LUẬN VĂN: Chất lượng tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2006- 2011 pot - Pdf 12

LUẬN VĂN

“ Chất lượng tăng trưởng kinh tế giai
đoạn 2006- 2011”
DANH MỤC BẢNG
1. Bảng 1. GDP của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2011, theo giá so sánh năm
1994……………………………………………………………………………………… 16
2. Bảng 2. Tỷ trọng các ngành trong GDP, 2006 – 2011 (% theo giá so sánh)……………… 18
3. Bảng 3 . Cơ cấu lao động Việt Nam phân theo nhóm ngành kinh tế. (%)…………………20
4. Bảng 4 . Cơ cấu thành phần kinh tế trong GDP Việt Nam. (% theo giá so sánh năm
1994)……………………………………………………………………………………………………21
5. Bảng 5. Năng suất lao động xã hội của Việt Nam, 2007 – 2009 ……………… 22
6. Bảng 6. Năng suất lao động một số nước năm 2010…………………………………………22
7. Bảng 7. Hệ số ICOR của Việt Nam giai đoạn 2007- 2011………………………………… 24
8. Bảng 8. Hệ số ICOR từ vốn đầu tư và tích lũy tài sản…………………………………… 24
9. Bảng 9. ICOR theo khu vực sở hữu…………………………………………………………24
10. Bảng 10. So sánh mức thu nhập từ vốn và vốn đầu tư( Đơn vị: tỷ đồng/ giá thực tế)… 25
11. Bảng 11. Đóng góp của TFP vào tăng trưởng của một số nước. 2005 – 2010…………….26
12. Bảng 12. Đóng góp của các yếu tố vào GDP( %)………………………………… ……….26
13. Bảng 13 . Việt Nam trong bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu giai đoạn 2006 –
2011……………………………………………………………………………………………………30
14. Bảng 14. Tỷ lệ thất nghiệp giai đoạn 2006 – 2011 (đơn vị %)…………………………… 32
15. Bảng 15. Tỷ lệ thiếu việc làm giai đoạn 2006 – 2011 (tỷlệ %)…………………………… 33

GCI : Chỉ số năng lực tăng trưởng
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội( Gross domestic product)
GNI : Tổng thu nhập quốc dân( Gross national income)
GO : Tổng giá trị sản xuất( Gross output)
HDI : Chỉ số phát triển con người( Human Development Index)
I : Đầu tư tích lũy tài sản
IC : Chi phí trung gian
ICOR : Hệ số sử dụng vốn( Incremental Capital- Output Ratio)
IM : Kim ngạch nhập khẩu
IMF : Quỹ tiền tệ Quốc tế( International Monetary Fund)
I
n
: Thu nhập của người có tiền cho vay
KH- CN : Khoa học- công nghệ
NDI : Thu nhập quốc dân sử dụng( National Disposable Income)
NI : thu nhập quốc dân( National Income)
NS : Tỷ lệ nhập siêu
NSNN : Ngân sách Nhà nước
P
r
: Thu nhập của người có vốn
R : Thu nhập của người có đất cho thuê
ROA : Tỷ suất lợi nhuận ròng trên tài sản( Return on Assets) ROE : Tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn sản xuất kinh doanh
( Return on Equity)
ROS : Tỷ suất lợi nhuận ròng trên doanh thu( Return on Sales)
T
i

2.2. Các tiêu chí đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế 6
2.2.1. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế theo chiều sâu 6
2.2.2. Các chỉ tiêu phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế 7
2.2.3. Các chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế liên quan đến năng lực cạnh tranh của nền kinh
tế…………………… 8
2.2.4. Các chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế liên quan đến phúc lợi xã hội 10
2.2.5. Các chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế liên quan đến môi trường và tài nguyên 11
2.3. Các nhân tố tác động đến tôc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế 11
2.3.1. Các nhân tố kinh tế 11
2.3.2. Các nhân tố phi kinh tế 12
2.4. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 13
CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 2006 – 2011 15
3.1 Phương pháp hệ nghiên cứu các vấn đề 15
3.1.1. Phương pháp thu thập thông tin 15
3.1.2. Phương pháp xử lý số liệu 15
3.1.3. Phương pháp phân tích dữ liệu 15
3.2. Tổng quan tình hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2006 – 2011 16
3.2.1. Những thành tựu nổi bật trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2006 – 2011 16
3.2.2. Những hạn chế của tăng trưởng kinh tế Việt Nam 17
3.3. Thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2006 – 2011 18
3.3.1. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế 18
3.3.2. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế theo chiều sâu 21 3.3.3 Các chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế liên quan đến năng lực cạnh tranh của nền kinh tế 27
3.3.4. Các chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế liên quan đến phúc lợi xã hội 31
3.3.5. Các chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế liên quan đến môi trường và 36
tài nguyên 36
CHƯƠNG IV: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG

công bằng xã hội, nâng cao đời sống người dân…
Ở Việt Nam, tăng trưởng và phát triển kinh tế luôn được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm trong
các Cương lĩnh và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.Tuy nhiên, trung tâm của quá trình
phát triển không chỉ là tăng trưởng cao mà chất lượng tăng trưởng mới là vấn đề quan trọng và có ý
nghĩa quyết định. Mối quan hệ giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng đang ngày càng được thể hiện rõ,
có lúc khắc chế nhau, lại có giai đoạn hỗ trợ, bổ sung cho nhau. Tuy nhiên, xét đến cùng, mục tiêu
đúng đắn về tăng trưởng kinh tế của một quốc gia đang phát triển như Việt Nam là tốc độ tăng trưởng
kinh tế phải cao, ổn định và bền vững mà điều này chỉ có được khi tăng trưởng có chất lượng tốt.
Những năm gần đây, Việt Nam đã duy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao và liên tục, tính chung cả
thời kỳ 1998 - 2005 tốc độ tăng trưởng bình quân là 7,5 %/năm, giai đoạn 2006 – 2011 tăng trưởng bình
quân 7.01 %/năm. Đó quả là những con số ấn tượng, so với các nước trong khu vực, Việt Nam đứng
vào hàng các quốc gia có tốc độ tăng trưởng rất cao, thu nhập bình quân đầu người tăng lên liên tục, đời
sống nhân dân ngày càng được cải thiện.
Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế của nước ta chưa thực sự ổn định và vững chắc. Tăng trưởng kinh tế
vẫn chủ yếu là theo chiều rộng, chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam đang gặp phải nhiều
vấn đề đáng quan tâm: Trình độ công nghệ của các doanh nghiệp chưa cao, sản phẩm chế biến sâu
chưa nhiều, tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp, các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất vẫn chưa thực sự
được sử dụng hiệu quả, khai thác khoáng sản chưa hợp lý, cảnh quan thiên nhiên và môi trường sống
của con người đang ngày càng bị hủy hoại Nếu các vấn đề này không được giải quyết sớm thì trong
một tương lai không xa, nó sẽ là vật cản cho quá trình phát triển của Việt Nam. Đây là thách thức to lớn
cho những năm sắp tới, khi mà cạnh tranh và hội nhập kinh tế đang ngày càng trở nên sâu sắc hơn. . Vì
2

vậy, việc nghiên cứu và phân tích chất lượng tăng trưởng kinh tế là một đòi hỏi cấp bách. Đó là lý do
mà chúng tôi lựa chọn nghiên cứu Chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2006 – 2011.
1.2. Xác lập và tuyên bố vần đề trong đề tài
Xuất phát từ tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, chúng tôi đã quyết định thực hiện đề tài: “Chất
lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2011”. Trong đề tài nghiên cứu này, chúng
tôi sẽ đi nghiên cứu các vấn đề cụ thể sau:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về tăng trưởng kinh tế và chất lượng tăng trưởng kinh tế, các tiêu

