Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội ở Phú Thọ hiện nay - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGÔ THỊ THỦY
QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ
VÀ THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI
Ở PHÚ THỌ HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Ở PHÚ THỌ HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 80
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Phạm Văn Đức
Hà Nội - 2013

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ VÀ THỰC HIỆN
CÔNG BẰNG XÃ HỘI: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN 7
1.1. Các quan niệm khác nhau về tăng trưởng kinh tế và thực hiện công
bằng xã hội 7
1.1.1. Khái niệm tăng trưởng kinh tế và các yếu tố quyết định sự tăng
trưởng kinh tế 7

CBXH : Công bằng xã hội
CNCS : Chủ nghĩa cộng sản
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNTB : Chủ nghĩa tư bản
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
KT - XH : Kinh tế - xã hội
KTTT : Kinh tế thị trường
PTBV : Phát triển bền vững
PTKT : Phát triển kinh tế
TBCN : Tư bản chủ nghĩa
TTKT : Tăng trưởng kinh tế
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
XHTB : Xã hội tư bản

1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Phú Thọ là tỉnh trung du miền núi, diện tích tự nhiên 3.528,4 km
2
, cách
Thủ đô Hà Nội 85 km về phía Tây Bắc, theo đường Quốc lộ 2. Phía Bắc giáp
Tuyên Quang và Yên Bái; phía Nam giáp tỉnh Hoà Bình, phía Đông giáp tỉnh
Hà Tây và Vĩnh Phúc; phía Tây giáp tỉnh Sơn La. Có 3 dòng sông lớn chảy qua
và hợp lưu tại Bạch Hạc (thành phố Việt Trì) là sông Hồng, sông Đà, sông Lô.
Là tỉnh còn nghèo, Phú Thọ có nhiều dân tộc thiểu số với tiềm lực kinh tế còn
hạn chế; cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, tiềm năng đất đai, nguồn nhân lực và
cơ sở vật chất chưa được khai thác triệt để. Kinh tế của Phú Thọ thuộc vào loại
chậm phát triển, chủ yếu dựa trên sản xuất nông nghiệp và trồng rừng.
Trước Cách mạng tháng 8, kinh tế Phú Thọ chủ yếu là sản xuất nông nghiệp độc

đang là bài toán khó đặt ra cho những người làm công tác lý luận và chỉ đạo
thực tiễn ở Phú Thọ hiện nay. Trên phương diện lý luận, có thể khẳng định rằng,
việc giải quyết tốt mối quan hệ này ở nước ta nói chung và Phú Thọ nói riêng là
vấn đề cấp bách bởi vì kết hợp TTKT gắn liền với tiến bộ và CBXH chính là
mục tiêu, lý tưởng, đồng thời, cũng là một trong những tiêu chí cơ bản để chỉ ra
bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN).
Với những lí do trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài: Quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội ở Phú Thọ hiện nay làm đề tài
luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề tăng trưởng, phát triển kinh tế và thực hiện CBXH là vấn đề cấp
bách, là bài toán khó của mỗi quốc gia, của các nhà lãnh đạo, quản lý và giới lý
luận trong và ngoài nước.
Một số tác giả trong các bài viết của mình đã đề cập đến vấn đề TTKT,
các yếu tố tác động đến TTKT, đồng thời có nhiều bài viết đã xây dựng những
giải pháp nhằm thúc thúc đẩy TTKT ở nước ta hiện nay như:

3
+ PGS. PTS Vũ Hiền với: “Tăng trưởng kinh tế và nghịch lý của sự tăng
trưởng”, Tạp chí Thông tin lý luận, số 12/1999.
+ GS. TS Tào Hữu Phùng: “Việt Nam tăng trưởng kinh tế và các nhân tố
ảnh hưởng”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 7/1995.
+ GS. PTS Vũ Đình Bách với: “Các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế ở Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1998.
+ GS. PTS Vũ Đình Bách cùng Nguyễn Tôn Trường: “Mô hình phát triển
kinh tế - xã hội đảm bảo sự tăng trưởng bền vững ở nước ta”, Tạp chí Kinh tế
Phát triển, số 7/1995.
Bên cạnh đó một số tác giả đã tập trung nghiên cứu CBXH, CBXH trong
giai đoạn CNH, HĐH và qua lăng kính CBXH để nhìn nhận sự phân hoá giàu
nghèo trong xã hội:

