Mở đầu
Hơn 20 năm qua, kể từ khi bước vào thực hiện mô hình kinh tế thị trường
định hướng XHCN, nền kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng nhanh, đạt được nhiều
thành tựu lớn, làm thay đổi khá rõ tình hình đất nước. Kinh tế ra khỏi tình trạng
khủng hoảng, hoạt động ngày càng năng động và có hiệu quả. Của cải xã hội
ngày càng nhiều, hàng hóa ngày càng phong phú. Đời sống nhân dân từng bước
được cải thiện. Đất nước chẳng những giữ vững được ổn định chính trị trước
những chấn động lớn trên thế giới mà còn có bước phát triển đi lên. Tổng sản
phẩm trong nước (GDP) tăng bình quân 7%/năm. Nông nghiệp phát triển liên tục,
đặc biệt là về sản xuất lương thực, nuôi trồng và khai thác thủy sản. Giá trị sản
xuất công nghiệp tăng 13,5%/năm. Hệ thống kết cấu hạ tầng được tăng cường.
Các ngành dịch vụ, xuất khẩu và nhập khẩu phát triển. Quan hệ đối ngoại và hội
nhập kinh tế quốc tế không ngừng được mở rộng,
Tuy nhiên, cùng với sự tăng trưởng cao của nền kinh tế, chúng ta đang
phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường đang xảy ra với quy mô ngày càng
rộng và mức độ ngày càng nghiêm trọng. Việc khai thác quá mức các nguồn tài
nguyên, sử dụng các hoá chất độc hại trong công - nông nghiệp, các chất thải
không được xử lý trước khi thải ra môi trường, khói bụi và tiếng ồn từ các nhà
máy, phương tiện giao thông đang dẫn tới tình trạng môi trường ngày càng kiệt
quệ và ô nhiễm.
Do vậy, có thể nói giữa tăng trưởng kinh tế và vấn đề bảo vệ môi trường có
mối liên hệ tác động qua lại mật thiết. Xuất phát từ thực tế khách quan đó, cần
tìm hiểu, phân tích, đánh giá mối liên hệ này thông qua phép biện chứng về mối
liên hệ phổ biến từ đó tìm ra giải pháp góp phần cân bằng giữa tăng trưởng kinh
tế và bảo vệ môi trường. Việc tìm ra hướng đi phù hợp cho vấn đề này đóng vai
trò quan trọng trong việc giúp kinh tế tăng trưởng bền vững nhưng vẫn đảm bảo
môi trường ngày càng xanh, sạch, đẹp.
1
1
1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là một trong hai nguyên lý cơ bản của
phép biện chứng duy vật:
biệt lập, tách rời nhau, mà tồn tại trong sự tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau
theo những quan hệ xác định. Chính trên cơ sở đó, triết học duy vật biện chứng
khẳng định rằng, liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác
động qua lại, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các
mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong thế giới.
1.2. Các tính chất của mối liên hệ:
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, mối liên hệ có ba tính
chất cơ bản: Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú.
- Tính khách quan của mối liên hệ biểu hiện: các mối liên hệ là vốn có của
mọi sự vật, hiện tượng; nó không phụ thuộc vào ý thức của con người.
- Tính phổ biến của mối liên hệ biểu hiện: bất kỳ một sự vật, hiện tượng
nào; ở bất kỳ không gian nào và ở bất kỳ thời gian nào cũng có mối liên hệ với
những sự vật, hiện tượng khác. Ngay trong cùng một sự vật, hiện tượng thì bất kỳ
một thành phần nào, một yếu tố nào cũng có mối liên hệ với những thành phần,
những yếu tố khác.
- Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ biểu hiện: sự vật khác nhau,
hiện tượng khác nhau, không gian khác nhau, thời gian khác nhau thì các mối liên
hệ biểu hiện khác nhau. Có thể chia các mối liên hệ thành nhiều loại: mối liên hệ
bên trong, mối liên hệ bên ngoài, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ thứ yếu, v.v
Các mối liên hệ này có vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và vận động của
sự vật, hiện tượng.