- Có những nhân tố nào tác động đến chất lượng tăng trưởng kinh tế của một quốc gia?
- Việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế đem lại ý nghĩa như thế nào đối với nền kinh tế -
xã hội của đất nước?
- Khi đánh giá tăng trưởng kinh tế, chất lượng tăng trưởng của một quốc gia, người ta thường dựa
vào những chỉ số nào? Cách tính toán các chỉ số đó ra sao? Các chỉ số đó bằng bao nhiêu thì tốt? Bằng
bao nhiêu thì xấu?
- Thực tế các chỉ số để đánh giá tăng trưởng kinh tế, chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
giai đoạn 2006 – 2011 ra sao?
- Việt Nam cần phải làm gì để có thể nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của đất nước trong
giai đoạn tiếp theo?
1.5. Phạm vi đề tài nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu có một vai trò quan trọng đối trong việc thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa
học. Qua đó cho thấy được khả năng cũng như tầm hiểu biết của người thực hiện.
Dựa trên năng lực giới hạn của nhóm, đề tài của chúng tôi tập trung nghiên cứu các tiêu chí đánh
giá tăng trưởng kinh tế và chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong phạm vi thời gian từ năm
2006 – 2011.
1.6. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
 Về mặt lý luận: Nghiên cứu này đóng góp một phần nhỏ để làm rõ hơn khía cạnh chất lượng
tăng trưởng kinh tế về mặt phương pháp luận. Đây là một trong số ít những nghiên cứu về chất lượng
tăng trưởng kinh tế, nó cung cấp khá đầy đủ các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế, chúng
được sắp xếp một cách khoa học, được phân tích, giải thích kỹ lưỡng, dễ hiểu, giúp cho giảng viên và
sinh viên có thêm nguồn tài liệu hữu ích phục vụ cho công cuộc giảng dạy và nghiên cứu.
 Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu đưa ra một số đánh giá bước đầu về chất lượng tăng trưởng kinh
tế của Việt Nam. Khung nội dung phân tích được bổ sung thêm trên cơ sở tổng kết những nghiên cứu
mới của thế giới và Việt Nam một cách logic và khoa học. Ngoài ra, nhiều khía cạnh chưa được nghiên
cứu sâu và đầy đủ cũng là những gợi mở cho các đề tài nghiên cứu tiếp theo của khoa nói riêng và của
toàn trường, toàn xã hộ nói chung.

Ngày nay, yếu tố chất lượng nhân lực và khoa học công nghệ đang có vai trò ngày càng vượt trội
so với các yếu tố truyền thống. Chất lượng tăng trưởng kinh tế theo quan điểm hiệu quả phải là tăng
trưởng theo chiều sâu.
5

 Quan niệm chất lượng tăng trưởng kinh tế là năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh
nghiệp hoặc hàng hóa sản xuất trong nước
Tăng trưởng đi liền với việc nâng cao năng lực cạnh tranh là tăng trưởng có chất lượng cao và
ngược lại.
 Chất lượng tăng trưởng kinh tế là nâng cao phúc lợi của công dân và gắn liền tăng trưởng với
công bằng xã hội:
Chất lượng tăng trưởng kinh tế được thể hiện ở chỗ tăng trưởng kinh tế đáp ứng phúc lợi cho nhân
dân như thế nào.
 Phúc lợi xã hội thể hiện ở thu nhập bình quân đầu người, chất lượng cuộc sống, môi trường xã
hội, môi trường tự nhiên, cơ hội học tập và chăm lo sức khỏe
 Công bằng xã hội thể hiện ở khoảng cách giàu – nghèo trong xã hội được thu hẹp và tỷ lệ người
nghèo trong xã hội giảm bớt.
Sự kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội sẽ tạo ra chất lượng của tăng
trưởng kinh tế.
 Quan niệm chất lượng tăng trưởng kinh tế là phát triển bền vững.
Theo WB, phát triển bền vững là phát triển theo nguyên tắc: “sự thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hôm
nay không làm tổn hại đến sự thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ mai sau”. Phát triển bền vững phải bảo
toàn và phát triển ba nguồn vốn: Tài nguyên môi trường, vốn nhân lực và vốn vật chất.
 Quan niệm chất lượng tăng trưởng kinh tế là thể chế dân chủ trong môi trường chính trị - xã hội
của nền kinh tế
Mức độ dân chủ hóa thể hiện ở tính minh bạch, ít tham nhũng và sự tham gia của người dân vào
quản lý kinh tế - xã hội, nó sẽ tác động mạnh đến tăng trưởng kinh tế và ngược lại. Dân chủ chính là
biểu hiện mặt chất của tăng trưởng kinh tế.
Như vậy, có thể khái quát khái niệm chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam như sau.
Chất lượng tăng trưởng kinh tế cao là sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của nền kinh tế,

