Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với vấn đề công bằng xã hội tại tỉnh thái nguyên - Pdf 51

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN NHẬT MINH

MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
VỚI VẤN ĐỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI
TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Người hướng dẫn khoa học: GS.,TS. VŨ VĂN HÓA

THÁI NGUYÊN - 2018


i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc
lập của tôi. Các số liệu, tài liệu sử dụng trong đề tài là hoàn toàn trung thực và có
nguồn dẫn rõ ràng.
Học viên

Nguyễn Nhật Minh


ii
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến GS.TS VŨ VĂN

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN MỐI QUAN HỆ GIỮA
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI VẤN ĐỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI ..................7
1.1. Cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội...................................7
1.1.1.
Tăng
trưởng
...........................................................................................7

kinh

tế

1.1.2. Công bằng xã hội.............................................................................................13
1.1.3. Các
nhân
tố ảnh
.............................................18

hưởng

đến

tăng

trưởng

kinh

tế



2.2. Phương pháp nghiên cứu....................................................................................43
2.2.1. Phương pháp thu thập thông tin: thu thập thông tin thứ cấp...........................43
2.2.2. Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu ..............................................................43
2.2.3. Phương pháp phân tích thông tin ....................................................................43
2.3. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu .............................................................................45
2.3.1. Về kinh tế ........................................................................................................45
2.3.2. Về văn hoá - xã hội - giáo dục - y tế ...............................................................46
2.2.3. Các thước đo đánh giá sự bất bình đẳng và công bằng xã hội ........................48
Chương 3: THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH
TẾ VỚI VẤN ĐỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
..................51
3.1. Tổng quan về kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên ...............................................51
3.1.1. Về vị trí địa lý, tài nguyên...............................................................................51
3.1.2. Về xã hội .........................................................................................................51
3.1.3. Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội cơ bản của tỉnh Thái Nguyên .............................52
3.2. Quản lý nhà nước về kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
tại tỉnh Thái Nguyên..................................................................................................53
3.2.1. Các hoạt động quản lý nhà nước về kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với
công bằng xã hội tại tỉnh Thái Nguyên .....................................................................53
3.2.2. Kết quả đạt được về tăng trưởng kinh tế của tỉnh Thái Nguyên giai đoạn
2011-2015..................................................................................................................57
3.2.3. Tác động của tăng trưởng kinh tế đến công bằng xã hội ở tỉnh Thái
Nguyên giai đoạn 2011-2015 ....................................................................................58
3.2.4. Hiệu quả quản lý nhà nước về kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công
bằng xã hội tại tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011-2015
............................................67
3.3. Những bất cập trong quản lý nhà nước về kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế
và công bằng xã hội tại tỉnh Thái Nguyên ................................................................69
3.3.1. Xây dựng chính sách .......................................................................................69

KẾT LUẬN ........................................................................................................... 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 104
PHỤ LỤC .............................................................................................................. 108


6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CIEViện
M nghi
CN-Côn
XDg
CN Côn
H g
DNDoa
NNnh
DVKhu
v
GDTổn
P g
GDGiá
TX-o
GR Tổn
DP g
GNTổn
P g
HDIChỉ
số
HĐHội
NDđồn


viii
DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Ba mặt của sự phát triển bền vững..............................................................9
Hình 1.2: Mô hình chữ U ngược ...............................................................................25
Hình 2.1: Đường cong Lorenz ..................................................................................49
Hình 3.1: Đường cong Lorenz tỉnh Thái Nguyên năm 2010 và 2014 ......................64


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới ở nước ta trong hơn hai thập kỷ qua đã đem lại những
thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử, trong đó tốc độ tăng trưởng kinh tế thuộc loại
khá cao so với mức tăng trưởng của các nước trong khu vực và trên thế giới. Tốc độ
tăng trưởng kinh tế cao hơn thì đồng thời những đòi hỏi về công bằng xã hội cũng
lớn hơn. Đây chính là vấn đề phức tạp đang đặt ra cho đất nước ta đúng như Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã chỉ rõ: “Lý luận chưa giải quyết được
một số vấn đề của thực tiễn đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đặc
biệt là trong việc giải quyết các mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng và chất
lượng phát triển; giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội”[14].
Thật vậy, giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã
hội không phải là một vấn đề đơn giản. Tăng trưởng thường làm gia tăng tình trạng
bất bình đẳng và không công bằng vì những người giàu sẽ được hưởng nhiều lợi ích
hơn do tăng trưởng đem lại. Nếu lấy kết quả tăng trưởng để giải quyết vấn đề công
bằng xã hội do chính tăng trưởng gây ra có thể sẽ làm giảm hoặc triệt tiêu các yếu
tố kích thích tăng trưởng. Nhưng ngược lại, nếu không giải quyết vấn đề công bằng
xã hội thì xã hội sẽ không ổn định và như vậy sẽ không thể có tăng trưởng bền

