TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI VẤN ĐỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI TẠI THỊ XÃ BÀ RỊA - Pdf 30

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
---------------  ---------------
MAI VĂN NGHĨA
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI VẤN ĐỀ
CÔNG BẰNG XÃ HỘI TẠI THỊ XÃ BÀ RỊA
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH – 2010
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
---------------  ---------------
MAI VĂN NGHĨA
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI VẤN ĐỀ
CÔNG BẰNG XÃ HỘI TẠI THỊ XÃ BÀ RỊA
Chuyên ngành: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Mã số: 60.31.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS NGUYỄN VĂN LUÂN
TP. HỒ CHÍ MINH – 2010
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc
lập của tôi. Các tư liệu, tài liệu sử dụng trong luận văn là hoàn toàn trung thực
và có nguồn dẫn rõ ràng.
Tác giả
MAI VĂN NGHĨA
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CIEM Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương
CN Khu vực công nghiệp và xây dựng
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
DV Khu vực dịch vụ và thương mại

Biểu đồ 11: Tỷ trọng (%) chi cho sự nghiệp y tế trong cơ cấu chi NSNN của thị xã
Bà Rịa (giai đoạn 2001-2008) ................................................................................ 60
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU................................................................................................................1
Chương 1. NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ
CÔNG BẰNG XÃ HỘI .........................................................................................6
1.1. Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội.................................................6
1.1.1. Tăng trưởng kinh tế, Phát triển kinh tế và Phát triển bền vững..............6
1.1.2. Bất bình đẳng xã hội và Công bằng xã hội.............................................9

2.2.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế .................................................................. 39
2.2.3. Vốn đầu tư phát triển ........................................................................... 43
2.2.4. Tăng trưởng năng suất lao động xã hội ................................................ 45
2.3. Tác động của tăng trưởng kinh tế đến công bằng xã hội ở thị xã Bà Rịa
(1995-2009)....................................................................................................... 47
2.3.1. Về lao động và việc làm ...................................................................... 47
2.3.2. Về giáo dục và đào tạo ........................................................................ 48
2.3.3. Về y tế ................................................................................................. 50
2.3.4. Về xóa đói – giảm nghèo và an sinh xã hội .......................................... 51
2.3.5. Về cơ sở hạ tầng và đô thị hóa ............................................................. 53
2.4. Những yếu kém trong việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công
bằng xã hội tại thị xã Bà Rịa giai đoạn 1995-2009 ......................................... 55
2.4.1. Tăng trưởng kinh tế còn dưới mức tiềm năng ...................................... 55
2.4.2. Thực hiện công bằng xã hội còn bất cập, độ bao phủ chưa rộng........... 58
Tóm tắt chương 2 ............................................................................................ 61
Chương 3. QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM
KẾT HỢP GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI
TẠI THỊ XÃ BÀ RỊA GIAI ĐOẠN 2010 - 2020 ................................................ 62
3.1. Những quan điểm và định hướng của Đảng Cộng sản Việt Nam về kết
hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ........................................ 62
3.2. Định hướng và mục tiêu của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và thị xã Bà Rịa về
tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội (2010 – 2020) ................................ 65
3.2.1. Định hướng và mục tiêu của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu .......................... 65
3.2.2. Định hướng và mục tiêu của thị xã Bà Rịa ........................................... 66
3.3. Những giải pháp cơ bản nhằm kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công
bằng xã hội tại Thị xã Bà Rịa trong giai đoạn 2010 - 2020 ............................ 68
3.3.1. Duy trì tốc độ tăng trưởng GDP cao đồng thời nâng cao chất lượng tăng
trưởng ........................................................................................................... 68
3.3.2. Thực hiện công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách
phát triển ....................................................................................................... 73

vững. Dù sao đi nữa, thì sự lựa chọn khó khăn giữa tăng trưởng kinh tế và
công bằng xã hội đã được Đảng ta khẳng định: “Thực hiện tiến bộ và công
bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển” [12; tr. 77]
và “ Kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trong phạm vi cả
nước, ở từng lĩnh vực, địa phương” [12; tr. 101].
2

