đa các nguồn lực của xã hội nhằm sản xuất ra

các vụ tham nhũng, sử dụng tài sản Nhà nước vào các mục đích cá nhân ngày càng ra tăng
(Vụ án nhà máy dệt Nam Định là một điển hình) ngoài ra các doanh nghiệp vì lợi nhuận đã
vi pham các quy định về bảo vệ môi trường sinh thái, số lượng diện tích rứng bị chặt phá
để lấy gỗ mở rộng diện tích canh tác đã lên tiếng báo động mà hậu quả là gây hậu quả đến
sức khoẻ cong người làm cạn kiệt các nguồn động thực vật…
Để phát huy những ưu điểm hạn chế những nhược điểm trong cơ chế thị trường cần
phải tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước, chính vì vậy ở tất cả các nước vận dụng cơ
chế thị trường đều có sự can thiệp của Nhà nước để hạn chế mặt trái của nó. Vai trò của
Nhà nước trong nền kinh tế thị trường rất quan trọng,nó góp phần ổn định về mặt chính trị,
xã hội thiết lập khuôn khổ xã hội cho các hoạt đọng kinh tế, nó thường xuyên điều tiết các
quy luật kinh tế để đảm bảo cho nền kinh tế vận hành ổn định. Nhờ có sự quản lý của Nhà
nước góp phần ổn định chu kỳ kinh doanh, tránh biến động của giá cả trên thị trường, Nhà
nước đã bằng các quyền lực của mình khống chế giá của các doanh nghiệp sản xuất điều
tiết hàng hóa kịp thời đến những khu vực thị trường trọng điểm để dần ổn địng giá cân bằng
cung cầu thị trường.
Nhà nước đưa ra các chính sách tiền tệ để duy trì sự phát triển của đất nước đảm bảo
đầy đủ việc làm, giữ mức lạm phát tại mức thấp, ổn định tỷ giá của đồng Việt Nam với các
đồng ngoại tệ khác tạo niềm tin cho các đơn vị xuất nhập khẩu, các nhà đầu tư nước
ngoài… sự can thiệp của Nhà nước nhằm phân phối lại thu nhập, đảm bảo cho sự công bằng giữa các thành viên trong xã hội, ví dụ Nhà nước đánh thuế cao vào những mặt hàng
sinh lợi nhuận, những đối tượng có thu nhập cao để giành vốn đầu tư những khu vực kinh tế
kém phát triển, từng bước xoá bỏ sự tách biệt giữa nông thôn và thành thị, nâng cao mức
sống của những người có thu nhập thấp. Trong điều kiện chuyển sang kinh tế hàng hóa vận
hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
Nhà nước ta luôn tạo điều kiện môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh tế phát triển,
xây dựng một hệ thống pháp lý tương đối đồng bộ tạo đà cho các doanh nghiệp phát triển.
Mặt khác, Nhà nước còn định hướng sự phát triển vào các lĩnh vực mà nước ta có thế
mạnh để hướng đạo nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. ổn định nền

đề phòng thiên tai, địch hoạ hay có sự trợ giúp về giá cho một mặt hàng chiến lược tránh
tình trạng biến động thị trường dẫn đến ảnh hưởng xấu đến tâm lý người tiêu dùng, gây mất
ổn định tình hình chính trị xã hội.
Việc sử dụng đồng bộ, linh hoạt các chính sách kinh tế nêu trên giúp Nhà nước đảm
bảo cho nền kinh tế phát triển cân đối với tốc độ tăng trưởng cao, từng bước hội nhập vào
nền kinh tế thế giới giữ được ổn định về mặt thị trường, kiểm soát được giá cả, lạm phát
trong khi đó vẫn giữ được ổn định về mặt chính trị xã hội, nâng cao toàn diện đời sống của
người dân, đảm bảo sự công bằng văn minh xã hội. Trên thực tế những năm vừa qua nền
kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ, tạm thời vượt qua khủng hoảng
kinh tế trong thời gian dài, giảm được tốc độ lạm phát, đồng tiền đã giữ được ổn định, giảm
nhập siêu, tự túc được nhu cầu về lương thực và hướng đến xuất khẩu. Về cơ chế quản lý,
từng bước được đổi mới, loại bỏ được cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, đã tích luỹ được
kinh nghiệm trong quản lý điều tiết nền kinh tế vĩ mô, đảm bảo vận dụng cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước theo định hưóng xã hội chủ nghĩa trở thành cơ chế chủ đạo vân
hành nền kinh tế .
Ngày nay, nhằm phát huy đuợc tính tích cực củ cơ chế thị trường và hạn chế những
mặt trái của thị trường để đặt ra các mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đề ra là dân giàu,
nước mạnh xã hội công bằng văn minh, Đảng và Nhà nước ta đang tích cực phát huy vai
trò, chức năng quản lý nền kinh tế trên các mặt. Phát triển một nền kinh tế thị trường đồng bộ, lành mạnh tạo điều kiện cho cơ chế thị
trường hoạt động một cách có hiệu quả.
Tăng cường quản lý Nhà nước về kinh tế trong bước chuyển đổi sang cơ chế thị
trường .
Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện các công cụ quản lý vĩ mô trọng yếu.
Hoàn thiện và làm sạch bộ máy quản lý Nhà nước về kinh tế .
Tuyển chọn và đào tạo lại đội ngũ viên chức Nhà nước làm công tác quản lý kinh tế
và đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp.
Tóm lại việc vận hành cơ chế thị trường trong giai đoạn hiện nay đối với nền kinh tế