hoạch và tập trung thực hiện thu hút được một khối lượng lớn các nguồn vốn đầu tư
phát triển, GRDP và GRDP bình quân đầu người tăng cao, hệ thống kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội được cải thiện đáng kể, năng lực sản xuất tăng nhanh, tạo tiền đề
thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm an sinh xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo, cải
thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân.
Bên cạnh đó, Thái Nguyên cũng còn gặp nhiều khó khăn trong việc khai thác
các tiềm năng thế mạnh của tỉnh. Kinh tế phát triển chưa bền vững; chất lượng, hiệu
quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp; cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch
nhanh, nhưng chủ yếu phụ thuộc vào nguồn vốn đầu tư nước ngoài, khu vực doanh
nghiệp trong nước gặp nhiều khó khăn; thực hiện công bằng xã hội nhìn chung còn
bất cập và độ bao phủ chưa rộng; chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng vẫn là
điểm yếu cản trở sự phát triển. Cải cách hành chính còn nhiều hạn chế, trình độ của
đội ngũ cán bộ công chức tuy có cải thiện nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đổi
mới, hội nhập.
Đề tài “Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với vấn đề công bằng xã hội
tại tỉnh Thái Nguyên” được tác giả lựa chọn nhằm đưa ra những phân tích về thực


3

trạng quản lý kinh tế, việc thực hiện các vấn đề công bằng xã hội tại tỉnh Thái
Nguyên và các chính sách quản lý hiện tại của chính quyền tỉnh Thái Nguyên để
giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội và đề xuất
những kiến nghị chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Đề tài tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội đã có nhiều công trình nghiên
cứu, nhiều lý thuyết và mô hình về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công
bằng xã hội, nhiều bài báo, hội thảo khoa học v.v… đề cập đến vấn đề này ở các
khía cạnh cũng như cách tiếp cận khác nhau.
Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu ở Việt Nam hiện nay như:Đề tài cấp

giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở nước ta hiện nay. Cụ thể là: 1/ Tăng
trưởng kinh tế và công bằng xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát
triển xã hội; 2/ Để công bằng xã hội trở thành động lực phát triển, cần phải gắn
quyền lợi với nghĩa vụ, cống hiến với hưởng thụ; 3/ Thực hiện mục tiêu tăng trưởng
kinh tế và công bằng xã hội trên phạm vi cả nước, ở mọi lĩnh vực, ngay trong từng
bước và từng chính sách phát triển; 4/ Bảo đảm sự thống nhất giữa tăng trưởng kinh
tế và công bằng xã hội nhằm phát triển con người, phát huy nhân tố con người; 5/
Phát huy vai trò của nhà nước và đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động xã hội [26].
Đi sâu vào nghiên cứu vai trò của chính quyền địa phương trong việc phát
triển kinh tế xã hội nói chung và cụ thể đối với việc điều chỉnh mối quan hệ tăng
trưởng kinh tế và công bằng xã hội có một số nghiên cứu sau:
Lê Anh Tuấn (2010), Đảm bảo công bằng xã hội trong quá trình tăng trưởng
kinh tế ở Hàn Quốc - Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, đã phân tích kinh nghiệm
bảo đảm công bằng xã hội trong quá trình theo đuổi chiến lược tăng trưởng kinh tế
ở Hàn Quốc nhằm rút ra những bài học hữu ích cho Việt Nam; Hệ thống hoá các
quan điểm bàn luận về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội,
đặc biệt đối với các nước đang phát triển; Phân tích thực tiễn tăng trưởng kinh tế và
giải quyết vấn đề công bằng xã hội ở Hàn Quốc trong quá trình này thời kỳ Hàn
Quốc thực hiện công nghiệp hoá; Khái quát và rút ra những bài học kinh nghiệm từ
thực tiễn giải quyết vấn đề công bằng xã hội trong tăng trưởng kinh tế ở Hàn Quốc
cho Việt Nam [40].
Mai Văn Nghĩa (2010), Tăng trưởng kinh tế với vấn đề công bằng xã hội tại
thị xã Bà Rịa” đã tổng hợp các lý luận cơ bản về kết hợp tăng trưởng kinh tế với
công bằng xã hội và thực hiện phân tích và đánh giá về thực trạng kết hợp giữa tăng
trưởng kinh tế với công bằng xã hội tại thị xã Bà Rịa giai đoạn 1995-2009 [25].