Để kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội, chúng ta cần
phải giải quyết hai vấn đề mấu chốt sau đây:
Một là, làm thế nào để tận dụng những cơ hội do tăng trưởng kinh tế
đem lại nhằm thực hiện công bằng xã hội?
Hai là, làm thế nào để việc thực hiện công bằng xã hội sẽ tạo điều kiện
tăng trưởng kinh tế cao và bền vững?
Việc đưa ra các giải pháp cụ thể và phù hợp với cơ cấu đặc thù riêng của
nước ta phải xuất phát từ thực tiễn sinh động ở từng địa phương, từ những
kinh nghiệm đã có, những mô hình, lý thuyết và nghiên cứu khoa học về mối
quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Vì vậy, việc nhận thức
đúng bản chất mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
không chỉ có ý nghĩa về mặt nhận thức luận, về cơ sở khoa học thực tiễn mà
vấn đề quan trọng hơn là tìm cho được những giải pháp phù hợp nhằm kết
hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội trong tình hình hiện nay ở nước
ta nói chung và ở mỗi địa phương nói riêng. Đây cũng là lý do mà tôi chọn đề
tài “Tăng trưởng kinh tế với vấn đề công bằng xã hội tại thị xã Bà Rịa”.
2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Đề tài tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội đã có nhiều công trình
nghiên cứu, nhiều lý thuyết và mô hình về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh
tế và công bằng xã hội, nhiều bài báo, hội thảo khoa học .v.v… đề cập đến
vấn đề này ở các khía cạnh cũng như cách tiếp cận khác nhau. Một số công
trình nghiên cứu tiêu biểu ở Việt Nam hiện nay như: “Đặc trưng của nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” của GS.TS. Vũ Đình

4

việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội tại thị xã Bà Rịa
trong giai đoạn 2010 – 2020.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của luận văn được xác định là việc kết hợp giữa
tăng trưởng kinh tế với vấn đề công bằng xã hội tại thị xã Bà Rịa .
Giới hạn của đề tài về thời gian nghiên cứu là giai đoạn 1995 – 2009 (thị
xã Bà Rịa mới thành lập và đi vào hoạt động chính thức từ ngày 15/8/1994).
Phạm vi của đề tài sẽ trình bày mang tính khái quát những vấn đề lý luận
và thực tiễn, chủ yếu là sự kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã
hội tại thị xã Bà Rịa giai đoạn 1995 – 2009.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TÀI LIỆU
5.1. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sẽ vận dụng cách tiếp cận theo phương pháp duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử, vận dụng những quan điểm của Đảng ta về nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về phân phối và tái phân phối, về
tăng trưởng kinh tế và các chính sách xã hội.
Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp tiếp cận khác như :
mô tả, phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chứng, thống kê … để làm rõ thực
trạng các mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội tại thị xã
Bà Rịa.
5.2. Nguồn tài liệu
Ngoài những sách chuyên khảo, các giáo trình kinh tế, các nghị quyết
của Đảng, tạp chí, báo cáo khoa học – hội thảo, các bài viết trên các phương
tiện thông tin xoay quanh đề tài tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Tác
giả sử dụng các báo cáo của Đảng bộ, HĐND và UBND thị xã Bà Rịa trong
5