đòi hỏi nghiên cứu kỹ lưỡng có thời gian dài, cho nên những vấn đề luận văn
nghiên cứu cũng chỉ là những xem xét ban đầu.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở phân tích những vấn đề
nảy sinh trong quá trình thực hiện kết hợp tăng trưởng kinh tế và thực hiện công
bằng xã hội trên địa bàn tỉnh Phú Thọ hiện nay, luận văn đề xuất một số giải
pháp chủ yếu nhằm kết hợp TTKT và thực hiện CBXH trong các giai đoạn tiếp
theo ở Phú Thọ.
Để đạt được mục đích đó, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ chủ
yếu sau:
Thứ nhất, tập trung trình bày các quan niệm khác nhau về TTKT và
CBXH; nhận thức và quan điểm của Đảng ta về mối quan hệ TTKT và thực hiện
CBXH đồng thời, phân tích mối quan hệ giữa chúng trên bình diện lý luận chung.
Thứ hai, làm rõ một cách khái quát thực trạng mối quan hệ TTKT và thực
hiện CBXH trong thời gian vừa qua ở Phú Thọ.
Thứ ba, luận văn đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt mối
quan hệ giữa TTKT và thực hiện CBXH ở Phú Thọ hiện nay.

5
4. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận xung quanh mối quan
hệ giữa TTKT với CBXH. Trên cơ sở đó, luận văn tiến hành phân tích thực trạng
của việc thực hiện mối quan hệ này và tìm ra những giải pháp chủ yếu cho chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn từ 1975
đến nay.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn
- Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà
nước ta về việc giải quyết mối quan hệ giữa TTKT và thực hiện CBXH.

QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ VÀ THỰC HIỆN CÔNG
BẰNG XÃ HỘI: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN

1.1. Các quan niệm khác nhau về tăng trƣởng kinh tế và thực hiện
công bằng xã hội
1.1.1. Khái niệm tăng trưởng kinh tế và các yếu tố quyết định sự tăng
trưởng kinh tế
1.1.1.1. Tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế
* Tăng trưởng kinh tế
Ngày nay, tất cả các quốc gia trên thế giới không phân biệt chế độ chính
trị, khi đã giành được độc lập và có chủ quyền, đều xác lập cho mình chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội riêng.
Những mục tiêu phát triển phải dựa vào khả năng khai thác nguồn lực
trong và ngoài nước. Tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh cụ thể mà mỗi quốc gia có
sự kết hợp và khả năng khai thác nguồn lực khác nhau. Song quan niệm chung
nhất là phải tạo cho được sự tiến bộ toàn diện cả về kinh tế và xã hội, đồng thời
coi tăng trưởng kinh tế (TTKT) là tiền đề cần thiết cho sự phát triển.
Tăng trưởng (growth) theo nghĩa chung nhất, là khái niệm dùng để chỉ sự
vật trong quá trình vận động của nó, tăng thêm, mở rộng về quy mô của sự vật
hay một “hệ thống” sự vật trong quá trình vận động của nó. Trong ngôn ngữ sử
dụng hàng ngày chúng ta có thể dùng khái niệm "tăng”, "sự gia tăng" để chỉ sự
tăng trưởng.
Tăng trưởng kinh tế là một khái niệm kinh tế học được dùng để chỉ sự gia
tăng về quy mô, sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định và thường
được đo bằng một số đại kượng trong đó GDP (tổng sản phẩm quốc nội) và GNP
(tổng sản phẩm quốc dân) là những thước đo thường được sử dụng nhất.
Trong kinh tế, thuật ngữ TTKT được sử dụng rộng rãi và có nhiều cách
tiếp cận khác nhau:

8

9
hơn, một sự giảm sút về tỉ phần của nông nghiệp trong GNP và sự gia tăng
tương ứng tỉ phần GNP trong công nghiệp, tài chính, xây dựng và quản lý nhà
nước, một sự gia tăng về giáo dục và kỹ năng của lực lượng lao động và những
tiến bộ kỹ thuật đáng kể được tạo ra trong nền kinh tế”.
Trong cuốn “Kinh tế phát triển” của Đại học Kinh tế quốc dân năm 1997
có định nghĩa PTKT có thể hiểu là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về mọi
mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định trong đó bao gồm cả sự tăng lên
về quy mô sản lượng (tăng trưởng) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội”.
Như vậy, PTKT là một khái niệm KT - XH rộng nó phản ánh đầy dủ
những nội dung sau:
- Thứ nhất: PTKT bao gồm cả sự thay đổi về khối lượng của cải vật chất,
dịch vụ và sự biến đổi tiến bộ về cơ cấu kinh tế và đời sống xã hội.
- Thứ hai: sự tăng thêm quy mô sản lượng và tiến bộ về cơ cấu KT - XH
là hai mặt có mối quan hệ vừa phụ thuộc, vừa độc lập tương đối của lượng (quy
mô, số lượng của cải vật chất) và chất (cơ cấu kinh tế và đời sống xã hội).
- Thứ ba: Sự phát triển kinh tế là quá trình tiến hóa theo thời gian do
những nhân tố nội tại của bản thân nền kinh tế quyết định.
- Thứ tư: PTKT phản ánh sự vận động của nền kinh tế từ trạng thái thấp
lên trạng thái cao hơn.
Như vậy, khái niệm PTKT bao hàm cả sự TTKT
Trong giai đoạn hiện nay, khái niệm PTKT được đặt ra trong mối quan hệ
với phát triển xã hội, bảo vệ môi trường hợp thành nội dung của khái niệm phát
triển bền vững (PTBV). Đây là khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát
triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải đảm bảo sự tiếp tục phát triển trong
tương lai xa. Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia
trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý,
văn hóa… riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó.
Qua sự phân tích trên cho thấy, TTKT và PTKT là hai khái niệm vừa có
tính độc lập, vừa có mối liên hệ với nhau. Khái niệm PTKT rộng hơn khái niệm

yếu tố chủ yếu quyết định sự tăng trưởng và vai trò của những yếu tố đó. Vai trò

11
của các yếu tố này thường khác nhau (có thể rất xa) giữa các nước và trong một
nước cũng có thể khác nhau giữa các thời kỳ. Vì thế nhiều nhà kinh tế cho rằng:
cho đến nay không có một tập hợp thống nhất các ngyuên lý có thể gọi là TTKT.
Tuy nhiên cũng thừa nhận rằng có một số yếu tố chắc chắn giữ vai trò quan
trọng đối với TTKT: số lượng và chất lượng nguồn nhân lực, số lượng và chất
lượng nguồn tài nguyên, mức độ tích luỹ vốn và sự đổi mới công nghệ.
Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực.
Mọi của cải của xã hội đều do con người sáng tạo ra. Ngay từ thế kỷ
XVIII, các nhà kinh tế học (như Adam smith) đã nhận ra rằng: nguồn lực để sản
xuất ra của cải vật chất là lao động và tài nguyên (đất đai). Khi dân số còn ít, tài
nguyên đất đai chưa khan hiếm, sản xuất nông nghiệp còn là chủ yếu, thì yếu tố
quyết định PTKT là lao động. Lao động là sáng tạo và quyết định, tất cả các chi
phí lao động cũng trở thành thước đo giá trị hàng hoá. Ngày nay, trình độ phát
triển đã khác xa thế kỷ XVIII, nhưng lao động vẫn là một trong những yếu tố
quyết định. Nguồn lao động đề cập ở đây bao gồm cả số lượng và chất lượng.
Chất lượng nguồn lao động không chỉ phụ thuộc vào trình độ giáo dục, sức
khoẻ, mà còn phụ thuộc vào số lượng, chất lượng những công cụ, thiết bị sản
suất trang bị cho người lao động. Tóm lại, quy mô nguồn nhân lực bao gồm: số
lượng lao động; độ dài thời gian làm việc (số giờ làm việc trong một tuần) và
chất lượng nguồn nhân lực, đây là một trong những yếu tố quyết định sản lượng
và năng xuất. Đối với các nước đang phát triển lao động là một nguồn lực dồi
dào và là một thế mạnh đặc biệt.
Số lượng và chất lượng nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Tài nguyên thiên nhiên bao gồm: Đất đai; khoáng sản; nguồn nước; khí
hậu… được coi là một trong những nguồn lực quan trọng cho sự PTKT. Những
quốc gia giàu có về tài nguyên thiên nhiên sẽ rất thuận lợi trong quá trình đẩy
nhanh tố độ tăng trưởng.

