TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ VẤN ĐỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM - Pdf 51

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ
VẤN ĐỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
Hiện nay trên thế giới có 3 mô hình tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội.
Đó là mô hình “Công bằng trước – Tăng trưởng sau”; mô hình “Tăng trưởng trước –
Công bằng sau” và mô hình “Tăng trưởng đi đôi với Công bằng”. Những quan điểm
này chi phối các chính sách kinh tế- xã hội của từng nước nhất định trong từng giai
đoạn phát triển. Tuy vậy, trong những thập kỷ qua, có không ít bằng chứng cho thấy
rằng những chính sách quá nhấn mạnh vào tăng trưởng kinh tế mà coi nhẹ công bằng
xã hội hoặc quá nhấn mạnh công bằng xã hội mà coi nhẹ tăng trưởng kinh tế, đều dễ
gây ra những trở ngại ngăn cản sự phát triển. Do đó, để đảm bảo đạt được mục tiêu
phát triển bền vững ở cấp độ quốc gia cũng như quốc tế, quan điểm thứ ba ngày càng
được nhấn mạnh.
Quan điểm tăng trưởng đi liền với công bằng, giữa việc tăng trưởng kinh tế với
thực hiện công bằng xã hội có mối quan hệ mật thiết, hai chiều với nhau, bao gồm:
thứ nhất, tăng trưởng kinh tế là điều kiện để thực hiện công bằng xã hội; thứ hai, tăng
trưởng kinh tế cao và bền vững là biểu hiện của công bằng xã hội; thứ ba, công bằng
xã hội là một trong những điều kiện không thể thiếu được để có tăng trưởng kinh tế
cao và bền vững; và cuối cùng, công bằng xã hội là biểu hiện của tăng trưởng kinh tế.
Như vậy, theo quan điểm này, rõ ràng công bằng xã hội không đối lập với tăng trưởng
kinh tế mà là một yếu tố góp phần vào tăng trưởng kinh tế. Dựa trên việc phân tích
các mô hình nhằm đánh giá mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã
hội đã đem lại cho Việt Nam sự lựa chọn hợp lý. Thực hiện sự nghiệp đổi mới, đẩy
mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, Đảng và nhà nước ta rất chú trọng gắn
mục tiêu tăng trưởng kinh tế với cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân. Tăng
trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, thực hiện tiến bộ xã hội và công
bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách phát triển là quan điểm lớn của
Đảng. Hiện nay, Việt Nam đang đi theo lựa chọn mô hình “Tăng trưởng đi đôi với
công bằng” vì nó phù hợp với điều kiện thực tế hiện nay. Tuy nhiên việc thực hiện
mô hình này đòi hỏi phải tiến hành theo một số bước sau:



duy trì bình quân tăng 7,6%/ năm; giai đoạn 2001-2005, GDP tăng bình quân 7,34%; giai
đoạn 2006-2010, do suy giảm kinh tế thế giới, Việt Nam vẫn đạt tốc độ tăng trưởng GDP
bình quân 6,32%/năm. Trong các năm tiếp theo, do chịu tác động từ cuộc khủng hoảng
tài chính toàn cầu 2008 và khủng hoảng nợ công 2010, tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn
2011-2015 của Việt Nam tuy đã chậm lại nhưng vẫn đạt 5,9%/năm, là mức cao của khu
vực và thế giới, quy mô nền kinh tế tăng nhanh. Từ những số liệu phản ánh tốc độ tăng
trưởng kinh tế của Việt Nam, chúng ta có thể thấy nền kinh tế của đất nước đang vươn
mình mạnh mẽ, gắng bước sánh kịp với các cường quốc năm châu.
Qua những giai đoạn phát triển, thành quả của tăng trưởng kinh tế đã cải thiện
đáng kể mức sống của tuyệt đại đa số người dân và giúp giảm nghèo nhanh chóng. Mô
hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong những năm qua là tăng trưởng theo chiều
rộng với các nỗ lực chia sẻ lợi ích rộng rãi.
Tăng trưởng kinh tế phải đi đối với việc thực hiện công bằng xã hội
Tự bản thân tăng trưởng kinh tế không thể đem đến công bằng xã hội được và
cũng không thể chờ đợi đến khi trình độ kinh tế phát triển cao mới thực hiện công
bằng xã hội. Theo nhà kinh tế học Nhật Bản, Hary T. Oshima, tăng trưởng kinh tế
phải đi kèm với việc tạo dựng nhiều cơ hội việc làm, sử dụng tối đa sức lao động xã
hội nhằm tạo điều kiện cho người lao động chuyển từ việc làm có thu nhập thấp sang
việc làm có thu nhập cao hơn, chuyển từ khu vực sản xuất nông nghiệp sang những
việc làm có năng suất cao hơn trong khu vực sản xuất công nghiệp hay dịch vụ. Đồng
thời, tăng trưởng kinh tế phải tạo cơ hội cải thiện tình hình của những người nghèo
nhất, thu hẹp dần khoảng cách giàu - nghèo, thu hẹp sự khác biệt giữa nông thôn thành thị nhằm giảm bớt tình trạng bất bình đẳng xã hội thông qua một cơ chế tái
phân phối phần của cải được tạo ra thêm nhờ tăng trưởng.
Có nhiều người cho rằng trong hơn hai thập kỷ vừa qua, khoảng cách giàu - nghèo
của Việt Nam có sự giãn rộng ra. Nguyên nhân là do xuất phát điểm từ nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung, việc phân phối hiện vật mang tính bình quân, khi chuyển sang cơ
chế thị trường, chênh lệch giàu - nghèo tăng là tất yếu. Tăng trưởng kinh tế nhanh và diễn
ra trên diện rộng được thừa nhận rộng rãi là động lực chính của giảm nghèo ở Việt Nam



0.410
0.360
0.421

0.410
0.370
0.423

0.393
0.378
0.424

0.404
0.402
0.385
0.385
0.395
0.399
0.434
0.433
0.424
Nguồn: Tổng cục Thống kê

Từ năm 2002 đến năm 2010 hệ số Gini của thành thị luôn cao hơn của nông thôn,
nhưng đến năm 2012 đã có sự “đổi ngôi”. Nghĩa là khu vực thành thị luôn có bất bình
đẳng thu nhập cao hơn khu vực nông thôn. Tuy nhiên sự bất bình đẳng ở thành thị trong
giai đoạn này đã giảm một cách đáng kể từ 0,41 vào những năm 2002- 2004 sau đó đến
năm 2012 giảm xuống còn 0,385, tức giảm 6,1%. Trái lại ở khu vực nông thôn, bất bình
đẳng về thu nhập đang ngày càng gia tăng. Chỉ trong vòng 10 năm hệ số Gini tăng từ
0,36 lên 0,399 hay tăng 10,83%. Chính sự gia tăng bất bình đẳng ở khu vực nông thôn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status