các nhiệm kỳ và hàng năm; các số liệu từ Niên giám thống kê tình hình kinh

1.1.1. Tăng trưởng kinh tế, Phát triển kinh tế và Phát triển bền vững
1.1.1.1. Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, liên quan đến sự
thịnh suy của một quốc gia. Trong điều kiện nền kinh tế thế giới đang suy
giảm mạnh như hiện nay thì tăng trưởng kinh tế dường như đã và đang trở
thành một lối sống. Chính phủ nước nào cũng ưu tiên các nguồn lực của mình
cho tăng trưởng kinh tế, coi đó là cái gốc, là nền tảng để giải quyết mọi vấn
đề khác, đặc biệt là các vấn đề xã hội như: tạo công ăn việc làm, nâng cao
mức sống của người dân, tăng cường phúc lợi xã hội, xóa đói - giảm nghèo,
thực hiện công bằng xã hội… Tăng trưởng kinh tế thực sự là cần thiết.
Khái niệm Tăng trưởng kinh tế được nhiều tác giả đề cập với nhiều
cách khác nhau, song hầu hết các tác giả đều thống nhất ở định nghĩa chung
nhất về tăng trưởng kinh tế như sau: “Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu
nhập thực tế hay sự gia tăng về qui mô sản lượng của toàn bộ nền kinh tế
trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)”.
Như vậy, Tăng trưởng kinh tế là khái niệm chỉ diễn tả động thái biến
đổi về số lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ của toàn bộ nền kinh tế theo
thời gian, nhưng chưa đề cập đến mối quan hệ của nó với xã hội.
1.1.1.2. Phát triển kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là cần thiết nhưng chưa đủ để làm cho phúc lợi
được phân phối rộng rãi. Sự phát triển của một quốc gia không chỉ là sự gia
7

tăng về qui mô sản lượng của nền kinh tế mà còn hướng đến nhiều mục tiêu
kinh tế và xã hội rộng rãi hơn. Do vậy, khái niệm Phát triển kinh tế đã được
đặt ra và nhận thức về nó ngày càng được hoàn thiện.
Trước hết, phát triển cần phải được hiểu như một quá trình nhiều mặt
liên quan đến việc tái tổ chức và tái định hướng toàn bộ các hệ thống kinh tế
và xã hội [22; tr. 139]. Vì vậy, phát triển kinh tế là một nhận thức toàn diện
bao gồm các khía cạnh tinh thần và vật chất. Trong khi tăng trưởng kinh tế chỉ

Vì vậy, một khái niệm mới về phát triển đã ra đời, mang nội hàm phản
ánh tổng hợp hơn, toàn diện hơn tất cả các khái niệm về tăng trưởng kinh
tế, phát triển kinh tế…, đó là khái niệm phát triển bền vững. Năm 1987, Ủy
ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED: World Commission on
Environment and Development) đã công bố báo cáo “Tương lai chung của
chúng ta”, trong đó phát triển bền vững được định nghĩa “là sự phát triển
thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại khả năng thỏa
mãn nhu cầu của các thế hệ tương lai” [44].
Cụ thể hơn, phát triển bền vững được hiểu là quá trình phát triển có sự
kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển, gồm có:
(1) phát triển kinh tế (nền tảng là tăng trưởng kinh tế) , (2) phát triển xã hội
(mục tiêu là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xóa đói giảm nghèo và giải
quyết việc làm) và (3) bảo vệ môi trường (mục tiêu là xử lý, khắc phục ô
nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và
chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên).
9

Phát triển bền vững có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các nước
đang phát triển. Phát triển bền vững là sự phát triển những giá trị của con
người, trong khi tăng trưởng kinh tế chỉ là yếu tố biểu thị năng lực thỏa mãn
nhu cầu của con người, nhưng không phải là tất cả. Sự phát triển những giá trị
của con người cần đặt trong khuôn khổ phát triển bền vững, trong đó, việc kết
hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội giữ vai trò quan trọng. Do
vậy, vấn đề tăng trưởng - công bằng đã được đặt ra: làm thế nào kinh tế
không những tăng trưởng mà công bằng xã hội cũng được thực hiện?.
1.1.2. Bất bình đẳng xã hội và Công bằng xã hội
1.1.2.1. Bất bình đẳng xã hội
Nhằm hướng đến sự phát triển bền vững, việc khắc phục tình trạng bất
bình đẳng xã hội đã trở thành vấn đề cốt lõi của mọi quốc gia. Trong hầu hết
các xã hội, chúng ta luôn chứng kiến những hiện tượng bất bình đẳng. “Bất