5

Sền Thị Hiền (2015), Hà Nội gắn kết tăng trưởng kinh tế với phát triển văn

6

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế
với vấn đề công bằng xã hội tại tỉnh Thái Nguyên và hoạt động quản lý nhà nước
đối với việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội tại tỉnh Thái
Nguyên.
Phạm vi về nội dung: Một số chỉ tiêu về tăng trưởng kinh tế và công bằng xã
hội chỉ được tính toán ở cấp quốc gia nên thực tế, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu
các vấn đề về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với vấn đề công bằng xã hội
dựa trên các chỉ tiêu có thể được tính toán ở phạm vi đơn vị hành chính cấp Tỉnh.
Phạm vi về thời gian: Đề tài thu thập dữ liệu trong giai đoạn 2011 - 2015.
Một số bảng biểu trong luận văn cập nhật số liệu năm 2016.
Phạm vi về không gian: tỉnh Thái Nguyên.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Y nghĩa khoa học
+ Luận văn tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước để phân tích rõ mối
quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với vấn đề công bằng xã hội; làm rõ những vấn đề
kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội.
+ Luận văn đưa ra các bài học kinh nghiệm về quản lý mối quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế với vấn đề công bằng xã hội ở một số nước và tỉnh tại Việt Nam để
rút ra bài học cho quản lý mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với vấn đề công
bằng xã hội tại tỉnh Thái Nguyên.
Y nghĩa thực tiễn
+ Luận văn đề xuất các giải pháp quản lý mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh
tế và công bằng xã hội phù hợp với điều kiện thực tiễn tại tỉnh Thái Nguyên.
+ Luận văn có thể là tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, học tập cho sinh
viên chuyên ngành quản lý kinh tế, kinh tế chính trị và kinh tế phát triển.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo;nội

dịch chuyển ra phía ngoài” [44].
Có thể thấy hầu hết các tác giả đều thống nhất ở định nghĩa chung nhất về
tăng trưởng kinh tế như sau: “Tăng trưởng kinh tế la sự gia tăng thu nhập thực tế
hay sự gia tăng về qui mô sản lượng của toan bộ nền kinh tế trong một khoảng thời
gian nhất định” (Phan Thúc Huân, 2006) [22].
Trong kinh tế học hiện đại, các nhà nghiên cứu xem xét khái niệm tăng
trưởng kinh tế bền vững, tăng trưởng kinh tế bền vững là khái niệm hiện đại để xác
định mục tiêu và các nhân tố tốt cho một nền kinh tế nhờ tăng trưởng bền vững.
Theo đó, tăng trưởng không chỉ hiểu đơn thuần là tăng thu nhập bình quân đầu
người, mà phải gắn với phát triển bền vững, chú trọng tới cả ba nhân tố: kinh tế, xã
hội và môi trường.


8

Khái niệm Tăng trưởng kinh tế được nhiều tác giả đề cập với nhiều cách
khác nhau, song hầu hết các tác giả đều thống nhất ở định nghĩa chung nhất về tăng
trưởng kinh tế như sau: “Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập thực tế hay
sự gia tăng về qui mô sản lượng của toàn bộ nền kinh tế trong một khoảng thời
gian nhất định (thường là một năm)”.
Như vậy, Tăng trưởng kinh tế là khái niệm chỉ diễn tả động thái biến đổi về
số lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ của toàn bộ nền kinh tế theo thời gian,
nhưng chưa đề cập đến mối quan hệ của nó với xã hội.
* Phát triển kinh tế
Phát triển kinh tế bao hàm nhiều ý nghĩa rộng hơn. Trước hết, phát triển cần
phải được hiểu như một quá trình nhiều mặt liên quan đến việc tái tổ chức và tái
định hướng toàn bộ các hệ thống kinh tế và xã hội. Vì vậy, phát triển kinh tế là một
nhận thức toàn diện bao gồm các khía cạnh tinh thần và vật chất. Trong khi tăng
trưởng kinh tế chỉ thuần tuý là sự gia tăng vật chất thì phát triển kinh tế là sự hoàn
thiện của hai vấn đề về kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia.

