MỞ ĐẦU -------------------------------------------------------------------------------------------
1
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ ----------------------------------------------------------------------- 8
1.1. Một số lý luận cơ bản làm cơ sở cho việc phân tích ----------------------------------
8
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản ----------------------------------------------------------- 8
1.1.2. Một số quan điểm về tăng trưởng kinh tế --------------------------------------- 10
1.2. Lý luận chung về chất lượng tăng trưởng kinh tế -----------------------------------
21
1.2.1. Các quan điểm khác nhau về chất lượng tăng trưởng kinh tế ----------------- 21
1.2.2. Các khung phân tích về chất lượng tăng trưởng kinh tế ----------------------- 25
1.2.3. Các thước đo chất lượng tăng trưởng kinh tế ----------------------------------- 30
1.2.3.1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng các nguồn lực ------------ 30
1.2.3.2. Nhóm chỉ tiêu liên quan đến phúc lợi xã hội --------------------------- 32
1.2.3.3. Chỉ tiêu phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế --------------------- 33
1.2.3.4. Chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế với khả năng đảm bảo cơ
sở hạ tầng và bảo vệ tài nguyên môi trường --------------------------- 34
1.2.3.5. Chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh tăng trưởng ------------------ 35
1.2.4. Các yếu tố tác động đến chất lượng tăng trưởng kinh tế ----------------------- 36
1.2.4.1. Các yếu tố về nguồn lực và sử dụng nguồn lực ------------------------ 36
1.2.4.2. Các yếu tố về thể chế ------------------------------------------------------- 38
1.3. Chất lượng tăng trưởng kinh tế trong hội nhập kinh tế quốc tế -----------------
40
1.3.1. Tính tất yếu khách quan của hội nhập kinh tế quốc tế ------------------------- 40
1.3.2. Nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế trong hội nhập kinh tế quốc tế --- 42
1.4. Kinh nghiệm các nước trên thế giới về việc nâng cao
chất lượng tăng trưởng kinh tế --------------------------------------------------------- 45
iv
1.4.1. Kinh nghiệm của Nhật Bản trong việc nâng cao chất lượng tăng trưởng
kinh tế giai đoạn 1950 – 1970 ------------------------------------------------------------------
2.2.2.3. Tăng trưởng kinh tế về vấn đề công bằng xã hội ----------------------- 98
2.2.3. Phân tích chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố ------------------------- 103
2.2.3.1. Chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế -------------------------------- 103
2.2.3.2. Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế ------------------------------- 107
2.2.4. Phân tích tăng trưởng kinh tế với khả năng đảm bảo cơ sở
hạ tầng và bảo vệ tài nguyên môi trường -------------------------------------- 109
2.2.4.1. Tăng trưởng kinh tế với khả năng đảm bảo cơ sở hạ tầng ---------- 109
v
2.2.4.2. Tăng trưởng kinh tế với vấn đề bảo vệ tài nguyên môi trường --- 115
2.2.5. Phân tích về năng lực cạnh tranh tăng trưởng --------------------------------- 118
2.3. Đánh giá chung về chất lượng tăng trưởng kinh tế
ở TP.HCM thời gian qua -------------------------------------------------------------- 122
2.3.1. Những thành tựu đạt được về chất lượng tăng trưởng kinh tế ------------- 122
2.3.2. Những mâu thuẫn phát sinh về chất lượng tăng trưởng
kinh tế của TP.HCM -------------------------------------------------------------- 124
Tóm lược chương 2 -----------------------------------------------------------------------------
129
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ TP.HCM TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ -------------
130
3.1. Cơ sở đề xuất các định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng
tăng trưởng kinh tế TP.HCM --------------------------------------------------------- 130
3.1.1. Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với TP.HCM ------------------- 130
3.1.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về nâng cao
chất lượng tăng trưởng kinh tế --------------------------------------------------- 133
3.2. Định hướng và mục tiêu nâng cao chất lượng tăng trưởng
kinh tế ở TP.HCM trong thời gian tới ----------------------------------------------- 135
3.2.1. Định hướng nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế------------------------ 135
3.2.2. Các mục tiêu cơ bản trong thời gian tới ---------------------------------------- 137
3.3. Giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế TP.HCM trong hội
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
ICOR : Incremental Capital Output Ratio
LĐTBXH : Lao động thương binh xã hội
KHCN : Khoa học công nghệ
TFP : Total Factor Productivity
TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
UBND : Ủy ban nhân dân
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
WB : Ngân hàng thế giới
viii
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Danh mục các bảng
Bảng 2.1: Năng suất lao động của TP.HCM giai đoạn 1991 - 2008 .............................
75
Bảng 2.2: So sánh năng suất lao động của TP.HCM và VN GĐ 1992 – 2008 ..............
76
Bảng 2.3: NSLĐ của các ngành nghề trên địa TP.HCM giai đoạn 2000 – 2006 ..........
78
Bảng 2.4: Tỷ lệ lao động của các ngành nghề trên địa bàn TP.HCM giai đoạn
2000 – 2006 ................................................................................................... 79
Bảng 2.5: Hệ số ICOR của TP.HCM giai đoạn 1991 – 2008 ........................................
81
Bảng 2.6: So sánh hệ số ICOR của TP.HCM và Việt nam GĐ 1994 – 2008 ...............
82
Bảng 2.7: So sánh cơ cấu vốn đầu tư các khu vực của TP.HCM với cả nước ...............