các nhóm xã hội…). Khái niệm về công bằng xã hội, vì vậy, có nhiều ý kiến
khác nhau tuỳ thuộc vào quan điểm của mỗi xã hội nên mang tính chủ quan,
tương đối và đa diện. Có thể nêu ra một vài quan niệm khác nhau về công
bằng xã hội sau đây:
- Khi đề cập đến nguyên tắc công bằng trong phân phối dưới chủ nghĩa
xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội là công bằng,
hợp lý: làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được
hưởng. Những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp đỡ chăm
nom”[ 23; tr. 181] và nhắc nhở: “Trong công tác lưu thông phân phối, có hai
điều quan trọng phải luôn luôn nhớ: Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng;
Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”[ 24; tr. 187].
11

- Theo tác giả Trần Văn Thọ, “Công bằng trước hết phải được hiểu là
sự bình đẳng trong cơ hội, cơ hội làm việc, cơ hội đầu tư; nghĩa là bình đẳng
trong việc tiếp cận những cơ hội mà với cố gắng và năng lực con người có
thể đạt đến một mức sống cao hơn hiện nay”[33; tr. 132].
- Theo các nhà kinh tế hiện nay, công bằng xã hội được phân biệt thành
công bằng ngang và công bằng dọc: Công bằng ngang là đối xử như nhau
với người có đóng góp như nhau; Công bằng dọc là đối xử khác nhau với
người có khác biệt bẩm sinh hoặc có các điều kiện, hoàn cảnh kinh tế - xã hội
khác nhau (do khả năng và kĩ năng lao động khác nhau; cường độ làm việc
khác nhau; sự khác nhau về nghề nghiệp; sự khác nhau về giáo dục đào tạo;
được hưởng thừa kế và chiếm hữu tài sản khác nhau; hoặc gánh chịu rủi ro
khác nhau). Nếu như công bằng ngang được thực hiện bởi cơ chế thị trường
thì công bằng dọc cần có sự điều tiết của chính phủ nhằm thu hẹp khoảng
cách bất bình đẳng xã hội. Việc phân định và kết hợp công bằng dọc và ngang
sẽ đảm bảo công bằng xã hội thực sự.
Khái quát lại, theo quan điểm của tác giả, công bằng xã hội được hiểu
là sự bình đẳng trong việc tiếp cận và lựa chọn những cơ hội cho mọi người

(tăng trưởng kép) có thể dẫn tới một kết quả ngoạn mục (còn gọi là phép màu
của tăng trưởng kép) theo “quy tắc 70, nghĩa là, nếu một biến số nào đó tăng
với tỷ lệ x % một năm, thì nó sẽ tăng gấp đôi trong vòng 70 / x năm” [25; tr.
48]. Ví dụ, thu nhập của A mỗi năm là 5.000 USD, nếu như mỗi năm thu
nhập của A tăng 7% thì (70/7=10) 10 năm sau, thu nhập của A sẽ tăng gấp
đôi là 10.000 USD. Sự khác biệt trong tốc độ tăng trưởng có thể giúp các
nước nghèo đuổi kịp các nước giàu sau một thời gian, tiêu biểu nhất là Nhật
Bản chỉ sau vài thập kỷ đã vươn lên trên nhiều nước khác và trở thành nền
kinh tế phát triển lớn thứ hai trên thế giới hiện nay.
(%)
00
0
Y
Y
Y
YY
g
t
y