Sự phân chia từng cặp mối liên hệ chỉ mang tính tương đối, vì mỗi loại mối
liên hệ chỉ là một hình thức, một bộ phận, một mắt xích của mối liên hệ phổ biến.
Mỗi loại mối liên hệ trong từng cặp có thể chuyển hóa lẫn nhau tùy theo phạm vi
3
3
bao quát của mối liên hệ hoặc do kết quả vận động và phát triển của chính các sự
vật.
Tuy sự phân chia thành các loại mối liên hệ chỉ mang tính tương đối,
nhưng sự phân chia đó lại rất cần thiết, bởi vì mỗi loại mối liên hệ có vị trí và vai
điểm lịch sử - cụ thể.
Quan điểm lịch sử - cụ thể đòi hỏi chúng ta khi nhận thức về sự vật và tác
động vào sự vật phải chú ý điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể, môi trường cụ
thể trong đó sự vật sinh ra, tồn tại và phát triển. Thực tế cho thấy rằng, một luận
điểm nào đó là luận điểm khoa học trong điều kiện này, nhưng sẽ không là luận
điểm khoa học trong điều kiện khác.
2.Các khái niệm, nội dung, vai trò cơ bản của tăng trưởng kinh tế và bảo vệ
môi trường:
2.1. Tăng tr ư ởng kinh tế:
2.1.1. Khái niệm tăng trưởng kinh tế:
Tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về số lượng, chất lượng, tốc độ và quy
mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Sự tăng trưởng được
so sánh theo các thời điểm gốc sẽ phản ánh tốc độ tăng trưởng. Đó là sự gia tăng
quy mô sản lượng kinh tế nhanh hay chậm so với thời điểm gốc. Quy mô và tốc
độ tăng trưởng là "cặp đôi" trong nội dung khái niệm tăng trưởng kinh tế. Hiện
nay, trên thế giới người ta thường tính mức gia tăng về tổng giá trị của cải của xã
hội bằng các đại lượng tổng sản phẩm quốc dân (GNP) hoặc tổng sản phẩm quốc
nội (GDP).
- Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là tổng giá trị tính bằng tiền của những
hàng hoá và dịch vụ mà một nước sản xuất ra từ các yếu tố sản xuất của mình (dù
là sản xuất ở trong nước hay ở nước ngoài) trong một thời kỳ nhất định (thường
là một năm).
5
5
- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng giá trị tính bằng tiền của toàn bộ
hàng hoá và dịch vụ mà một nước sản xuất ra trên lãnh thổ của nước đó
(dù nó thuộc về người trong nước hay người nước ngoài) trong một thời gian
nhất định (thường là một năm).
2.1.2. Vai trò của tăng trưởng kinh tế:
Tăng trưởng kinh tế là cơ sở để thực hiện hàng loạt vấn đề kinh tế, chính
hiệu quả các yếu tố cơ bản sau:
- Vốn: Vốn hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ của cải vật chất do con người
tạo ra, tích luỹ lại và những yếu tố tự nhiên được sử dụng vào quá trình sản
xuất. Nói một cách khái quát, vốn là toàn bộ tài sản được sử dụng để sản xuất,
kinh doanh. Vốn tồn tại dưới hai hình thức: vốn tài chính và vốn hiện vật.
- Con người: Trong các yếu tố hợp thành quá trình lao động sản xuất, sức
lao động là yếu tố quyết định, mang tính sáng tạo, là nguồn lực không cạn kiệt.