84
Bảng 2.23 : Khảo sát đánh giá về giao thông trên địa bàn TP.HCM ............................
111
Bảng 2.24 : Khảo sát đánh giá về ngập nước trên địa bàn TP.HCM ............................
114
ix
Bảng 2.25: Thứ hạng CPI của TP.HCM giai đoạn 2005 – 2008 ..................................
119
Bảng 2.26 : Khảo sát đánh giá về quản lý hành chính trên địa bàn TP.HCM ..............
120
Bảng 2.27: Số vụ đình công tại TP. HCM giai đoạn 1995 – 2008 ...............................
121
Bảng 3.1: Dự báo thu nhập bình quân đầu người ở TP.HCM đến năm 2020 ..............
138
Bảng 3.2 : Dự báo hiệu quả sử dụng nguồn lực tăng trưởng của
TPHCM đến năm 2020 .............................................................................. 139
Bảng 3.3 : Dự báo tốc độ tăng trưởng GDP và đóng góp của các
nhân tố vào tăng trưởng GDP của TP.HCM đến năm 2020 ........................ 139
Bảng 3.4: Dự báo cơ cấu kinh tế TPHCM đến năm 2020 ...........................................
139
Danh mục các biểu đồ
Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng trưởng GDP TP.HCM giai đoạn 1991 – 1995 .......................
66
Biểu đồ 2.2: Tốc độ tăng trưởng GDP TP.HCM giai đoạn 1996 – 2000 ......................
68
Biều đồ 2.3: Tốc độ tăng trưởng GDP TP.HCM giai đoạn 2001 – 2005 ......................
70
Biểu đồ 2.4: Tốc độ tăng trưởng GDP TP.HCM giai đoạn 2006 – 2008 ......................
72
Biểu đồ 2.5: Tốc độ tăng trưởng GDP TP.HCM giai đoạn 1991 – 2008 .......................
74
cả nước. Có thể nói thành phố là hạt nhân vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, với
mức đóng góp hơn 65% GDP trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và đóng
góp hơn 20% GDP của cả nước. TP.HCM là nơi hoạt động kinh tế năng động, với
tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Nếu như năm 1991 tốc độ tăng trưởng GDP của
thành phố là 9,1 % thì đến năm 2007 tăng lên 12,6% và năm 2008 là 10,7%. Tính
bình quân giai đoạn 1991 – 1995 GDP thành phố tăng trưởng là 12,6%/năm, giai
đoạn 1996 – 2000 GDP tăng trưởng là 10,3 %/năm, giai đoạn 2001 – 2005 GDP
thành phố đạt mức tăng trưởng 11%/năm và giai đoạn 2006 – 2008 đạt tốc độ tăng
trưởng bình quân 11,63 %/năm. Những thành tựu về kinh tế, chính trị và xã hội
thời gian qua đã góp phần đưa thành phố trở thành trung tâm kinh tế đứng đầu cả
nước.
Tuy nhiên, khi đề cập đế___________n kinh tế TP.HCM nhiều chuyên gia cũng như nhà
quản lý thường nói: “Kinh tế TP.HCM thời gian qua đạt tốc độ tăng trưởng cao
nhưng chất lượng tăng trưởng chưa cao!”. Nhưng khi đề cập đến cơ sở nào khẳng
định: “Chất lượng tăng trưởng kinh tế thành phố chưa cao” ? thì cho đến nay
chưa có trả lời nào mang tính hệ thống, mà chỉ nhìn nhận, đánh giá ở một khía
2
cạnh hẹp như hiệu quả đầu tư còn thấp hay kết cấu hạ tầng kỹ thuật không theo kịp
tăng trưởng kinh tế hay ô nhiễm môi trường ngày càng tăng…
Xuất phát từ những trăn trở trên đã đặt ra các câu hỏi: Chất lượng tăng
trưởng kinh tế là gì? Chất lượng tăng trưởng kinh tế được đo lường thông qua
những tiêu chí nào? Chất lượng tăng trưởng kinh tế của TP.HCM hiện nay như thế
nào? Làm thế nào để nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của thành phố?
Trước yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, việc nâng cao chất
lượng tăng trưởng kinh tế là hết sức cần thiết để thành phố xứng đáng là trung tâm
kinh tế của cả nước và góp phần nâng cao đời sống của người dân thành phố. Đó
là lý do tôi chọn đề tài: “ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ” làm
luận án tiến sĩ kinh tế, chuyên ngành kinh tế chính trị, để nghiên cứu đánh giá chất
lượng tăng trưởng kinh tế của thành phố thời gian qua. Trên cơ sở đó, đề xuất các
cứu chỉ đề cập đến một khía cạnh của vấn đề chất lượng tăng trưởng kinh tế, tiêu
biểu có các công trình sau:
Mức sống dân cư và diễn biến phân hoá giàu nghèo tại TP.HCM, đề tài của
Viện Kinh tế TP.HCM do PGS.TS Nguyễn Thị Cành làm chủ nhiệm đã tiến hành
thực hiện trong giai đoạn 1995 – 2000. Với 1500 mẫu điều tra các hộ trên địa bàn
thành phố, đề tài đã nghiên cứu, khái quát được mức phân hoá giàu nghèo ở địa
bàn thành phố qua các mặt về thu nhập, ngành nghề, tài sản. Đồng thời tác giả đã
đề ra một số giải pháp liên quan đến quản lý nhà nước để giải quyết vấn đề này.
Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn TP.HCM nhằm tăng
trưởng nhanh và bền vững, đề tài của Viện kinh tế TP.HCM thực hiện. Đề tài đã
phân tích động thái chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế trên địa bàn thành phố
giai đoạn 1996-2003. Qua đó, đánh giá những mặt được, những hạn chế và nguyên
nhân của những hạn chế về chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố trong giai
đoạn này. Đề tài đã đưa ra các chính sách, giải pháp, cơ chế thực hiện chuyển dịch
cơ cấu kinh tế trên địa bàn TP.HCM.
4
Tăng trưởng và hiệu quả kinh tế TP.HCM 1995-2003, công trình do Cục
thống kê TP.HCM chủ biên đã đánh giá các yếu tố trực tiếp tác động đến tăng
trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hiệu quả đầu tư của thành phố trong
giai đoạn 1995-2003.
Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước TP.HCM hiện trạng và
giải pháp, đề tài của Viện kinh tế TP.HCM do TS Lê Vinh Danh là chủ nhiệm, đề
tài đã đánh giá tình hình và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước ở
TP.HCM giai đoan 1993-2002. Qua đó, đề xuất một số chính sách và giải pháp
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước TP.HCM thời gian
tới.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên địa bàn thành phố trong điều
kiện hội nhập: Nhận diện thách thức và cơ hội, đề tài của Viện kinh tế TP.HCM
do Ths Nguyễn Thiềng Đức làm chủ nhiệm đã nghiên cứu khảo sát năng lực cạnh
tranh của các doanh nghiệp trong nước tại TP.HCM. Qua đó, đánh giá các nhân tố
a. Đối tượng nghiên cứu: luận án là vấn đề chất lượng tăng trưởng kinh tế.
Trong quá trình nghiên cứu, luận án không đi vào nghiên cứu tất cả các nhân tố
ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế mà chỉ tập trung vào những yếu tố cơ bản nhất
tác động đến chất lượng tăng trưởng kinh tế ở thành phố, bao gồm các vấn đề về
hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong quá trình tăng trưởng, về phúc lợi xã hội, về
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, về đảm bảo cơ sở hạ tầng, môi trường sinh thái và về
năng lực cạnh tranh tăng trưởng.
b. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian, giới hạn nghiên cứu của luận án là từ năm 1991 đến năm
2008. Trong đó tập trung chủ yếu vào phân tích giai đoạn 1994 – 2008.
- Về không gian, luận án nghiên cứu trên địa bàn TP.HCM.
6
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn số liệu của luận án
a. Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu của luận án là chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Luận án nghiên cứu chất lượng tăng
trưởng kinh tế trong mối quan hệ tác động qua lại với tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Nghiên cứu mối quan hệ của các nhân tố cơ bản quan trọng tác động đến chất
lượng tăng trưởng kinh tế ở TP. HCM thời gian qua.
Phương pháp trừu tượng hóa khoa học có một vai trò quan trọng trong quá
trình nghiên cứu luận án. Trong quá trình nghiên cứu, luận án không đi vào nghiên
cứu tất cả các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế mà chỉ tập trung vào
những yếu tố cơ bản nhất tác động trực tiếp đến chất lượng tăng trưởng kinh tế ở
thành phố, thông qua các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng các nguồn lực, về phúc lợi
xã hội, về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, về khả năng đảm bảo cơ sở hạ tầng, môi
trường sinh thái và về năng lực cạnh tranh.
Phương pháp nghiên cứu phân tích - tổng hợp, khảo sát, mô hình hóa có vai
trò hết sức quan trọng trong quá trình nghiên cứu. Trong quá trình phân tích, luận
án chú trọng phân tích, đánh giá với dẫn chứng để chứng minh bằng số liệu cụ thể;
kết hợp giữa lý luận và thực tiễn.
tế ở TP. HCM trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm
ba chương:
Chương 1 : Cơ sở lý luận về chất lượng tăng trưởng kinh tế
Chương 2 : Thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế ở TP.HCM thời gian qua
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế ở
TP.HCM trong hội nhập kinh tế quốc tế.
8
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1.1. Một số lý luận cơ bản làm cơ sở cho việc phân tích
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
Tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu tại
mỗi quốc gia trong quá trình phát triển, nhất là ở giai đoạn đầu của quá trình phát
triển và cùng với thời gian, quan niệm về vấn đề này ngày càng hoàn thiện hơn.
Nếu tiếp cận trong ngắn hạn, thì tăng trưởng kinh tế có các khái niệm sau:
- Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một
khoảng thời gian nhất định.
- Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng sản lượng quốc gia hoặc sản lượng quốc
gia tính bình quân trên đầu người trong một thời gian nhất định.
Nếu tiếp cận trong dài hạn, thì tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng quy mô sản
lượng hay sự mở rộng sản lượng của một nền kinh tế qua các năm.
Như vậy, bản chất của tăng trưởng là phản ánh sự thay đổi về lượng của nền
kinh tế.
Ngày nay, để đo lường sản lượng hay thu nhập của nền kinh tế người ta
thường dùng các chỉ tiêu sau:
- Tổng giá trị sản xuất (GO – Gross Output) là tổng giá trị sản phẩm vật chất
và dịch vụ được tạo ra trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia trong một thời kỳ
nhất định (thường là một năm).
Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung: "Sự phát triển của nhân
loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu
cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học" [6, tr.1].
