NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO - Pdf 62

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ VÀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO
1.1. Tăng trưởng kinh tế
1.1.1. Khái niệm
1
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời
gian nhất định (thường là một năm).
Sự gia tăng được thể hiện ở quy mô và tốc độ. Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia
tăng nhiều hay ít, thể hiện bằng mức tăng tuyệt đối: ΔY
t
= Y
t
– Y
t-1.
Còn tốc độ tăng trưởng
được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa
các thời kỳ: g
t
=
%100
1
×


t
t
Y
Y
Có thể nói, bản chất của tăng trưởng kinh tế là phản ánh sự thay đổi về lượng của nền
kinh tế. Ngày nay, yêu cầu tăng trưởng kinh tế được gắn liền với tính bền vững hay việc
bảo đảm chất lượng tăng trưởng ngày càng cao. Theo khía cạnh này, điều được nhấn mạnh

hội như mong muốn, đôi khi quá trình tăng trưởng mang tính hai mặt. Chẳng hạn, tăng
trưởng kinh tế quá mức có thể dẫn đến tình trạng nền kinh tế “nóng”, gây ra lạm phát, hoặc
tăng trưởng kinh tế cao làm cho dân cư giàu lên, nhưng đồng thời cũng có thể làm cho sự
phân hoá giàu nghèo trong xã hội tăng lên. Vì vậy, đòi hỏi mỗi quốc gia trong từng thời kỳ
phải tìm ra những biện pháp tích cực để đạt được sự tăng trưởng hợp lý, bền vững.
1.1.3. Các thước đo tăng trưởng kinh tế
2
Theo mô hình kinh tế thị trường, thước đo tăng trưởng kinh tế được xác định theo các
chỉ tiêu của hệ thống tài sản quốc gia (SNA). Các chỉ tiêu chủ yếu gồm có:
1.1.3.1. Tổng giá trị sản xuất (GO)
Là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo nên trên phạm vi lãnh thổ của
một quốc gia trong một thời kì nhất định (thường là một năm). Chỉ tiêu này được tính bằng
tổng doanh thu bán hàng thu được từ các đơn vị, các ngành trong toàn bộ nền kinh tế quốc
dân, hay tính trực tiếp từ sản xuất và dịch vụ, gồm chi phí trung gian và giá trị gia tăng của
sản phẩm vật chất và dịch vụ.
2 Theo nguồn: PGS.TS Vũ Thị Ngọc Phùng chủ biên - giáo trình Kinh tế phát triển – NXB Lao động xã hội, Hà
Nội, 1997
1.1.3.2. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng do kết quả hoạt động kinh tế
trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia tạo nên trong một thời kỳ nhất định. Có nhiều cách
tính GDP tùy theo cách tiếp cận. Nếu tiếp cận trên góc độ thu nhập, GDP được xác định
trên cơ sở các khoản hình thành thu nhập và phân phối thu nhập lần đầu, bao gồm: thu
nhập của người có sức lao động dưới hình thức tiền lương và tiền công (W), thu nhập của
người có đất cho thuê (R), thu nhập của người có tiền cho vay (I
n
), thu nhập của người có
vốn (P
r
), khấu hao vốn cố định (D
p