ICOR =
Trong đó I/Y là tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP, là tốc độ tăng GDP. Hệ số ICOR tính theo phương
pháp này thể hiện để tăng thêm 1% GDP đòi hỏi phải tăng thêm bao nhiêu phần trăm tỷ lệ vốn đầu tư
so với GDP.
- Tốc độ tăng TFP và tỷ trọng đóng góp của tăng trưởng TFP
Mặc dù hai chỉ tiêu năng suất lao động xã hội và hiệu quả sử dụng vốn thường được sử dụng nhiều
trong phân tích hiệu quả kinh tế, nhưng trên thực tế, trong sản xuất có 3 yếu tố chính làm tăng GDP:
lao động, vốn sản xuất và TFP.
Nếu chỉ chia GDP cho lao động hay lấy vốn đầu tư chia cho mức gia tăng GDP thì những chỉ số
này không thể phản ánh đóng góp riêng của yếu tố năng suất. Năng suất chỉ là phần tăng GDP sau khi
7

trừ đi vai trò của việc tăng số lượng lao động và số lượng tài sản cố định trong sản xuất. Phần thặng dư
này phản ánh việc tăng chất lượng tổ chức lao động, chất lượng máy móc, vai trò của quản lý và tổ
chức sản xuất, được gọi chung là năng suất nhân tố tổng hợp (TFP). TFP là chỉ số phụ thuộc vào hai
yếu tố: tiến bộ công nghệ kỹ thuật và hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào.
TFP tăng nhanh và chiếm tỷ trọng cao trong đóng góp vào tăng trưởng kinh tế sẽ bảo đảm duy trì
được tốc độ tăng trưởng dài hạn và tránh được những biến động kinh tế từ bên ngoài. Tốc độ tăng TFP
và đóng góp TFP vào tăng trưởng kinh tế là chỉ tiêu phản ánh đích thực và khái quát nhất hiệu quả sử
dụng nguồn lực sản xuất, làm căn cứ quan trọng để đánh giá tính chất phát triển bền vững của kinh tế,
là cơ sở để phân tích hiệu quả sản xuất xã hội, đánh giá tiến bộ khoa học công nghệ, đánh giá trình độ
tổ chức, quản lý sản xuất… của mỗi ngành, mỗi địa phương hay mỗi quốc gia.
Tốc độ tăng TFP được tính theo công thức:
= - (α + β )
Trong đó, là tốc độ tăng GDP, là tốc độ tăng vốn cố định, là tốc độ tăng lao động làm
việc, α và β lần lượt là các tham số đóng góp của vốn và lao động (α + β = 1), thường được xác định
bằng phương pháp hạch toán hoặc dựa trên hàm sản xuất Cobb-Douglas.
2.2.2. Các chỉ tiêu phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế thể hiện cấu trúc bên trong của nền kinh tế. Nó biểu hiện qua tỷ trọng của các phần
tử tạo nên cơ cấu và qua các quan hệ chặt chẽ hay lỏng lẻo giữa các phần tử hợp thành. Cơ cấu kinh tế

- Khả năng cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước
Hàng hóa sản xuất trong nước thường được chia làm 2 loại: hàng hóa sản xuất phục vụ xuất khẩu
và hàng hóa sản xuất thay thế nhập khẩu.
 Khả năng cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu:
Với hàng hóa xuất khẩu, khả năng cạnh tranh được tính bằng kim ngạch xuất khẩu trên giá trị sản
xuất hay GDP.
Tỷ lệ xuất khẩu = × 100
Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ một đất nước sản xuất ra sản phẩm đảm bảo chất lượng tốt, được
các nước khác ưa chuộng nên xuất khẩu tốt và như vậy chính là có khả năng cạnh tranh tốt và ngược
lại. Như vậy, nền kinh tế tăng trưởng có chất lượng xét theo khả năng cạnh tranh phải đảm bảo sản
phẩm sản xuất ra có khả năng xuất khẩu tốt, nghĩa là phải đảm bảo tỷ lệ giá trị xuất khẩu trong giá trị
sản xuất phải tăng lên hoặc giữ nguyên. Nếu tỷ lệ xuất khẩu giảm có nghĩa là khả năng cạnh tranh ngày
một giảm, tức là tăng trưởng kinh tế không đồng thuận với khả năng xuất khẩu.
Ngoài ra, khả năng cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu còn thể hiện ở tỷ lệ xuất khẩu sản phẩm sản
xuất từ nguyên liệu trong nước:
Tỷ lệ xuất khẩu sản phẩm sản xuất từ nguyên liệu trong nước =
9