10
Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo
Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và
Phát triển Thế giới - WCED. Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững là "sự phát
triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại
đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai..."[6, tr.1].
Sau đó, năm 1992, tại Rio de Janeiro, các đại biểu tham gia Hội nghị về Môi
trường và Phát triển của Liên hiệp quốc đã xác nhận lại khái niệm này, và đã gửi
đi một thông điệp rõ ràng tới tất cả các cấp của các chính phủ về sự cấp bách trong
việc đẩy mạnh sự hòa hợp kinh tế, phát triển xã hội cùng với bảo vệ môi trường.
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về Phát triển bền vững tổ chức tại Nam Phi
năm 2002 đã xác định: “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp
chặt chẽ, hài hòa, hợp lý giữa ba mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế, cải
thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ tài nguyên môi trường”[34, tr.3]. Hội nghị này
nhận định rằng các vấn đề về môi trường trên thế giới là hậu quả của việc bùng nổ
dân số toàn cầu, của việc tiêu thụ ngày càng nhiều tài nguyên, của các mục tiêu
kinh tế ngắn hạn, của việc quá chú trọng lợi nhuận dẫn đến phí phạm nghiêm trọng
các nguồn lực thiên nhiên và đặc biệt là của tình trạng bất công bằng xã hội gây ra
và khoét sâu khoảng cách giàu nghèo.
1.1.2. Một số quan điểm về tăng trưởng kinh tế
1.1.2.1. Quan điểm cổ điển về tăng trưởng kinh tế
Quan điểm cổ điển về tăng trưởng kinh tế được xây dựng bởi các đại biểu
là William Petty (1623-1687), Adam Smith ( 1723 - 1790) và David Ricardo (
1772 - 1823). Quan điểm này có những nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, họ cho rằng nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng nhất, từ đó
yếu tố căn bản của tăng trưởng kinh tế là đất đai, lao động và vốn. Trong từng
ngành và phù hợp với một trình độ kỹ thuật nhất định các yếu tố này kết hợp với
thuộc vào ý muốn của họ - tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù
12
hợp với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vật chất của họ.
Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội ”[13,
tr.14]. Như vậy, theo Mác lực lượng sản xuất phát triển đến đâu thì quan hệ sản
xuất phát triển tương ứng tới đó. Sự phát triển vượt trước hay tụt hậu của quan hệ
sản xuất so với sự phát triển của lực lượng sản xuất đều làm cản trở sự phát triển
của sức sản xuất xã hội. Do đó, không thể xoá bỏ một hình thức quan hệ sản xuất
nào đó khi mà lực lượng sản xuất tương ứng với nó đang còn sức sống, đang còn
là một tất yếu kinh tế đối với sự phát triển của xã hội. Các Mác đã viết: “ Không
một hình thái xã hội nào diệt vong trước khi tất cả những lực lượng sản xuất mà
hình thái xã hội đó tạo địa bàn đầy đủ cho sự phát triển, vẫn chưa phát triển, và
những quan hệ sản xuất mới, cao hơn, cũng không bao giờ xuất hiện trước khi
những điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó chưa chín muồi trong lòng
bản thân xã hội cũ” [13, tr.15 -16].
Thứ hai, về các yếu tố của tăng trưởng kinh tế. Nếu như các nhà kinh tế học
cổ điển xem đất đai, lao động và vốn là ba yếu tố cơ bản của tăng trưởng, trong đó
đất đai là yếu tố quan trọng nhất, thì Mác cho rằng các yếu tố tác động đến tăng
trưởng kinh tế không chỉ là đất đai, lao động, vốn mà còn có yếu khoa học kỹ
thuật. Về vai trò khoa học kỹ thuật trong tăng trưởng kinh tế, Mác viết: “Khoa học
kỹ thuật là lực lượng sả___________n xuất trực tiếp”[12, tr.234]. Mác đã đề cao vai trò
của
khoa học kỹ thuật trong sản xuất khi cho rằng mục đích của nhà tư bản là tìm mọi
cách để tăng giá trị thặng dư, cho nên họ tìm cách tăng thời gian làm việc, tăng
cường độ làm việc của công nhân, giảm tiền công của công nhân, hoặc nâng cao
năng suất bằng cách cải tiến kỹ thuật. Việc cải tiến kỹ thuật sẽ làm tăng số máy
móc, thiết bị và dụng cụ lao động giành cho công nhân, nghĩa là cấu tạo hữu cơ
của tư bản c/v có xu hướng ngày càng tăng. Do đó, các nhà tư bản cần nhiều vốn
hơn để đầu tư máy móc thiết bị kỹ thuật, tăng năng suất lao động. Vì vậy, trong
tổng số giá trị thặng dư thu được nhà tư bản chỉ dùng một phần để tiêu dùng cá
Cho đến nay, lý thuyết của Mác về tăng trưởng kinh tế vẫn có ý nghĩa thực
14
tiễn rất lớn, nhất là trong việc giải thích vấn đề mà các nước đang phát triển gặp
phải ngày nay.
1.1.2.3. Mô hình tân cổ điển về tăng trưởng kinh tế
Cuối thế kỷ XIX là thời kỳ đánh dấu sự chuyển biến mạnh mẽ của khoa học
kỹ thuật. Hàng loạt các phát minh khoa học và các nguồn tài nguyên được khai
thác phục vụ cho quá trình sản xuất. Sự phát triển này hình thành một trường phái
kinh tế mới – trường phái tân cổ điển.