nhiên vốn khan hiếm. Trong thế kỷ XXI này, đối với những nước phát triển một
trong những yếu tố quyết định thành công trong quá trình phát triển kinh tế là
việc ứng dụng công nghệ mới. Còn đối với các nước đang phát triển lại đòi hỏi

13
phải nhanh chóng đổi mới công nghệ, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá
(CNH, HĐH) đất nước.
Vấn đề học hỏi, nghiên cứu và lựa chọn công nghệ thích hợp có ý nghĩa
quyết định đến tốc độ TTKT. Với chiến lược khôn khéo, nắm cơ hội trong và
ngoài nước, tận dụng mọi lợi thế sẽ làm cho đất nước có đà TTKT nhanh. Lịch
sử tăng trưởng của các nước trên thế giới cũng cho thấy vai trò lãnh đạo của
đảng chính trị cũng như việc điều hành nền kinh tế của chính phủ là hết sức
quan trọng.
Ngoài những yếu tố trên, vấn đề tăng trưởng kinh tế của các nước đang
phát triển có được thuận lợi và diễn ra nhanh chóng hay không lại còn chịu ảnh
hưởng bởi các điều kiện vĩ mô khác như:
- Sự ổn định về chính trị - xã hội;
- Hệ thống pháp luật phải ngày càng hoàn thiện;
- Có kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội tốt và đồng bộ (giao thông; thông
tin, giáo dục, y tế…).
- Có hệ thống ngân hàng, tài chính hoạt động hiệu quả.
Bên cạnh đó, mức TTKT nhanh hay chậm còn phụ thuộc vào đặc điểm
của mỗi dân tộc (truyền thống văn hoá, tính cách, tâm lý, tập quán sản xuất, nghị
lực…) cũng như vị trí địa lý của mỗi quốc gia.
Các yếu tố trên là những nguồn lực chủ yếu quyết định tốc độ TTKT, nó
được coi là những yếu tố sản xuất - “Nguyên liệu đầu vào” của quá trình sản
xuất. Khi gia tăng các “nguyên liệu đầu vào” thì sản lượng đầu ra chủ yếu sẽ
tăng lên. Mức TTKT nhanh hay chậm phụ thuộc vào mức tăng của các “nguyên
liệu đầu vào”. Vì vậy việc đo lường mức tăng trưởng đầu vào (lao động, vốn…)
thể hiện bằng việc xây dựng các mô hình tăng trưởng là hướng cố gắng của

Platon (427 - 347 tr CN). Trong học thuyết triết học của mình, Platon cho
rằng: xã hội được chia làm ba hạng người tương ứng với ba phần của linh hồn
con người. Nhà nước xuất hiện từ sự đa dạng của nhu cầu con người và từ đó
xuất hiện các dạng phân công lao động để thoả mãn nhu cầu ấy. Vì vậy trong xã
hội cần phải duy trì các hạng người khác nhau, và do đó không thể có sự hoàn

15
toàn bình đẳng giữa mọi người được. Công lý là ở chỗ mỗi hạng người làm hết
trách nhiệm của mình, biết sống đúng với tầng lớp của mình, nói cách khác là
phải biết phận mình.
Arixtot (384 - 322 tr CN) cho rằng: Luật pháp là tiêu chí của sự công
bằng. Trên cơ sở luật pháp, tùy theo sự cống hiến của mỗi người mà xem xét họ
được hưởng quyền lợi một cách tương xứng. Như vậy, CBXH là sự đối xử
ngang nhau trên cơ sở pháp luật. Tuy nhiên, Arixtot quan niệm việc đối xử
ngang nhau này chỉ xét trong cùng một giai cấp chứ không phải với mọi thành
viên ở các gai cấp khác nhau. Điều đó có nghĩa là CBXH không phải là chung
cho mọi thành viên trong xã hội, nô lệ không thể có cùng tiêu chí công bằng với
chủ nô. Đó chính là lẽ đương nhiên, là sự công bằng (của tự nhiên).
T.Hốpxơ (1588-1679) cho rằng: con người là giống nhau, nghĩa là theo
tạo hoá, con người phải bình đẳng, phải được hưởng sự công bằng. Nhưng do
lòng tham lam tính ích kỷ và dục vọng của bản thân nên không thể có sự bình
đẳng và công bằng với nhau được. Từ sự phân tích đó ông chỉ ra: để đi đến sự
hoà hợp công bằng giữa con người vời con người thì phải có một lực lượng
đứng lên trên dàn xếp các lợi ích cá nhân, đó là nhà nước. Như vậy Hốp-Xơ đã
có tư tưởng duy vật về các hiện tượng xã hội. Tuy nhiên ông không thấy được
nhà nước cũng mang bản chất giai cấp của nó, trong xã hội có đối kháng giai
cấp, nhà nước không thể nào thiết lập được sự công bằng chung cho toàn xã hội.
J.J Rútxô (1712-1778) đã phê phán các quan hệ đẳng cấp và chế độ
chuyên chế. Theo ông, chế độ sở hữu tư nhân làm cho xã hội phân chia thành kẻ
giàu và người nghèo, làm cho kẻ giàu ngày càng giàu lên và người nghèo càng