× 100
Sản phẩm xuất khẩu có 2 loại: một loại được làm ra từ nguyên liệu trong nước và một loại làm từ
nguyên liệu của nước ngoài (sản xuất ra sản phẩm hoặc gia công cho nước ngoài).
Nếu sản phẩm xuất khẩu từ nguyên liệu trong nước càng nhiều, tỷ lệ xuất khẩu sản phẩm từ nguyên
liệu trong nước càng cao nghĩa là cùng tổng giá trị xuất khẩu như nhau, chúng ta có thể thu được nhiều
ngoại tệ cho đất nước hơn, tận dụng được nhiều công ăn việc làm cho người dân hơn. Như vậy, tỷ lệ
này càng cao thì tăng trưởng kinh tế càng vững chắc, hạn chế được sự phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu
của nước ngoài.
Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu cũng thể hiện sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu và phản ánh
chất lượng tăng trưởng kinh tế.
 Khả năng cạnh tranh của hàng hóa thay thế nhập khẩu:
Hàng hóa thay thế nhập khẩu thường được bảo hộ bởi các hàng rào thuế quan và phi thuế quan.

- Tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm:
Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với việc tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động, giảm tỷ
lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị và thời gian nông nhàn ở khu vực nông thôn. Điều này đặc biệt có ý
nghĩa đối với một quốc gia đông dân, lực lượng lao động đông đảo và phần lớn là chưa qua đào tạo.
Các thước đo tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm bao gồm so sánh tốc độ tăng số lượng lao
động trong nền kinh tế quốc dân với tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thời gian lao
động không được sử dụng ở nông thôn
- Tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo:
Một nền kinh tế tăng trưởng có chất lượng là nền kinh tế có tăng trưởng đi kèm với xóa đói giảm
nghèo. Các chỉ tiêu như tỷ lệ nghèo đói của một quốc gia và của các vùng, tốc độ giảm tỷ lệ nghèo đói,
% giảm nghèo so với % tăng trưởng thường được sử dụng để phản ánh mối quan hệ giữa tăng trưởng
và giảm nghèo.
- Tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội:
Tiến bộ xã hội được thể hiện rõ nhất ở hai lĩnh vực: giáo dục – đào tạo và y tế. Những tiêu chí về
cơ sở vật chất, số lượng học sinh, giáo viên, số cán bộ ngành y gia tăng thể hiện sự tăng trưởng kinh
tế đã dẫn đến nâng cao phúc lợi xã hội cho người dân. Sự nâng cao về trình độ học vấn và chuyên môn
kỹ thuật, cũng như những cải thiện về mặt sức khỏe và chăm sóc y tế đối với người dân có thể được coi
là kết quả của việc gia tăng phúc lợi xã hội và thể hiện rõ nét chất lượng tăng trưởng kinh tế. Đặc biệt,
chỉ số phát triển con người (HDI) là một chỉ tiêu tổng hợp, thể hiện khá toàn diện tiến bộ của một quốc
gia trên hai mặt kinh tế (GDP/người) và xã hội (tuổi thọ và trình độ giáo dục).
- Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội:
Khái niệm công bằng xã hội có tính chất rộng và phức tạp, nó dẫn đến những khác biệt trong việc
thể hiện và sự khác biệt trong các thước đo công bằng xã hội. Một số công cụ và thước đo chủ yếu
11

được sử dụng là: đường cong Lorenz, hệ số Gini, mức độ thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người, chỉ
số phát triển xã hội tổng hợp
2.2.5. Các chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế liên quan đến môi trường và tài nguyên
Tăng trưởng kinh tế cùng việc tổ chức sản xuất của con người luôn gắn liền với việc khai thác các
nguồn tài nguyên và môi trường thiên nhiên để sản xuất. Tăng trưởng kinh tế và sử dụng tài nguyên