mua và khả năng thanh toán của nền kinh tế, tức là tổng cầu, còn giá trị các biến số đầu vào
có liên quan trực tiếp đến tổng cung, tức là các yếu tố nguồn lực tác động trực tiếp.
* Các nhân tố tác động trực tiếp đến tổng cung:
Vốn (K): Vốn là yếu tố vật chất đầu vào quan trọng có tác động trực tiếp đến tăng
trưởng kinh tế. Nó là toàn bộ tư liệu vật chất được tích luỹ lại của nền kinh tế và bao gồm:
nhà máy, thiết bị, máy móc, nhà xưởng và các trang thiết bị được sử dụng như những yếu
tố đầu vào trong sản xuất. Ở các nước đang phát triển, sự đóng góp của vốn sản xuất vào
tăng trưởng kinh tế thường chiếm tỉ trọng cao nhất. Đó là sự thể hiện của tính chất tăng
trưởng theo chiều rộng. Tuy vậy, tác động của yếu tố này đang có xu hướng giảm dần và
được thay thế bằng các yếu tố khác.
Lao động (L): Là một yếu tố đầu vào của sản xuất. Trước đây, chúng ta chỉ quan niệm
lao động là yếu tố vật chất đầu vào giống như yếu tố vốn và được xác định bằng số lượng
nguồn lao động của mỗi quốc gia (có thể tính bằng đầu người hay thời gian lao động).
Những mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại gần đây đã nhấn mạnh đến khía cạnh phi vật
chất của lao động gọi là vốn nhân lực, đó là các lao động có kĩ năng sản xuất, lao động có
thể vận hành được máy móc thiết bị phức tạp, những lao động có sáng kiến và phương
pháp mới trong hoạt động kinh tế. Hiện nay, tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển
được đóng góp nhiều bởi quy mô, số lượng lao động, yếu tố vốn nhân lực còn có vị trí
chưa cao do trình độ và chất lượng lao động ở các nước này còn thấp.
Công nghệ kĩ thuật (T): Là nhân tố tác động ngày càng mạnh đến tăng trưởng kinh tế
trong điều kiện hiện tại. Yếu tố công nghệ kĩ thuật được hiểu theo hai dạng: thứ nhất, đó là
những thành tựu kiến thức, tức là nắm bắt kiến thức khoa học, nghiên cứu đưa ra những
nguyên lý, thử nghiệm về cải tiến sản phẩm,quy trình công nghệ hay thiết bị kĩ thuật. Thứ
hai, là sự áp dụng phổ biến các kết quả nghiên cứu, thử nghiệm vào thực tế nhằm nâng cao
trình độ phát triển chung của sản xuất. Yếu tố công nghệ kĩ thuật được K.Marx xem như là
“chiếc đũa thần tăng thêm sự giàu có của cải xã hội”. Còn Solow thì cho rằng “tất cả các
tăng trưởng bình quân đầu người trong dài hạn đều thu được nhờ tiến bộ kĩ thuật”.
Tài nguyên, đất đai (R): Được coi là yếu tố đầu vào của sản xuất. Đất đai là yếu tố
quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và là yếu tố không thể thiếu dược trong việc thực
hiện các cơ sở kinh tế thuộc các ngành nông nghiệp, dịch vụ. Các nguồn tài nguyên dồi

các khoản thu chủ yếu từ thuế và lệ phí.
Chi cho đầu tư (I): Là các khoản chi cho các nhu cầu đầu tư của các doanh nghiệp và
các đơn vị kinh tế. Bao gồm đầu tư vốn cố định và đầu tư vốn lưu động. Nguồn chi cho
đầu tư được lấy từ khả năng tiết kiệm từ các khu vực của nền kinh tế, trong đó đầu tư bù
đắp giá trị hao mòn được lấy từ quỹ khấu hao còn đầu tư thuần tuý được lấy từ các khoản
tiết kiệm của khu vực nhà nước, các hộ gia đình và doanh nghiệp.
Chi tiêu qua hoạt động xuất nhập khẩu (NX): Giá trị hàng hoá xuất khẩu là các khoản
phải chi tiêu cho các yếu tố nguồn lực trong nước, còn giá trị hàng hoá nhập khẩu là giá trị
của các loại hàng hóa sử dụng trong nước nhưng lại không phải bỏ ra các khoản chi phí
cho các yếu tố nguồn lực trong nước nên chênh lệch giữa kim ngạch xuất và nhập khẩu
(NX) chính là khoản chi phí ròng phải bỏ ra cho quan hệ thương mại quốc tế.
1.1.4.2. Nhân tố phi kinh tế
Khác với các nhân tố kinh tế, các nhân tố phi kinh tế có tính chất và nội dung tác động
gián tiếp và không thể lượng hoá cụ thể được mức độ tác động của nó đến tăng trưởng
kinh tế. Có rất nhiều nhân tố phi kinh tế tác động tới tăng trưởng kinh tế, trong đó bao gồm
các nhân tố chủ yếu sau:
Đặc điểm văn hoá – xã hội: Đây là nhân tố quan trọng có tác động nhiều tới quá trình
phát triển của đất nước. Nhân tố văn hóa – xã hội bao trùm nhiều mặt từ các tri thức phổ
thông đến các tích lũy tinh hoa của văn minh nhân loại về khoa học công nghệ, văn học, lối
sống và cách ứng xử trong quan hệ giao tiếp, những phong tục tập quán… được xã hội
thừa nhận. Trình độ văn hoá của mỗi dân tộc là một nhân tố cơ bản để tạo ra các yếu tố về
chất lượng lao động, của kỹ thuật, của trình độ quản lý kinh tế - xã hội. Xét trên khía cạnh
kinh tế hiện đại thì nó là nhân tố cơ bản của mọi nhân tố dẫn tới quá trình tăng trưởng, phát
triển kinh tế.
Nhân tố thể chế chính trị - kinh tế - xã hội: Các thể chế chính trị - kinh tế - xã hội là
một nhân tố tác động đến quá trình tăng trưởng, phát triển đất nước theo khía cạnh tạo
dựng hành lang pháp lý và môi trường xã hội cho các nhà đầu tư. Thể chế biểu hiện như là
một lực lượng đại diện cho ý chí của cộng đồng, nhằm điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế,
chính trị và xã hội theo lợi ích của cộng đồng đặt ra. Một thể chế chính trị - xã hội ổn định,
mềm dẻo sẽ tạo điều kiện để đổi mới liên tục cơ cấu và công nghệ sản xuất phù hợp với

chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến với trình độ lực lượng sản xuất kém phát triển, mà
trong thời đại ngày nay với trình độ khoa học công nghệ hiện đại, với lực lượng sản xuất
cao chưa từng thấy, trong từng quốc gia, kể cả các quốc gia đã phát triển nhất trên thế giới,
đói nghèo vẫn tồn tại một cách hiển nhiên. Do đó, loài người luôn luôn phải tìm cách để
nâng cao trình độ sản suất, cải thiện mức sống của mình.
Hiện nay, đã có nhiều nhà nghiên cứu và các tổ chức quốc tế tiến hành nghiên cứu và
đưa ra những khái niệm khác nhau về nghèo đói.
Theo PGS.TS. Đỗ Nguyên Phương thì đói nghèo được định nghĩa như sau: “Nghèo là
tình trạng của một bộ phận dân cư có điều kiện thoả mãn một phần các nhu cầu tối thiểu,
cơ bản của của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức trung bình của cộng đồng xét
trên mọi phương diện”.
Trên cơ sở nhất trí với quan điểm xem xét vấn đề nghèo đói của tổ chức Liên Hợp
Quốc, Ngân Hàng Châu Á đã đánh giá về thực trạng nghèo đói và đưa ra hai khái niệm, đó
là: nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối như sau:
“Nghèo tuyệt đối là tình trạng của một bộ phận dân cư có thu nhập thấp không đủ
khả năng thoả mãn các nhu cầu tối thiểu chỉ để duy trì cuộc sống”.
“Nghèo tương đối là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức thu nhập thấp không đủ
khả năng đáp ứng những nhu cầu sinh hoạt xã hội ở một thời điểm nào đó”.
Tại hội nghị chống đói nghèo khu vực châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức
tại Băng Cốc – Thái Lan (1993) đã đưa ra định nghĩa chung như sau: “Nghèo là tình trạng một
bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà
những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và
phong tục tập quán của điạ phương”. Định nghĩa này hiện nay đang được nhiều quốc gia sử
dụng trong đó có Việt Nam.
1.2.2. Các thước đo nghèo đói
Đói nghèo là một khái niệm động phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế, xã hội, lịch sử,
mức độ tăng trưởng kinh tế và nhu cầu phát triển con người. Ở một thời điểm, một vùng,
một quốc gia là đói nghèo nhưng sang một thời điểm khác, vùng khác, quốc gia khác thì
chỉ số đó mất ý nghĩa. Do đó, rất khó quy định hợp lý một chuẩn mực về đói nghèo cho
mọi quốc gia, ngay cả trong một quốc gia cũng có thể khác nhau giữa các vùng, giữa các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status