kinh tế (nền tảng là tăng trưởng kinh tế), (2) phát triển xã hội (mục tiêu là thực hiện
tiến bộ, công bằng xã hội; xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và (3) bảo vệ
môi trường (mục tiêu là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng
môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết
kiệm tài nguyên thiên nhiên).
Phát triển bền vững có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các nước đang
phát triển. Do vậy, vấn đề tăng trưởng - công bằng đã được đặt ra: làm thế nào kinh
tế không những tăng trưởng mà công bằng xã hội cũng được thực hiện.
1.1.1.2. Các tiêu chi đo lường tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế được hiểu khá thống nhất là sự tăng sản lượng thực tế
của một nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định. Thước đo phổ biến là
mức tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong một năm hoặc mức tăng GDP bình


10

quân đầu người trong một năm. Một số nước sử dụng các chỉ số khác để xác định
mức tăng trưởng kinh tế như: GNP (tổng sản phẩm quốc gia); GNI (tổng thu nhập
quốc gia); NNP (sản phẩm quốc gia ròng) hoặc NNI (thu nhập quốc gia ròng). Các
chỉ số trên thường được tính trong một năm và đều có thể sử dụng theo tiêu chí bình
quân trên đầu người.
a. Tốc độ tăng trưởng GDP
Việc đánh giá tăng trưởng kinh tế dựa theo chỉ số GDP, công thức tính chỉ số
này như sau: Là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được
sản xuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong một thời gian nhất định
(thường là một năm tài chính). Có nhiều cách tính GDP như sau: Phương pháp tính
theo thu nhập. Theo phương pháp này nếu trong nền kinh tế giản đơn thì GDP được
tính bằng cách cộng tất cả các thu nhập mà khu vực xí nghiệp phân phối cho các hộ
gia đình dưới hình thức tiền lương, tiền lãi, tiền thuê và lợi nhuận.
GDP = Y = Tiền lương + tiền lãi + tiền thuê + lợi nhuận.

của người sản xuất như tiền lương, tiền công (kể cả bằng tiền hay bằng hiện vật và
các khoản trả có tính chất lương), trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, nộp
công đoàn cấp trên, thu nhập khác ngoài lương, tiền công; Thuế sản xuất bao gồm:
Thuế hàng hoá (không bao gồm thuế nhập khẩu) thuế sản xuất và chi phí khác.
Thuế sản xuất không bao gồm thuế trực thu như thuế thu nhập, thuế thu nhập doanh
nghiệp. Khấu hao tài sản cố định; Giá trị thặng dư; Thu nhập hỗn hợp. Giá trị gia
tăng của một xí nghiệp là chênh lệch giữa giá trị sản lượng của xí nghiệp và giá trị
các yếu tố vật chất mà xí nghiệp mua của các xí nghiệp khác.
Phương pháp tính theo chi tiêu. Phương pháp này người ta tính bằng cách
cộng các chi tiêu lại: GDP = Y = C + I + G + NX
Trong đó: Chi tiêu tiêu dùng (C): Bao gồm tất cả các chi tiêu cho sản phẩm
và dịch vụ do các xí nghiệp sản xuất ra và bán cho các hộ gia đình. Chi tiêu đầu tư
(I) là tổng vốn đầu tư phát triển xã hội trong kỳ, bao gồm: Vốn đầu tư xây dựng cơ
bản bao gồm vốn xây lắp, vốn mua sắm thiết bị, vốn xây dựng cơ bản khác, vật nuôi
để kéo cày, làm giống…, vốn tăng tài sản lưu động trong kỳ như tăng tồn kho giữa
cuối kỳ và đầu kỳ về nguyên nhiên vật liệu, thành phẩm, hàng hoá trong lưu thông,
sản phẩm sản xuất trong hộ gia đình nông nghiệp, phi nông nghiệp, kho dự trữ nhà
nước. Chi tiêu của chính phủ về những sản phẩm và dịch vụ (G) bao gồm các chi
tiêu của chính quyền trung ương và địa phương. Đây là các chi phí cho giáo dục
quốc phòng, hành chánh, y tế, toà án, chi phí để duy trì trật tự công cộng, công trình
công cộng, xây dựng kết cấu hạ tầng… Xuất khẩu ròng (NX) là chênh lệch giữa
xuất khẩu và nhập khẩu của nền kinh tế. Đây là một chi tiêu phản ánh mối quan hệ
kinh tế đối với nước ngoài của một quốc gia. GDP tính theo phương pháp chi tiêu là
GDP tính theo giá thị trường vì chi tiêu được thanh toán theo giá thị trường.
Nhìn chung tăng trưởng kinh tế được tính bằng phần trăm thay đổi của mức
sản lượng quốc dân. Cho thấy xu hướng của quy mô sản lượng tăng lên hay giảm đi
và nếu tăng thì tăng nhanh hay chậm qua các thời kỳ khác nhau.