Trong mô hình tân cổ điển, các nhà kinh tế học bác bỏ quan điểm cổ điển
cho rằng sản xuất trong một tình trạng nhất định đòi hỏi những tỷ lệ nhất định về
lao động và vốn, họ cho rằng vốn có thể thay thế được nhân công, và trong quá
trình sản xuất có thể có nhiều cách khác nhau trong việc kết hợp các yếu tố đầu
vào. Các nhà kinh tế học tân cổ điển còn cho rằng tiến bộ kỹ thuật là yếu tố thúc
đẩy sự tăng trưởng kinh tế. Đồng thời xu hướng thay đổi trong kỹ thuật là đa số
các sáng chế đều có khuynh hướng dùng vốn để tiết kiệm nhân công.
Các nhà kinh tế học tân cổ điển đã cố gắng giải thích nguồn gốc của sự tăng
trưởng kinh tế thông qua hàm sản xuất. Hàm số này nói lên mối quan hệ giữa sự
tăng lên của đầu ra với sự tăng lên của yếu tố đầu vào là vốn, lao động, tài nguyên
và khoa học kỹ thuật.
Y = f (K, L, R, T….)
Trong đó :
Y : đầu ra (GDP, GNI)
K : vốn sản xuất
L : Số lượng lao động.
R : Nguồn tài nguyên thiên nhiên
T : Khoa học kỹ thuật
Theo trường phái tân cổ điển, có thể có nhiều nhân tố khác tham gia vào quá
trình sản xuất nên hàm sản xuất có dấu chấm lững .
15
cho doanh nghiệp. Để kích thích đầu tư phải có các biện pháp tăng lợi nhuận và
giảm lãi suất, muốn vậy phải tăng khối lượng tiền tệ trong lưu thông. Keynes đề
nghị thực hiện lạm phát có mức độ. Ông đánh giá cao vai trò của hệ thống thuế
khóa, công trái nhà nước, qua đó để bổ sung ngân sách nhà nước. Ông đề nghị
giảm lãi suất ngân hàng để khuyến khích đầu tư và đánh thuế thu nhập cá nhân lũy
tiến làm cho phân phối thu nhập trở nên công bằng hơn, do đó sẽ tăng tổng thu
nhập mà nhân dân dùng cho tiêu dùng. Ông tán thành đầu tư của Chính phủ vào
các công trình công cộng.
1.1.2.5. Mô hình của Harrod – Domar về tăng trưởng kinh tế
Mô hình này do hai nhà kinh tế học Roy Harrod ở Anh và Evsay Domar ở
Mỹ đưa ra vào thập niên 40 của thế kỷ XX và được các nước đang phát triển ban
đầu ứng dụng.
Mô hình này cho rằng, đầu ra của bất kỳ đơn vị kinh tế nào, dù là một công
ty, một ngành, hay toàn bộ nền kinh tế đều phụ thuộc vaò tổng vốn đầu tư cho đơn
vị đó:
Nếu gọi Y là đầu ra ( GDP, GNI)
g là tốc độ tăng trưởng của đầu ra, thì :
Y
g Y Δ
= (1)
Nếu gọi S là mức tích luỹ của nền kinh tế.
s là tỷ lệ tích luỹ, thì :
Y
s = S => S = s . Y (2)
Vì tiết kiệm ( tích luỹ ) là nguồn đầu tư, nên S = I (3)
Vì vậy, ta có thể viết :
Y
s = I
Mà mục đích của đầu tư là để tạo ra vốn sản xuất ( K ) nên: I = Δ K (4)
Nếu gọi k là tỷ số giữa gia tăng đầu tư với gia tăng sản lượng. Hay còn goi
ngắn hạn và trong dài hạn.
1.1.2.6. Quan điểm của kinh tế học hiện đại về tăng trưởng kinh tế
Kinh tế học hiện đại ngày này quan niệm về sự cân bằng kinh tế dựa theo mô
hình của J.M. Keynes, nghĩa là sự cân bằng của nền kinh tế không nhất thiết tại
mức sản lượng tiềm năng, mà thường là dưới mức sản lượng tiềm năng, trong
18
điều kiện hoạt động bình thường, nền kinh tế vẫn có thất nghiệp và lạm phát. Nhà
nước cần xác định tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên và mức lạm phát có thể chấp nhận
được. Sự cân bằng này của nền kinh tế được xác định tại giao điểm của tổng cung
và tổng cầu.
Hiện nay, các mô hình tăng trưởng hiện đại thường không nói đến nhân tố
tài nguyên, đất đai với tư cách là biến số của hàm tăng trưởng kinh tế, họ cho rằng
đất đai là yếu tố cố định còn vai trò của tài nguyên có xu hướng giảm sút. Những
yếu tố tài nguyên, đất đai đang sử dụng có thể gia nhập dưới dạng yếu tố vốn sản
xuất: K.
Ba yếu tố trực tiếp tác động đến tăng trưởng: Vốn, lao động và yếu tố năng
suất tổng hợp (TFP).
Vốn và lao động được xem là yếu tố vật chất có thể lượng hóa được tác
động của nó đến tăng trưởng và được xem là nhân tố tăng trưởng theo chiều rộng.
TFP là thể hiện hiệu quả của yếu tố khoa học kỹ thuật, trình độ quản ly hay
cách đánh giá tác động của KHKT đến tăng trưởng kinh tế. TFP được coi là yếu tố
chất lượng của tăng trưởng hay tăng trưởng theo chiều sâu.
Lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại cho rằng thị trường là yếu tố cơ bản
điều tiết hoạt động của nền kinh tế. Sự tác động qua lại giữa mức tổng cung và
mức tổng cầu tạo ra mức thu nhập thực tế, việc làm, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ lạm
phát, đó là cơ sở để giải quyết ba vấn đề cơ bản của nền kinh tế. Theo quan điểm
hiện đại thì việc mở rộng kinh tế thị trường đòi hỏi phải có sự can thiệp của nhà
nước vào nền kinh tế không chỉ vì thị trường có những khuyết tật, mà còn vì xã
hội đặt ra những mục tiêu mà thị trường không thể đáp ứng tốt được.
Như vậy, qua phân tích lịch sử phát triển các quan điểm về tăng trưởng kinh
sáng tạo của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tại các địa hội VII, VIII sau đó, luận
điểm này từng bước hoàn thiện và đến đại hội IX, Đảng ta đã khẳng định: “ Xây
dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ đi đôi với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, kết
20
hợp nội lực với ngoại lực thành nguồn lực tổng hợp để phát triển đất nước”[29, tr.
92].
Ba là, trong cơ cấu kinh tế phải chú ý phát triển mạnh, cân đối giữa công
nghiệp và nông nghiệp. Trong di sản lý luận của Hồ Chí Minh, phát triển lực
lượng sản xuất ở nước ta, đầu tiên và trước hết là phát triển sản xuất nông nghiệp
nhằm giải quyết vững chắc vấn đề lương thực, kế đó là phát triển công nghiệp nhẹ
để đảm bảo nguồn cung cấp lớn hàng tiêu dùng cho nhân dân. Còn công nghiệp
nặng, theo Người, là cần thiết, song nó chỉ được xây dựng từng bước để hướng
đến đủ làm cơ sở cho xây dựng nền kinh tế độc lập. Xét về mọi phương diện của
nền kinh tế quốc dân, Hồ Chí Minh luôn xác định: “ tất cả các ngành từ công
nghiệp, thương nghiệp, tài chính, ngân hàng, giao thông, kiến trúc, văn hoá, giáo
dục, y tế…..đều cần phát triển toàn diện nhưng các ngành này phải lấy phục vụ
nông nghiệp làm trọng tâm”[47, tr.277].
Bốn là, tăng gia sản xuất phải đi liền với thực hành tiết kiệm, chống tham ô
lãng phí. Nội dung này là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong quan điểm phát triển kinh tế
trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Người đã có nhiều tác phẩm quan trọng bàn về vấn
đề phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm, chống tham ô lãng phí. Ngay sau khi
cách mạng tháng tám thành công, Hồ Chí Minh kêu gọi phải chống ba thứ giặc là :
giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Và muốn chống giặc đói, Người kêu gọi đẩy
mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm. Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về vấn đề
này.
Năm là, tư tưởng về vai trò của nhân tài trong quá trình phát triển của đất
nước. Xác định công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ. Người
quan niệm: để công nghiệp hoá một cách có hiệu quả thì vai trò của yếu tố nhân
lực, mà đặc biệt là nhân tài là hết sức quan trọng. Hồ Chí Minh từng bôn ba khắp
bốn bể năm châu, tận mắt chứng kiến sự phát triển của các quốc gia tiên tiến trên
dục, chất lượng cuộc sống…Còn theo nghĩa rộng, nội hàm của khái niệm chất
lượng tăng trưởng có thể mở rộng trên nhiều khía cạnh [1, tr.3].
22
Một trong những cách định nghĩa chất lượng tăng trưởng kinh tế là liệt kê
các tăng trưởng kinh tế tốt và các tăng trưởng kinh tế xấu. Chương trình phát triển
của liên hiệp quốc (1996) UNDP đã liệt kê 05 loại tăng trưởng kinh tế xấu, bao
gồm :
- Tăng trưởng kinh tế không lương tâm. Đó là tăng trưởng kinh tế mà thành
quả của nó chủ yếu đem lại lợi ích cho người giàu, còn người nghèo ít được
hưởng, khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng.
- Tăng trưởng kinh tế không việc làm. Đó là tăng trưởng kinh tế nhưng
không mở rộng cơ hội tạo thêm việc làm hoặc phải làm việc nhiều giờ và có thu
nhập thấp với những công việc có năng suất thấp trong khu vực nông nghiệp và
khu vực không chính thức.
- Tăng trưởng kinh tế không có tiếng nói. Tức là tăng trưởng kinh tế không
đi kèm với việc mở rộng nền dân chủ hay là việc trao đổi thêm quyền lực cho dân,
dập tắt những đòi hỏi được tham gia nhiều hơn của công đồng vào các quyết sách
liên quan đến đời sống xã hội.
- Tăng trưởng kinh tế không gốc rễ. Đó là tăng trưởng kinh tế khiến cho nền
văn hoá, đời sống tinh thần của còn người ngày càng khô héo.
- Tăng trưởng kinh tế không có tương lai. Tức là tăng trưởng kinh tế trong
đó thế hệ hiện nay phung phí những nguồn lực mà các thế hệ trong tương lai cần
đến [3, tr. 34 -35].
Như vậy, điểm chung của các khái niêm trên là chỉ xoay quanh một ý đồ, đó
là tăng trưởng kinh tế phải gắn với chất lượng.