Vì vậy, con người có sức khoẻ, trí tuệ, tay nghề cao, có động lực và nhiệt tình,
được tổ chức chặt chẽ sẽ là nhân tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế bền vững
- Khoa học và công nghệ: Khoa học và công nghệ là nguồn lực quan trọng
để tăng trưởng và phát triển kinh tế. Nhờ ứng dụng những thành tựu khoa học và
công nghệ đã làm cho hiệu quả sử dụng của các yếu tố lao động, vốn, tài nguyên
tăng lên. Sự phát triển khoa học và công nghệ cho phép tăng trưởng và tái sản
xuất mở rộng theo chiều sâu, làm xuất hiện những ngành kinh tế có hàm lượng
khoa học cao như: công nghệ điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học
Như vậy, khoa học và công nghệ cũng là một yếu tố đóng vai trò đặc biệt quan
trọng đối với sự tăng trưởng nhanh và bền vững.
- Cơ cấu kinh tế: Mọi nền kinh tế đều tồn tại và vận động trong một cơ cấu
nhất định. Cơ cấu kinh tế là mối quan hệ hữu cơ, phụ thuộc và quy định lẫn nhau
cả về quy mô và trình độ giữa các ngành, các thành phần, các vùng, các lĩnh vực
của nền kinh tế. Việc xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại để phát huy mọi
tiềm năng, nội lực, lợi thế so sánh của toàn bộ nền kinh tế, phù hợp với sự phát
7
7
triển của khoa học và công nghệ tiên tiến, gắn với phân công lao động và hợp tác
quốc tế là yếu tố tạo tiền đề, cơ sở cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế.
- Thể chế chính trị và vai trò của nhà nước: Thể chế chính trị tiến bộ có
khả năng định hướng sự tăng trưởng kinh tế vào những mục tiêu mong
muốn, khắc phục được những nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường, phân hoá
giàu nghèo sâu sắc
thông qua lao động cơ bắp, vật tư công cụ và trí tuệ. Với sự hỗ trợ của các hệ
thống sinh thái, con người đã lấy từ tự nhiên những nguồn tài nguyên thiên nhiên
cần thiết phục vụ cho việc sản xuất ra của cải vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu của
mình. Thiên nhiên là nguồn cung cấp mọi nguồn tài nguyên cần thiết. Nó cung
cấp nguồn vật liệu, năng lượng, thông tin cần thiết cho hoạt động sinh sống, sản
xuất và quản lý của con người. Nhu cầu của con người về các nguồn tài nguyên
không ngừng tăng lên cả về số lượng, chất lượng và mức độ phức tạp theo trình
độ phát triển của xã hội. Các loại tài nguyên được khai thác bao gồm:
- Rừng tự nhiên: cung cấp nuớc, bảo tồn tính đa dạng sinh học và độ phì
nhiêu của đất, nguồn gỗ củi, dược liệu và cải thiện điều kiện sinh thái
- Các thuỷ vực: cung cầp nước, dinh dưỡng, nơi vui chơi giải trí và các
nguồn thuỷ hải sản
- Động thực vật: cung cấp lương thực, thực phẩm và các nguồn gen quý
hiếm
- Không khí, nhiệt độ, năng lượng mặt trời, gió, nước: để con nguời hít thở,
cung cấp năng lượng cho sản xuất
- Các loại quặng, dầu mỏ : Cung cấp năng lượng và nguyên liệu cho các
hoạt động sản xuất nông nghiệp
Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong
cuộc sống và hoạt động sản xuất. Trong quá trình sản xuất và tiêu dùng của cải
9
9
vật chất, con người luôn đào thải ra các chất thải vào môi trường. Thời kỳ sơ
khai, khi dân số nhân loại còn ít, chủ yếu do các quá trình phân huỷ tự nhiên làm
cho chất thải sau một thời gian biến đổi nhất định lại trở lại trạng thái nguyên liệu
của tự nhiên. Nhưng ngày nay, do dân số thế giới tăng lên nhanh chóng cùng quá
trình công nghiệp hóa, đô thị hoá làm số lượng chất thải tăng lên không ngừng
khiến chức năng phân hủy tự nhiên của môi trường quá tải, gây ô nhiễm môi
trường. Nếu phân loại chi tiết, có thể chia chức năng này ra thành các loại sau:
- Chức năng biến đổi lý - hoá học
sự huỷ hoại môi trường thì con người sẽ có lúc bị diệt vong. Chính vì vậy, bảo vệ
môi trường là vấn đề cấp bách đặt ra hiện nay để con người cứu lấy môi trường
cũng như tự cứu bản thân mình. Theo điều 6 Luật môi trường Việt Nam : "Bảo vệ
môi trường là sự nghiệp của toàn dân. Tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm bảo
vệ môi trường, thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường, có quyền và có trách
nhiệm phát hiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường". Như
vậy bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của tất cả mọi người.