nhau về CBXH mặc dù chưa đầy đủ và hệ thống, song những tư tưởng đó là tiền
đề lý luận quan trọng làm cơ sở cho việc nghiên cứu về CBXH cho các nhà tư
tưởng sau này.
1.1.2.2. Quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin về công bằng xã hội
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng cùng với việc kế thừa,
phát triển một cách sáng tạo những yếu tố hợp lí trong tư tưởng về CBXH trong
lịch sử, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin đã đưa ra quan niệm mới, khoa

17
học và toàn diện hơn về công bằng xã hội. Hơn nữa, các ông còn chỉ ra thực
chất, vai trò và phương thức thực hiện CBXH trong đời sống xã hội hiện nay.
Trước hết, chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng, CBXH là sản phẩm của đời
sống xã hội, là quan hệ giữa con người với con người hình thành trong quá trình
con người hoạt động, sinh sống. Quan hệ đó không phải do sư sáng tạo thuần túy
chủ quan của con người, hay do một lực lượng thần thánh, siêu nhiên nào đó
sinh ra. Là sản phẩm của đời sống xã hội mà đời sống xã hội luôn vận động,
biến đổi, nên CBXH cũng phải biến đổi cùng với những điều kiện tồn tại xã hội
và đời sống xã hội. Trong “Về vấn đề nhà ở”, khi bàn đến cơ sở kinh tế của
những quan niệm về công lý của con người, Ph.Ăngghen viết: “Công lý luôn
luôn chỉ là biểu hiện trên lĩnh vực quan niệm và siêu hình của những quan hệ
kinh tế hiện có, khi thì về phương diện bảo thủ, khi thì về phương diện cách
mạng của những điều kiện kinh tế đó. Công lý của người Hy Lạp và người La
Mã cho rằng chế độ nô lệ là công bằng; công lý của những nhà tư sản năm 1789
đòi hỏi thủ tiêu chế độ phong kiến, vì chế độ ấy không công bằng”. Luận điểm
trên cho thấy, quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin không cho rằng có công
bằng xã hội chung cho mọi xã hội. Mỗi xã hội có điều kiện kinh tế - xã hội khác
nhau, các giai cấp gắn với các điều kiện kinh tế đó có địa vị khác nhau nên quan
niệm về CBXH cũng khác nhau và mang tính giai cấp rõ rệt.
Thứ hai, CBXH thực chất là mối quan hệ về mặt lợi ích của con người
trong xã hội. Lợi ích của con người biểu hiện trên nhiều lĩnh vực như lợi ích

của chính mình nên còn chịu ảnh hưởng của XHTB. “Cái xã hội mà chúng ta nói
ở đây không phải là một xã hội cộng sản chủ nghĩa đã phát triển trên những cơ
sở của chính nó, mà trái lại là một xã hội cộng sản chủ nghĩa vừa thoát thai từ xã
hội tư bản chủ nghĩa, do đó một xã hội về mọi phương diện - kinh tế, đạo đức
tinh thần còn mang dấu vết của xã hội cũ mà nó đã lọt lòng ra” [43, tr. 33]. Thực
hiện phân phối theo lao động trong giai đoạn đầu của CNCS là một bước tiến
lớn trong thực hiện CBXH. Tuy nhiên, chế độ phân phối đó vẫn dựa trên tiêu
chuẩn của CNTB, chấp nhận sự bất công nhất định. Theo Mác đó là điều không
thể tránh vì trình độ phát triển kinh tế chưa cho phép. Ông viết, “Nhưng đó là
những thiếu sót không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản
chủ nghĩa, lúc nó vừa mới lọt lòng từ xã hội tư bản chủ nghĩa ra sau những cơn