Như vậy, có thể thấy nguồn gốc của tăng trưởng do nhiều yếu tố hợp thành, vai trò của chúng phụ
thuộc vào hoàn cảnh và thời kỳ phát triển của mỗi quốc gia. Đối với các nước nghèo, vốn vật chất, lao
động rẻ và tai nguyên thiên nhiên đóng vai trò quan trọng. Ngược lại, đối với các nước công nghiệp thì
vai trò của vốn con người và tiến bộ công nghệ quan trọng hơn.
2.3.2. Các nhân tố phi kinh tế
Khác với các nhân tố kinh tế, các nhân tố phi kinh tế như văn hóa – xã hội, thể chế chính trị có tác
động gián tiếp và rất khó lượng hóa cụ thể mức độ tác động của chúng đến tăng trưởng kinh tế.
Văn hóa – xã hội là nhân tố quan trọng, tác động nhiều tới quá trình phát triển của mỗi quốc gia.
Nó bao trùm lên nhiều mặt, từ tri thưc phổ thông đến những tích lũy tinh hoa của văn minh nhân loại về
khoa học công nghệ, văn học, lối sống, phong tục, tập quán… Trình độ văn hóa cao đồng nghĩa với
trình độ văn minh cao và sự phát triển cao của mỗi quốc gia. Nhìn chung, trình độ văn hóa của mỗi dân
tộc là nhân tố cơ bản để tạo ra các yếu tố về chất lượng lao động, kỹ thuật, trình độ quản lý.
Thể chế được hiểu là các rang buộc do con người tạo ra nhằm quy định cấu trúc tương tác giữa
người với người. Các thể chế chính trị - xã hội được từa nhân có tác động đến quá trình phát triển đất
nước, đặc biệt thông qua việc tạo hành lang pháp lý và môi trường đầu tư. Vì nền tảng của kinh tế thị
trường là dựa trên trao đổi của các cá nhân và các nhóm người với nhau, bởi vậy nếu không có thể chế
thì các hoạt động này không thể diễn ra vì người này không thể tương tác với người kia mà không có
chế tài nào đó ngăn cản người kia hành động tùy tiện và nược lại với thỏa thuận. Các cá nhân và doanh
nghiệp chỉ có thể mua, bán, thuê, mướn hợp đồng, đầu tư nếu họ có một mức độ tin tưởng nhất định
rằng các thỏa thuận hợp đồng của họ sẽ được thực hiện. Các cá nhân tham gia giao dịch thường không
có đủ thông tin. Do đó sẽ có các chi phí phát sinh gọi là chi phí giao dịch. Tất cả các chi phí này liên
quan đến thể chế. Một thể chế không tốt sẽ làm cho chi phí thực thi các hợp đồng cao và như thế sẽ
không khuyến khích các giao dịch kinh tế. Hơn nữa, một cấu trúc thể chế tốt sẽ tạo ra sự khuyến khích
nhất định, ảnh hưởng quyết định đến việc phân bổ nguồn lực con người theo hướng tốt hay xấu cho
tăng trưởng kinh tế.
Về nhân tố dân tộc và tôn giáo, nói chung một đất nươc càng đa dạng về các thành phần tôn giáo
và sắc tộc thì đất nước đó càng tiềm ẩn bất ổn về chính trị và xung đột trong nước. Điều này có thể dẫn
đến các xung đột bạo lực và thậm chí là các cuộc nội chiến, dẫn tới tình trạng lãng phí nguồn lực quý
giá đáng ra phải sử dụng để thúc đẩy các mục tiêu phát triển khác.
13

Trong quá trình tìm hiểu, nhóm thấy rằng: Vấn đề tăng trưởng kinh tế Việt Nam là đề tài bàn luận
của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều công trình khoa học, nhưng phần lớn các công trình mới chỉ đề cập
mặt lượng mà quên đi mặt chất của tăng trưởng. Trong mấy năm gần đây, các vấn đề về chất lượng
14

tăng trưởng kinh tế mới bắt đầu được đưa ra nghiên cứu. Tuy nhiên, nghiên cứu về “Chất lượng tăng
trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn từ năm 2006- 2011” thì cho đến nay vẫn chưa có một công trình
nào đề cập đến. Chính vì lí do, nhóm chúng tôi quyết định đi sâu nghiên cứu về đề tài này với hi vọng
sẽ đem đến cho bạn đọc một cách nhìn toàn diện về thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt
Nam từ năm 2006- 2011 để từ đó giúp bạn đọc có cách nhìn nhận đúng đắn về vị trí, thực lực kinh tế
của đất nước mình. Từ đó có thể đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế
trong thời gian tới. 15

trên thế giới để xem Việt Nam có những lợi thế và yếu kém gì so với các quốc gia khác về chất lượng
tăng trưởng.

Trích đoạn Thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giaiđoạn 2006 – 2011 Sự thấp kém về trình độ khoa học – công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực xuất nhằm nâng cao khả năng huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn cho tăng trưởng Phát triển khoa học công nghệ và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status