3.Mối liên hệ tác động qua lại giữa tăng trưởng kinh tế và vấn đề bảo vệ môi
trường:
3.1.Tác động của tăng tr ưởng kinh tế đến bảo vệ môi tr ường :
* Tích cực:
Khoa học công nghệ là nguồn lực quan trọng để tăng trưởng kinh tế nhanh
và bền vững chính vì vậy trong quá trình tăng trưởng, tất yếu khoa học công nghệ
phải được chú trọng đầu tư phát triển. Nhờ sự phát triển cao của khoa học công
11
11
nghệ, các vấn đề về cải tạo môi trường, tìm và sử dụng các nguồn năng lượng
sạch gặp nhiều thuận lợi và được đẩy nhanh.
Tăng trưởng kinh tế cao làm cho mức thu nhập cũng như chất lượng cuộc
sống của dân cư tăng, giảm tỷ lệ mắc các loại bệnh tật, đó cũng là một yếu tố
quan trọng giúp giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường.
Tăng trưởng kinh tế cao đòi hỏi chất lượng giáo dục phải tăng, từ đó nâng
cao ý thức của người dân về bảo vệ môi trường
Tăng trưởng kinh tế tạo ra nguồn chi phí cho các hoạt động bảo vệ môi
trường như: nghiên cứu xử lý chất thải; xây dựng các khu xử lý chất thải; đầu tư
phát triển các khu bảo tồn thiên nhiên; bảo tồn các loại động thực vật quý hiếm
* Tiêu cực:
Tài nguyên thiên nhiên là cơ sở để phát triển nông nghiệp và công nghiệp,
góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động. Điều này thực sự quan
trọng với các nước đang phát triển ở thời kỳ đầu công nghiệp hoá như Việt Nam.
lịch còn làm ô nhiễm môi trường do sự vứt rác bừa bãi vô ý thức của người dân
khi tham gia các hoạt động này. Chẳng hạn như Vịnh Hạ Long, đây là một thắng
cảnh đẹp nổi tiếng ở nước ta nhưng chủ yếu do các hoạt động du lịch cùng việc
khai thác tài nguyên quá mức đã gây ô nhiễm cho khu vực này.
Tăng trưởng kinh tế làm cho dân cư giàu lên, nhưng đồng thời cũng có thể
làm cho sự phân hoá giàu nghèo tăng lên. Như vây, một bộ phận dân cư có thể
lâm vào tình trạng nghèo đói, sống trong những nơi tồi tàn, không đảm bảo về vệ
sinh, dễ mắc các bệnh tật làm tăng nguy cơ gây ô nhiễm môi trường.
Một khi đời sống nhân dân ta đuợc nâng cao thì khả năng các loại phương
tiện giao thông như xe máy, ô tô, máy bay sẽ được sử dụng ngày càng nhiều. Khí
thải và tiếng ồn của các loại phương tiện này sẽ gây ra tình trạng ô nhiễm không
khí và ô nhiễm tiếng ồn, đặc biệt là tại các đô thị lớn.
13
13
Tăng trưởng kinh tế cao có thể dẫn đến tình trạng đô thị hoá diễn ra ồ ạt,
dân số tăng nhanh cùng hàng loạt vấn đề xã hội khác, gây sức ép lên môi trường,
khiến môi trường trở nên quá tải và ngày càng ô nhiễm.