19
đau đẻ kéo dài. Quyền không bao giờ có thể ở một mức cao hơn chế độ kinh tế
và sự phát triển của văn hóa của xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định” [46, tr.
35-36]. Mác còn chỉ rõ, khi lực lượng sản xuất chưa phát triển đến trình độ cao,
con người chưa phát triển toàn diện, còn phụ thuộc vào phân công lao động xã
hội thì chưa thể thực hiện được đầy đủ nguyên tắc công bằng xã hội - khẩu hiệu
làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu. Đòi hỏi thực hiện công bằng xã hội ở
mức quá cao so với trình độ phát triển của kinh tế là ảo tưởng, là không thực tế
và điều đó sẽ cản trở sự phát triển của xã hội.
Thứ tư, CBXH xét theo xu hướng vận động của nó, luôn đối lập với bất
công xã hội, luôn hướng tới giải quyết tốt hơn những nhu cầu căn bản của con
người, đảm bảo tốt hơn những điều kiện cho sự tồn tại và phát triển toàn diện
của con người. Do vậy, công bằng vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát
triển xã hội.
Như vậy, chúng ta có thể trình bày một cách khái quát CBXH theo quan
niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin như sau: CBXH là một phạm trù lịch sử, phản
ánh mối quan hệ giữa con người với con người trong việc đảm bảo các điều
kiện, cơ hội phát triển, trong việc thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi, cống hiến và

Điều này được giáo sư - Tiến sĩ Lê Hữu Tầng đánh giá: “trong cơ chế
quản lý tập trung bao cấp mà chúng ta lầm tưởng duy nhất là đúng, là cái duy
nhất đảm bảo xây dựng thành công CNXH, khái niệm công bằng được đồng
nhất hoàn toàn với khái niệm bình đẳng còn khái niệm bình đẳng được hiểu là
sự ngang bằng nhau hoàn toàn giữa người với người về phương diện kinh tế,
chính trị, văn hóa - xã hội… Kết quả là khái niệm công bằng về thực chất bị đem
đồng nhất với khái niệm cào bằng một cách bình quân chủ nghĩa. Mọi sự đi lệch
khỏi sự bình quân đó đều bị coi là không công bằng. Chính quan điểm sai lầm
đã làm suy giảm, thậm chí triệt tiêu mất động lực của sự phát triển kinh tế - xã
hội và việc thực hiện quan điểm đó trong cuộc sống về thực chất là bóc lột người
có công với sản xuất và phát triển xã hội”. Ở thời kỳ này, người ta nhầm lẫn
giữa CBXH và bình đẳng xã hội. CBXH được quan niệm là sự ngang bằng về
mọi phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… giữa mọi thành viên trong

21
xã hội. Chính từ chỗ quan niệm sai lầm đó đã làm triệt tiêu động lực phát triển
kinh tế, xã hội làm cho người lao động thờ ơ với quyền làm chủ của mình.
Về điều này, Ăngghen đã từng cảnh báo: “Cho rằng luận điểm bình đẳng
= công bằng là một nguyên tắc tối cao và một chân lý cuối cùng thì thật là ngu
xuẩn. Bình đẳng chỉ tồn tại trong khuôn khổ đối lập với bất bình đẳng, công
bằng chỉ tồn tại trong khuôn khổ đối lập với bất công bằng” [42, tr. 840].
Như vậy, trước thời kỳ đổi mới chúng ta đã có cách hiểu chưa đầy đủ về
công bằng và bình đẳng xã hội, đã đồng nhất công bằng với bình đẳng, đó là sự
ngang nhau hoàn toàn giữa mọi thành viên trong xã hội về mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội. Và thực chất công bằng ở thời kỳ này là cào bằng, chia đều bình
quân chủ nghĩa, chủ nghĩa bình quân chính là “kẻ tòng phạm” với bất công xã hội.
* Trong thời kỳ đổi mới
Đại hội Đảng VI (1986) chúng ta đã mạnh dạn chuyển nền kinh tế từ cơ
chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN. Việc tiếp nhận nền


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status