13

1.2.1.2. GDP bình quân đầu người (GDP/người): là chỉ tiêu phản ánh
một cách tổng quan mức sống dân cư và được tính bằng tỉ lệ giữa tổng sản
phẩm trong nước với tổng dân số trung bình trong năm. Tổng sản phẩm trong
nước bình quân đầu người có thể tính theo giá thực tế, giá so sánh, tính theo
nội tệ hoặc theo ngoại tệ. Sự gia tăng liên tục với tốc độ ngày càng cao của

trong phân phối thu nhập càng cao, nghĩa là phần trăm thu nhập người nghèo
nhận được sẽ giảm đi. Đường cong Lorenz là cách biểu hiện trực quan của sự
bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, nhưng nó không phải là cách đánh
giá định lượng về bất bình đẳng trong phân phối thu nhập. Vì vậy, người ta
thường sử dụng hệ số Gini.
Hệ số Gini: được phát triển bởi Corrado Gini (1884-1965), nhà thống kê
học người Ý. Hệ số Gini là một hệ số được tính từ đường cong Lorenz dùng
để chỉ ra mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập theo công thức sau:
 
n
bq
nyyyy
ynn
G  ...32
21
1
321
2

Trong đó:
o y
1
, y
2
, … y
n
: Thu nhập của từng nhóm hộ theo thứ tự giảm dần
o y
bq
: Thu nhập bình quân của hộ
A

B

16

Theo kết quả tóm tắt khảo sát mức sống hộ gia đình 2006 do Tổng cục
Thống kê công bố ngày 26/12/2007 cho thấy hệ số GINI về thu nhập tính
chung cả nước ta năm 2006 là 0,42, tương đương năm 2004. Hệ số này năm
1999 là 0,39, năm 2002 là 0,418. Như vậy, sự bất bình đẳng về thu nhập của
nước ta ở mức thấp nhưng có xu hướng tăng.
1.2.2.2. Phân phối thu nhập theo đầu người hoặc các nhóm dân cư
Phương pháp tính là người ta chia dân số thành 5 nhóm người, mỗi nhóm
có 20% dân số, sau đó xếp theo thứ tự từ thấp đến cao về thu nhập. Qua đó,
có thể thấy mức độ công bằng xã hội thông qua việc so sánh nhóm giàu nhất
và nhóm nghèo nhất. Nếu khoảng cách chênh lệch này ngày càng giãn ra
trong khi kinh tế đất nước vẫn có tốc độ tăng trưởng khá, song mức độ cải
thiện thu nhập của lớp người nghèo không được bao nhiêu, thì đây là một vấn
đề rất đáng được báo động.
Theo kết quả tóm tắt khảo sát mức sống hộ gia đình 2006 do Tổng cục
Thống kê công bố ngày 26/12/2007 cho thấy chênh lệch về thu nhập bình
quân 1 người 1 tháng giữa nhóm hộ giàu nhất và nhóm hộ nghèo nhất trong
năm 2006 tăng nhẹ so với năm 2004. Thu nhập bình quân 1 người 1 tháng của
nhóm hộ nghèo nhất (nhóm 1) đạt 184 nghìn đồng, tăng 29,9%, của nhóm hộ
giàu nhất (nhóm 5) đạt 1542 nghìn đồng, tăng 30,4% so 2004. Mức chênh
lệch thu nhập bình quân 1 người 1 tháng giữa nhóm 5 và nhóm 1 là 8,37 lần,
tăng nhẹ so năm 2004. So sánh 20% số hộ có mức thu nhập cao nhất với 20%
số hộ có thu nhập thấp nhất thì hệ số chênh lệch năm 2006 là 8,4 lần (hệ số

dân chúng (bao gồm sự tự do về kinh tế, xã hội, chính trị) để con người có
được các cơ hội trở thành người lao động sáng tạo, có năng suất, được tôn

Trích đoạn Tăng trưởng năng suất lao động xã hội Về giáo dục và đào tạo Về xóa đó i– giảm nghèo và an sinh xã hội Tăng trưởng kinh tếc òn dưới mức tiềm năng Thực hiện công bằng xã hội còn bất cập, độ bao phủ chưa rộng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status