3.2. Tác động của vấn đề môi tr ường đến tăng tr ưởng kinh tế:
* Tích cực:
Môi trường cung cấp các yếu tố cơ bản cho quá trình sản xuất:
- Nền kinh tế nước ta vẫn còn phải dựa chủ yếu vào tài nguyên thiên nhiên
(TNTN). Riêng giá trị sản lượng nông nghiệp còn chiếm tới 23% tổng giá trị
GDP. Nếu tính cả các lĩnh vực khác, thì có thể thấy TNTN đã đóng góp tới 50%
tổng giá trị GDP, 60-70% tổng giá trị hàng xuất khẩu, và mang lại việc làm cho
hàng triệu người lao động
- Các yếu tố rất quan trọng trong sản xuất như nước, không gian, nơi tiếp
thu và xử lý rác thải đều do môi trường cung cấp. Thiếu hụt các yếu tố này sẽ
ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sản xuất, kìm hãm sự phát triển. Chẳng hạn nói
về nước, nếu thiếu nước sạch thì đời sống người lao động sẽ mất ổn định gây ảnh
hưởng lớn đến quá trình sản xuất xã hội, thiếu nước cho các hồ thuỷ điện sẽ dẫn
cm chiếm tới 40 - 50 % trữ lượng rừng. Nhưng hiện nay chất lượng rừng đã giảm
sút đáng kể, chỉ còn chủ yếu là rừng nghèo giá trị kinh tế không cao. Về tài
nguyên động vật, thực vật hoang dã: Đa dạng sinh học ở Việt Nam đang ở mức
báo động cần đuợc bảo vệ khi tỷ lệ tuyệt chủng ở Việt Nam ước tính cao hơn
mức trung bình của thế giới. Theo Sách đỏ Việt Nam 2004, tổng số loài động vật,
thực vật hoang dã trong thiên nhiên đang bị đe dọa ở các mức khác nhau đã lên
tới 857 loài, trong đó có 407 loài động vật và 450 loài thực vật. So với số liệu
công bố trong Sách Đỏ Việt Nam 1992 -1996 là 709 loài bị đe dọa (359 loài động
15
15
vật và 350 loài thực vật), có thể thấy rằng số loài hiện thời bị đe dọa tăng lên
đáng kể. Hiện tượng này xảy ra là do các hoạt động săn bắn và buôn bán trái
phép động thực vật hoang dã ngày càng gia tăng, diện tích rừng bị thu hẹp,
Về tài nguyên đất: Theo kết quả kiểm kê đất đai năm 2005, tổng diện tích
đất tự nhiên cả nước là 33,1 triệu ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 24,8
triệu ha, diện tích đất phi nông nghiệp là 3,2 triệu ha, diện tích đất chưa sử dụng
và núi đá không có rừng cây là 5,1 triệu ha. Tuy diện tích đất nông nghiệp tăng
liên tục nhưng chất lượng đất ngày càng suy thoái do việc sử dụng nhiều loại chất
độc hại trong nông nghiệp và chất thải công - nông nghiệp đuợc thải trực tiếp vào
đất. Các hiện tượng như xói mòn, rửa trôi, sạt lở, hoang mạc hoá, suy thoái hoá
học (mặn hoá, phèn hoá, chua hoá), mất chất dinh dưỡng, mất khoáng xảy ra
ngày càng nhiều với mức độ nghiêm trọng ngày càng lớn. Sự suy thoái đất dẫn
đến giảm năng suất cây trồng, vật nuôi, làm nghèo thảm thực vật, suy giảm đa
dạng sinh học, đồng thời chúng cũng tác động ngược trở lại làm các quá trình xói
mòn, thoái hoá đất diễn ra nhanh hơn.