12

Nhóm nước thu nhập cao ≥ 11.116USD/người/năm.
Nhóm nước thu nhập trung bình từ 906 đến 11.115USD/người/năm.
Nhóm nước thu nhập thấp ≤ 905 USD/người/năm [24]
Theo số liệu xếp hạng các quốc gia trên thế giới của WB (năm 2014), GDP
bình quân đầu người của Việt Nam năm 2014 là 2.052 USD, vượt qua ngưỡng
nhóm nước có thu nhập thấp, đứng thứ 132/183 quốc gia [53].
Tuy nhiên, GDP bình quân đầu người chỉ cho chúng ta biết những gì xảy ra
đối với một người trung bình, còn đằng sau giá trị bình quân đó có rất nhiều sự khác
biệt giữa các cá nhân với nhau. Thu nhập không phải là tất cả cuộc sống con người.


13

Mục đích của sự phát triển bền vững là mở rộng mọi sự lựa chọn của con người chứ
không phải chỉ là gia tăng thu nhập.
1.1.2. Công bằng xã hội
1.1.2.1. Bất bình đẳng xã hội va công bằng xã hội
* Bất bình đẳng xã hội
Trong các xã hội, vấn đề bình đẳng xã hội và bất bình đẳng xã hội luôn được
đặt ra không chỉ bởi các nhà khoa học mà cả đối với các chính phủ cũng như đông
đảo quần chúng nhân dân. Nhằm hướng đến sự phát triển bền vững, việc khắc phục
tình trạng bất bình đẳng xã hội đã trở thành vấn đề cốt lõi của mọi quốc gia.
Tình trạng bất bình đẳng xã hội diễn ra trên nhiều khía cạnh như: khía cạnh
thu nhập hay tiêu thụ, khía cạnh địa lý, khía cạnh giới tính, sức khỏe, năng lực, uy
thế xã hội, dân tộc…Trong đó, bất bình đẳng về phương diện kinh tế có ảnh hưởng
lớn lao đến sự ổn định xã hội và sự tồn tại của cả một cơ cấu xã hội hay một thể chế
chính trị, mà biểu hiện rõ nét nhất là bất bình đẳng về phân phối thu nhập, nghĩa là
thành quả của tăng trưởng kinh tế không được san sẻ đồng đều cho mọi tầng lớp
dân chúng. Phân phối thu nhập càng bị sai lệch nhiều thì mức độ bất bình đẳng xã
hội càng cao. Vì vậy, xu hướng gia tăng bất bình đẳng trong thu nhập là một thách

20% dân số, sau đó xếp theo thứ tự từ thấp đến cao về thu nhập. Qua đó, có thể thấy
mức độ công bằng xã hội thông qua việc so sánh nhóm giàu nhất và nhóm nghèo
nhất. Nếu khoảng cách chênh lệch này ngày càng giãn ra trong khi kinh tế đất nước
vẫn có tốc độ tăng trưởng khá, song mức độ cải thiện thu nhập của lớp người nghèo
không được bao nhiêu, thì đây là một vấn đề rất đáng được báo động.
* Chỉ số nghèo khổ
Chỉ số nghèo khổ là tỉ lệ phần trăm giữa số dân sống dưới mức tối thiểu với
tổng số dân.
Tình trạng nghèo khổ không chỉ tồn tại ở các nước đang phát triển, mà còn
tương đối phổ biến ở các nước phát triển. Vì vậy, sự nghèo khổ không chỉ là hậu
quả của mức thu nhập thấp mà còn là hệ quả của cả sự phân phối thu nhập không
công bằng trong xã hội.
Để xác định mức nghèo khổ, người ta phải đưa ra chuẩn nghèo. Hiện nay,
WB đưa ra chuẩn nghèo là 1,25 USD/người/ngày (theo sức mua tương đương PPP) đối với các nước. Theo số liệu của WB thì năm 2012 trên toàn thế giới có
902 triệu người (tương ứng với 12,8% dân số thế giới) thu nhập dưới 1,25
USD/người/ngày (PPP). Ước tính năm 2015, số người này giảm còn 700 triệu người
(tức 9,5% dân số thế giới).
Ở Việt Nam, theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
ngày 30/1/2011 về việc ban hanh chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai
đoạn 2011- 2015 thì ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ


16

400.000 đồng/người/tháng (4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo; ở
khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng
(dưới 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo. Với chuẩn này, tính đến
hết năm 2015, Việt Nam có khoảng hơn 1,05 triệu hộ nghèo, chiếm 4,45% tổng số
hộ dân cả nước, tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn.
Đến ngày 19/11/2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status