nước.
Kế hoạch hoá của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường có những tác dụng sau
đây:
1. Đề ra mục tiêu và những trật tự ưu tiên rõ ràng cho các chính sách
2. 2. Phát hiện ra những vấn đề tồn tại cần khắc phục, những mối tương quan cần giải
quyết một cách đồng bộ.
3. 3.Định hướng hoạt động cho mọi thành viên trong xã hội, trước hết cho các doanh
nghiệp.
4. Tạo những ràng buộc đối với cơ quan chính phủ trong việc thực hiện các phương
hướng đã được kế hoạch hoá.
Trong thời gian vừa qua ở Việt Nam, mặc dù một chiến lược dài hạn để phát triển
kinh tế xã hội cho thời kỳ để năm 2000 và các kế hoạch mang tính chất hướng dẫn hàng
năm đã được xây dựng, nhưng căn cứ khoa học của kế hoạch còn chưa đầy đủ, hệ thống
chính sách định hướng và biện pháp hỗ trợ cho sự phát triển theo các kế hoạch đó chưa đủ
hiệu lực. Chưa kể đến các doanh nghiệp tư nhân, mà ngay cả các doanh nghiệp quốc doanh
cũng chưa thấy sự cần thiết và ích lợi trực tiếp khi tuân theo sự hưóng dẫn của kế hoạch. Rõ ràng là hệ thống kế hoạch còn cần phải hoàn thiện hơn rất nhiều để có thể hoàn thành được
chức năng định hướng sự phát triển của nó.
Với tư cách là người điều chỉnh, ngày nay ở mọi nước bất kể có thể chế chính trị
và xã hội như thế nào, Nhà nước đều tác động vào cả hai lĩnh vực kinh tế và xã hội, tất
nhiên với mức độ và phạm vi khác nhau.
Trong lĩnh vực kinh tế, về mặt lý thuyết thì tốt nhất Nhà nước không trực tiếp điều
khiển hoạt động của các doanh nghiệp, mà tạo ra những điều kiện và môi trường chứa đựng
những mục tiêu mà nhà nước muốn đạt tới, nhưng để các doanh nghiệp tự chủ hoạt động
tính toán được kết quả và những tác động kinh tế xã hội mà hoạt động của chúng mang lại
và tự quyết định cách ứng xử thích hợp trong khuôn khổ môi trường đó. Thị trường sẽ trở
thành một hệ thống trao đổi mà trong đó các doanh nghiệp cạnh tranh đồng thời hợp tác với
nhau nhằm thực hiện các lợi ích của chúng trong bối cảnh lợi ích chung của xã hội.