Về tài nguyên nước: Theo đánh giá của các nhà chuyên môn, về chất
lượng, tài nguyên nước của Việt Nam tốt nhưng đã có dấu hiệu suy thoái và ô
nhiễm. Việt Nam là quốc gia có lượng mưa trong nước phân bố không đều theo
mùa và theo khu vực, lượng nước mặt dự trữ có tới hơn 2/3 bắt nguồn từ nước
ngoài và lượng nước dưới đất có dấu hiệu cạn kiệt. Một số khu vực đã xảy ra
/năm. Tiềm năng từ năng
lượng mặt trời có thể lên khoảng 43,9 tỷ tấn năng lượng năm. Về gió, mặc dù VN
có nhiều nơi dồi dào về gió, nhưng hiện chỉ có một vài nhà máy phát điện từ gió
với công suất không đáng kể…
Về tài nguyên khoáng sản: Tài nguyên khoáng sản gồm 3 nhóm lớn, đó là:
khoáng sản kim loại, khoáng sản phi kim loại và khoáng sản cháy. Hiện nay
nguồn tài nguyên khoáng sản của nước ta vẫn còn khá dồi dào nhưng đã ở một số
17
17
mỏ khai thác đã bắt đầu xảy ra hiện tượng cạn kiệt do khai thác quá mức hoặc
lãng phí vì máy móc, công nghệ lạc hậu. Mặt khác, hiện nay chúng ta đang khai
thác ồ ạt một số loại khoáng sản kim loại như titan, kẽm rồi đem bán thô với
giá rẻ cho nước ngoài, gây lãng phí nghiêm trọng nguồn tài nguyên khoáng sản
quốc gia.
4.2. Tình trạng ô nhiễm môi tr ường ngày càng trầm trọng, đặc biệt là tại các đô
thị l ớn :
Ô nhiễm nguồn nước: Môi trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và
làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn. Tình
trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy rõ nhất là ở thành phố Hà Nội và thành phố
Hồ Chí Minh. Ở các thành phố này, nước thải sinh hoạt không có hệ thống xử lý
tập trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ, kênh, mương). Mặt khác,
còn rất nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước thải, phần lớn các bệnh viện và cơ
sở y tế lớn chưa có hệ thống xử lý nước thải; một lượng rác thải rắn lớn trong
thành phố không thu gom hết được… là những nguồn quan trọng gây ra ô nhiễm
nước. Hiện nay, mức độ ô nhiễm trong các kênh, sông, hồ ở các thành phố lớn là
rất nặng, các thông số chất lơ lửng (SS), BOD; COD; Ôxy hoà tan trong nguồn
nước ở nơi tiếp nhận nước thải đều vượt từ 5-10 lần, thậm chí 20 lần tiêu chuẩn
cho phép. Ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp, phần lớn các chất thải
của con người và gia súc không được xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi,
làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng
không trung, tiếng máy móc sản xuất ở những khu chế xuất, âm thanh vọng ra từ
các sàn nhảy, sân khấu đều là những nguyên nhân gây nên tình trạng ô nhiễm
tiếng ồn.
Ô nhiễm đất: Môi trường đất ở nước ta hiện nay cũng đang ở trong tình
trạng ô nhiễm nghiêm trọng. Ở các vùng sản xuất nông nghiệp hiện nay, do sử
dụng phân bón không đúng kỹ thuật trong canh tác nên hiệu lực phân bón thấp,
có trên 50 % lượng đạm, 50 % lượng kali và xấp xỉ 80 % lượng lân dư thừa trực
19
19
tiếp hay gián tiếp gây ô nhiễm môi trường đất. Các loại phân vô cơ thuộc nhóm
chua sinh lý còn tồn dư axit làm chua đất, nghèo kiệt các kation kiềm và xuất
hiện nhiều độc tố trong đất. Các loại thuốc bảo vệ thực vật có đặc điểm rất độc
với mọi sinh vật được sử dụng ngày càng nhiều, tồn dư lâu dài trong môi trường
đất - nước, gây chết tất cả các sinh vật có lợi và có hại trong môi trường đất.
Khảo sát trong những năm gần đây cho thấy hàm lượng kim loại nặng trong đất
gần các khu công nghiệp đang tăng lên.