Theo quan điểm của Ngân hàng thế giới và một số phân tích của một số
nhà kinh tế học nổi tiếng được giải thưởng Nobel gần đây như R. Lucas, Amartya
Sen, J. Stinglitz thì cùng với quá trình tăng trưởng kinh tế, chất lượng tăng trưởng
kinh tế tập trung chủ yếu ở sáu tiêu chuẩn sau :
(i) Tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định trong thời gian tương đối dài và tránh
bản chất của tăng trưởng kinh tế trong một hoàn cảnh và giai đoạn nhất định’’ [32
, tr. 28].
Theo TS. Nguyễn Hữu Hiểu : “Chất lượng tăng trưởng phản ánh nền kinh tế
đạt tốc độ tăng trưởng cao, duy trì trong một thời gian dài, gắn với đó là quá trình
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường và đảm bảo quyền tự do
cho mỗi người ” [109, tr.1].
Theo Tác giả Nguyễn Văn Nam và Trần Thọ Đạt thì : “Chất lượng tăng
trưởng kinh tế cao là sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của nền kinh tế,
thể hiện qua năng suất nhân tố tổng hợp và năng suất lao động xã hội tăng và ổn
định, mức sống của người dân được nâng cao không ngừng, cơ cấu kinh tế chuyển
dịch phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất nước, sản xuất có tính cạnh tranh
cao, tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi
trường, quản lý kinh tế nhà nước có hiệu quả ” [51, tr. 24].
Theo PGS.TS Ngô Doãn Vịnh thì ‘‘ Chất lượng tăng trưởng kinh tế là tập
hợp các đặc trưng về kết quả và hiệu quả của chính tăng trưởng kinh tế’’[90, tr.
66].
Theo tác giả Nguyễn Thị Tuệ Anh và Lê Xuân Bá thì : ‘‘ Chất lượng tăng
trưởng kinh tế không chỉ dừng lại ở việc xem xét các yếu tố tạo ra tăng trưởng,
mà quan trọng không kém là cần xem xét cả kết quả phân phối thành quả của tăng
trưởng cũng như tác động ngược trở lại tới tăng trưởng của khía cạnh phân phối
đó …và đóng góp của quản lý nhà nước tới cả quá trình tăng trưởng’’ [1,tr. 5].
Từ những quan điểm và khái niệm trên, có thể khái quát khái niệm chất tăng
trưởng kinh tế như sau: Chất lượng tăng trưởng kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế
trong dài hạn theo chiều sâu, trên cơ sở sử dụng hiệu quả các nguồn lực tăng
trưởng, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao phúc lợi xã hội.
Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm chất lượng tăng trưởng,
25
nhưng theo chúng tôi, nếu xét theo nghĩa hẹp, thì chất lượng tăng trưởng kinh tế
gắn với hiệu quả tăng trưởng được thể hiện thông qua hiệu quả sử dụng vốn ( hệ
số ICOR), năng suất lao động, đóng góp của nhân tố năng suất tổng hợp trong
của phát triển tự động được cải thiện. Vì vậy, tăng trưởng kinh tế về lượng nếu
không được duy trì và không đi đôi với cải thiện phúc lợi thì mục tiêu của phát
triển sẽ không đạt được. Như vậy, phân tích chất lượng không chỉ dừng ở việc
xem xét các yếu tố tạo ra tăng trưởng mà cần phải xem xét các kết quả phân phối
thành quả tăng trưởng cũng như hiệu quả quản lý của nhà nước đối với quá trình
tăng trưởng.
Thứ nhất, việc hình thành các loại tài sản vốn. Quá trình tăng trưởng kinh tế
chịu sự tác động của nhiều yếu tố, nhưng tham gia trực tiếp là các nhân tố sản
xuất gồm : vốn vật chất, vốn con người, vốn tài nguyên và tiến bộ khoa học công
nghệ. Tiến bộ khoa học công nghệ một mặt ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng và
năng suất các nhân tố còn lại, mặt khác góp vào tổng năng suất các nhân tố. Do
đó, đầu tư hình thành các loại tài sản này là cần thiết để có tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên, với chất lượng tăng trưởng kinh tế thì mức đầu tư và cách thức đầu tư
đều quan trọng. Vì vậy, nếu đầu tư mất cân đối sẽ khó duy trì tăng trưởng trong
dài hạn và nâng cao phúc lợi cho toàn dân.
Thực tế ở nhiều nước đặc biệt là các nước đang phát triển trong hai thập kỷ
80 và 90 là một bằng chứng khá rõ của sự tập trung vào tài sản vốn vật chất. Các
nước này đã đẩy nhanh quá trình tăng trưởng kinh tế bằng cách tăng đầu tư tài sản
vốn vật chất. Để thực hiện mục tiêu này, các nước này đã tăng trợ cấp vốn, ưu đãi
về lãi suất, bảo lãnh cho vay, bảo hộ sản xuất trong nước, miễn giảm thuế…. Hệ
quả của chính sách này là khuyến khích các nhà đầu tư, các ngân hàng và cộng
đồng doanh nghiệp chấp nhận rủi ro, gây bùng nổ đầu tư vào tài sản vốn vật chất
trong hai thập kỷ trên. Do đó thiếu nguồn lực đầu tư vào các tài sản vốn khác vì
không hấp dẫn các nhà đầu tư. Sự đầu tư thiên lệch này là một trong những
27
nguyên nhân dẫn đến sự phát triển mất cân đối của nền kinh tế, tăng trưởng kinh
tế kém bền vững.