vai trò điều tiết bởi vì một mặt, đối với việc phát triển nguồn lực con người cần phải đầu tư
dài hạn và không thể tính toán hiệu quả một cách giản đơn như đầu tư sản xuất và thương
mại. Mặt khác, những mục tiêu xã hội mà Nhà nước có chức năng thực hện không thể dựa
trên cơ sở của cơ chế thị trường. Điều đó đòi hỏi Nhà nước phải có hệ quan điểm rõ ràng
trong chính sách tài chính công cộng và thực hiện nó một cách nhất quán.
Với tư cách người đầu tư kinh doanh, Nhà nước trực tiếp tham gia vào việc kinh
doanh trong một số lĩnh vực. ở Việt Nam hiện còn những ý kiến khác nhau về việc Nhà
nước tham gia kinh doanh của khu vực Nhà nước thấp, nên Nhà nước chỉ đầu tư kinh doanh
những gì mà tư nhân không làm. một ý kiến khác mở rộng h9ơn khu vực hoạt động của các
doanh nghiệp nhà nước sản xuất các hàng hoá và dịch vụ công cộng, đảm bảo phát triển kết
cấu hạ tầng. í kiến thứ 3 cho rằng khu vực nhà nước phải nắm “các đỉnh cao chỉ huy”, phải
khai phá các ngành mới và tạo hiệu quả lan truyền cho kinh tế tư nhân, hơn thế trong một
thời gian dài nữa còn phải tích cực đầu tư vào các ngành tạo thu nhập cao cho ngân sách.
Với chức năng như vậy, mặc dù khu vực nhà nước có thể chiếm tỷ trọng không lớn trong
nền kinh tế nhưng nó tác động dẫn dắt sự phát triển. nếu chỉ xét đến lập luận về mặt kinh tế thuần tuý, thì chủ trương củ các cơ quan lãnh đạo cao nhất cảu Việt Nam là thuộc loại ý
kiến này. những lập luận về mặt kinh tế chính trị và xã hội củng cố thêm vai trò “chủ đạo”
của khu vực nhà nước trong nền kinh tế nhiều thành phần sẽ phải xây dựng.
2. Mục tiêu chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước.
Nhà nước thực hiện các vai trò kinh tế của mình thông qua các chức năng kinh tế.
Chức năng kinh tế của nhà nước đó là chức năng tổ chức kinh tế trong nước và chỉ đạo hoạt
động kinh tế đối ngoại. chức năng đó được thể hiện như sau:
Chức năng thứ nhất: Quản lý kinh tế trực tiếp
Chức năng này liên quan đến vai trò đặc biệt của nhà nước XHCN, với tư cách là
một trung tâm kinh tế của nhà nước. Nhà nước phải hoạch định kế hoạch bảo đảm sự phát
triển của nền kinh tế quốc như một thể thống nhất nhằm phục vụ lơị ích, nâng cao phúc lợi
và sự phát triển toàn diện cảu các thành viên xã hội, thể hiện ưu thế quan điểm kinh tế quốc
dân trong sự phát triển mọi đơn vị sản xuất của nền sản xuất xã hội. Quản lý kinh tế trực

định hướng, hướng dẫn do nhà nước xây dựng nhằm xác định hướng phát triển và cân đối
lớn cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Kế hoạch trong cơ chế mới không phải là áp đặt mà
là định hướng và thực hiện theo dự án.
b. Hệ thống pháp luật:
Trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước pháp luật thể hiện vai trò
của nó trên hai phương diện:
Thứ nhất: pháp luật tạo môi trường tự do cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp. Nhờ
có pháp luật mà các doanh nghiệp biết mình không được làm, được làm những gì và làm điều đó
trong khuôn khổ cho phép nào.
Thứ hai: Pháp luật là công cụ cưỡng chế hành vi các doanh nghiệp, bắt buộc họ phải
tuân theo những quy định sao cho không làm tổn hại đến lợi ích chung của xã hội. c. Hệ thống chính sách và công cụ kinh tế:
Hệ thống các chính sách và công cụ kinh tế giúp nhà nước có thể điều khiển hoạt
động của các doanh nghiệp. Chính sách tài chính quốc gia là công cụ điều tiết có hiệu quả
nhất trong nền kinh tế thị trường. Nó bao gồm ngân sách nhà nước và chính sách tiền tệ.
Về thu chi ngân sách: Nhà nước phải xác định hiện trạng nền kinh tế và dự báo khả
năng phát triển của nền kinh tế trong tương lai. Từ đó xác định được thu chi ngân sách theo
mục tiêu đã định.
Chính sách thuế: chính sách thuế của nhà nước có tác động lớn đến hoạt động của các
doanh nghiệp. Thông qua thuế, nhà nước điều chỉnh cơ cấu kinh tế, kích thích hay hạn chế
hoạt động sản xuất kinh doanh của từng ngành, từng lĩnh vực.
- Chính sách tiền tệ của nhà nước phải phù hợp vơí quy luật lưu thông tiền tệ trong
cơ chế thị trường. Chính sách tiền tệ gồm hai loại chính sách định hướng sau:
- Chính sách tiền tệ mở rộng: là chính sách nhằm cung cấp thêm tiền tệ cho nền
kinh tế để khuyến khích đầu tư, phát triển sản xuất.
- Chính sách tiền tệ thu hẹp: là chính sách nhằm giảm bớt lượng cung ứng tiền tệ
nhằm hạn chế đầu tư ngăn chặn sự phát triển quá đà của nền kinh tế, ngăn chặn lạm phát.
- Chính sách tiền tệ hướng vào mục tiêu lớn: gia tăng sản lượng, thúc đẩy kinh tế phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status