5. Một số giải pháp để góp phần cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và vấn đề
bảo vệ môi trường ở nước ta:
* Sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên:
- Sử dụng hợp lý tài nguyên rừng:
+ Đẩy mạnh việc trồng rừng.
+ Giảm nguy cơ cháy rừng, sâu bệnh, săn bắn trộm, thải các chất ô
nhiễm ảnh hưởng đến rừng.
+ Hạn chế tiến tới chấm dứt du canh du cư
+ Sử dụng các phương pháp khai thác rừng hợp lý, giảm việc sử
dụng lãng phí gỗ
+ Quản lý bền vững các vùng đệm
- Ngăn chặn ô nhiễm, xói mòn và hoang mạc hoá đối với tài nguyên đất:
+ Thực hiện các kế hoạch quốc gia về sử dụng và quản lý đất bền
vững.
khu bảo tồn thiên nhiên
+ Đánh giá tác dộng của các dự án phát triển đến đa dạng sinh học,
tính toán các chi phí do mất mát phải trả cho những tổn thất về đa dạng sinh
học
+ Áp dụng các công nghệ hiện đại, các biện pháp thích hợp để phục
hồi các HST đã bị phá huỷ và các loàu đang bị đe dọa
21
21
+ Tuyên truyền, giáo dục để nâng cao hiểu biết về tầm quan trọng
của đa dạng sinh học
+ Ngăn chặn việc đưa vào, kiểm soat hoặc loại bỏ các giống ngoại
lai có khả năng đe doạ HST và môi trưưòng sống của các loài bản địa
- Khai thác và sử dụng tiết kiệm, hợp lý các nguồn năng lượng:
+ Khai thác các nguồn tài nguyên năng lượng không tái tạo (than,
dầu mỏ, khí đốt) phải có kế hoạch để tránh cạn kiệt và lãng phí
+ Đẩy mạnh việc sử dụng có hiệu quả các nguồn năng lượng vĩnh
cửu và năng lượng tái tạo (Mặt Trời, nước, gió và sinh khối)
+ Nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng ở gia đình, các khu công
nghiệp, các công trình công cộng
+ Phát động các chiến dịch tuyên truyền quảng cáo để đẩy mạnh
hoạt động tiết kiệm năng lượng và bán các sản phẩm tiêu thụ ít năng lượng
* Có các chính sách, biện pháp xử lý nghiêm minh với những doanh nghiệp, xí
nghiệp gây ô nhiễm môi trường đồng thời cũng có những hình thức khen thưởng
xứng đáng cho những cá nhân, đơn vị, tổ chức có hành động tích cực góp phần
bảo vệ môi trường
* Đầu tư xây dựng những trung tâm xử lý chất thải hiện đại, tích cực cải tạo môi
trường những khu vực bị ô nhiễm
* Lập các quỹ hoạt động vì môi trường nhằm hỗ trợ kinh phí cho việc phòng
tránh, khắc phục, xử lý các vấn đề môi trường, bảo vệ môi trường
* Hoàn thiện Luật Bảo vệ môi trường
3 - Lê Văn Khoa (chủ biên). Khoa học môi trường. Nhà xuất bản giáo dục. Hà
Nội, 2002.
4 - Bộ Tài nguyên và Môi trường. Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm
2005 - Phần Tổng quan
5 - Các trang Web:
Bộ Tài nguyên và môi trường: www.monre.gov.vn
Cục bảo vệ môi trường: www.nea.gov.vn
Tạp chí Hoạt động khoa học: www.tchdkh.org.vn
Sinh học Việt Nam: www.sinhocvietnam.com
Chương trình mục tiêu Quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu
quả: www.eec.moi.gov.vn
Trung tâm thông tin - Bộ tài nguyên và Môi trường: www.ciren.gov.vn
Báo điện tử VietNamNet: www.vietnamnet.vn
24
24
MỤC LỤC
25
25