Bên cạnh đó, do theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao và làm hấp dẫn các nhà
đầu tư nước ngoài, nhiều quốc gia đang phát triển còn cho phép khai thác tài
nguyên và môi trường quá mức, nhiều nước không thực hiện hoặc thực hiện
tích và làm rõ những nguyên nhân cũng như bản chất dẫn đến tình trạng bất bình
đẳng. Trong khi đó, mỗi nước có những chính sách khác nhau tác động vào tình
trạng tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng dẫn đến quá trình này diễn ra khác
nhau.
Athur Lewis đồng tình với Kuznets về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế
và bất bình đẳng theo hình chữ U ngược. Nhưng Lewis tập trung giải thích nguyên
nhân dẫn tới hình chữ U ngược.
Ông cho rằng trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế tồn tại hai
khu vực: khu vực công nghiệp với tiền lương cao và khu vực nông nghiệp với tiền
lương thấp. Do đó, việc mở rộng quy mô sản xuất khu vực công nghiệp sẽ thu hút
một số lượng lớn lao động từ nông nghiệp và nhà tư bản chỉ trả tiền lương công
nhân ở mức thấp. Như vậy, thu nhập của nhà tư bản vừa tăng lên do quy mô sản
xuất mở rộng, vừa tăng lên do lao động của công nhân đem lại.
Giai đoạn sau sự bất bình đẳng giảm do khi lao động dư thừa được thu hút
hết vào khu vực thành thị – công nghiệp và dịch vụ thì lúc này lao động trở nên
khan hiếm trong sản xuất. Cung lao động giảm, cầu lao động tăng lên đòi hỏi phải
tăng tiền lương cho người lao động. Điều này sẽ làm cho bất bình đẳng giảm.
Trong mô hình này, theo ông bất bình đẳng không chỉ là kết quả của tăng
trưởng kinh tế mà còn là điều kiện cần thiết để tăng trưởng kinh tế. Do đó, bất kỳ
một sự hấp tấp vội vã trong chính sách nhằm nhanh chóng xóa bỏ bất bình đẳng
trong phân phối thu nhập của giai đoạn đầu phát triển có thể ảnh hưởng xấu đến
tăng trưởng kinh tế .
Theo ngân hàng thế giới (WB) nguyên nhân cơ bản của tình trạng bất bình
29
đẳng là do sự bất công trong vấn đề sở hữu mà đặc biệt là vấn đề sở hữu tư liệu
sản xuất. Vì vậy, cần phải phân phối lại các thành quả của tăng trưởng kinh tế, sao
cho cùng với thời gian, phân phối thu nhập dần dần cải thiện. Nó bao gồm phân
phối lại của cải (tài sản) và phân phối lại từ tăng trưởng kinh tế. Ở các nước đang
phát triển, chính sách để phân phối lại tài sản bao gồm: Chính sách cải cách ruộng
đất ; chính sách nhằm tăng cường cơ hội giáo dục cho nhiều người.
và những quy định minh bạch, rõ ràng và tính thực thi của hệ thống pháp luật cao,
có bộ máy ít quan liêu, tham nhũng, đồng thời tạo điều kiện cho người dân thực
hiện tốt các quyền của họ. Tuy nhiên, đo lường và đánh giá sự quản lý của nhà
nước theo bốn tiêu chí trên là công việc không thể dễ dàng cả lý thuyết và thực
tiễn.
1.2.3. Các thước đo chất lượng tăng trưởng kinh tế
Muốn đo chất lượng tăng trưởng kinh tế cần phải sử dụng nhiều tiêu chí. Tuy
nhiên, trong giới hạn nghiên cứu của mình, trên cơ sở khái quát ba nội dung cơ
bản nhất của chất lượng tăng trưởng là : (i) vai trò của các loại tài sản vốn tham
gia vào quá trình tăng trưởng; (ii) vấn đề phân phối thu nhập và tạo cơ hội trong
quá trình tăng trưởng và (iii) vai trò quản lý nhà nước trong quá trình tăng trưởng.
Luận án, tập trung vào phân tích các nhóm chỉ tiêu đo lường chất lượng tăng
trưởng kinh tế sau:
1.2.3.1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng các nguồn lực
Thứ nhất, chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao động. Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao
động được thể hiện thông qua năng suất lao động. Năng suất lao động có thể
được tính bằng cách lấy GDP theo giá cố định (giá so sánh) chia cho số lao động.
Ngoài ra, năng suất lao động cũng có thể tính bằng số sản phẩm được tạo ra trong
một đơn vị lao động.
NSLĐ =
GDP giá so sánh
Số lao động
31
Thứ hai, chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn. Một trong những chỉ tiêu
quan trọng để đo lường hiệu quả sử dụng vốn là hệ số ICOR (Incremental Capital
Output Ratio) – hiệu suất sử dụng vốn sản phẩm gia tăng. Hệ số này cho biết để
tăng thêm một đơn vị hay một phần trăm GDP cần phải tăng thêm bao nhiêu đơn
vị hoặc bao nhiêu phần trăm GDP vốn đầu tư thực hiện. Hệ số này phản ánh hiệu
quả sử dụng vốn đầu tư dẫn tới tăng trưởng kinh tế. Nếu hệ số ICOR thấp tức là
hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cao và ngược lại. Tuy nhiên, theo quy luật hiệu quả