việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với nâng cao đời sống nhân dân và phúc lợi xã hội ở việt nam hiện nay như thế nào - Pdf 13

MỞ ĐẦU
Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều nhận thấy
rằng đường lối phát triển kinh tế là yếu tố đầu tiên quyết định sự
thành bại trong quá trình phát triển kinh tế của một đất nước.
Trong vài thập kỉ gần đây, vấn đề tăng trưởng kinh tế gắn
với sự tiến bộ và công bằng xã hội được đặt ra mang tính chất toàn
cầu bởi vấn đề không chỉ cần thiết đối với những nước nghèo mà
còn đối với tất cả những nước phát triển. Đây là giải pháp cần
thiết, tất yếu trong sự nghiệp cải cách, đổi mới nhằm khắc phục
tình trạng suy thái kinh tế, sức ỳ, sự trì trệ xã hội do những hạn
chế của cơ chế quản lý tập trung quan liêu ở nước ta. Thực tiễn ở
các nước cũng cho thấy muốn phát triển bền vững phải giải quyết
tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế (TTKT) và phúc lợi xã
hội (PLXH). TTKT là điều kiện cần để giải quyết các vấn đề
PLXH, ngược lại giải quyết tốt các vấn đề xã hội sẽ tạo động lực
để thúc đẩy kinh tế, bởi không có ổn định kinh tế thì sẽ không có
phát triển kinh tế.
Đối với Việt Nam, các chuyên gia kinh tế đều có nhận xét chung
là: chúng ta đã có bước khởi đầu tốt đẹp trong giai đoạn phát triển mới.
Tuy nhiên, để đạt được tốc độ tăng trưởng cao và liên tục trong thời
gian tới còn nhiều khó khăn. Vấn đề đặt ra là cần có sự lựa chọn thích
hợp cho đường lối phát triển, nhằm đạt được những mục tiêu đề ra. Để
hoạch định hướng đường lối phát triển đúng đắn là cần phải biết kết hợp
những nguyên lý cơ bản của sự phát triển kinh tế với những vấn đề đặt
ra trong thực tiễn phát triển của đất nước. Một trong những vấn đề đó là
“ việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với nâng cao đời
sống nhân dân và phúc lợi xã hội ở Việt Nam hiện nay như thế nào?”.
1
Chương I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN.
I. Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế & nâng cao phúc lợi xã
hội trong phát triển kinh tế.

Đến lí luận TTKT hiện đại chủ yếu bao gồm: Mô hình TTKT
của harod Domar, mô hình TTKT theo cổ điển mới của Solơ, mô
hình của trường phái Cambrit &lí luận phân tích nhân tố TTKT
của Kuznet &denison. Các lí luận & mô hình này đều nặng về
nhân tố vật không đưa ra được sự lí giải có tính thuyết phục về
tăng trưởng nhanh, liên tục trong nền kinh tế hiện đại. Cho tới
nay, khái niệm về TTKT thường được quan niệm là sự gia tăng
hoặc tăng thêm về sản lượng tính cho toàn bộ nền kinh tế hay bình
quân đầu người trong một thời kì nhất định. Do đó, để biểu thị sự
TTKT, người ta dùng mức tăng thêm của tổng sản lượng nền kinh
tế (tính toàn bộ hay bình quân đầu người) của thời kỳ sau so với
thời kì trước. Như vậy, TTKT được xem xét trên hai mặt biểu
hiện: mức tăng tuyệt đối hay mức tăng phần trăm hàng năm hoặc
bình quân trong một giai đoạn.
• Các chỉ số đo lường TTKT.
- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc
dân(GNP).
GDP=C+I+G+Ex-Im.
GDP=GO-IE.
Với C: Tổng các khoản tiêu dùng của hộ gia đình.
I: Tổng đầu tư.
G: Chi tiêu Chính Phủ.
Ex-Im: Xuất khẩu ròng.
GO: Giá trị sản lượng.
IE: Chi phí các yếu tố trung gian.
3
- Sản phẩm quốc dân thuần:
NNP=GNP-Dp.
Với Dp: Giá trị khấu hao tài sản cố định.
- Thu nhập quốc dân sản xuất .

+ Mức tăng dân số hàng năm .
+ Số calo bình quân hàng ngày / đầu người .
+Tỉ lệ người có học trong dân số .
+ Các chỉ số khác về phát triển KT-XH.
- Các chỉ tiêu về cơ cấu kinh tế .
+ Chỉ số cơ cấu ngàngh trong tổng sản phẩm quốc nội.
+ Chỉ số cơ cấu nông thôn – thành thị.
+ Chỉ số mức tiết kiệm.
+ Chỉ số về sự liên kết kinh tế.
Như vậy, PLXH bao gồm trong nó PTKT & PTKT lại bao
gồm TTKT. TTKT phản ánh sự biến đổi về lượng đó là sự gia tăng
sản lượng kinh tế trong khi PTKT phản ánh sự biến đổi về cả
lượng và chất tức là ngoài sự gia tăng về sản lượng kinh tế cò tính
đến gia tăng dân số tức là sự gia tăng thu nhập đàu người là quan
trọng hơn so với gia tăng thu nhập quốc dân. Nếu tốc độ tăng dân
số lớn hơn tốc độ tăng sản lượng khi đó chúng ta có TTKT nhưng
lại không chắc đã có sự PTKT. Do đó ta thấy tăng thêm qui mô sản
lượng & tiến bộ về cơ cấu KT-XH là hai mặt vừa có mối quan hệ
phụ thuộc, vừa độc lập của lượng và chất. Có sự biến đổi về lượng
chưa chắc đã có sự biến đổi về chất, để có sự PTKT phải có sự
TTKT nhưng không phải cứ có TTKT là dẫn đến PTKT.TTKT chỉ
là điều kiện cần nhưng chưa đủ cho PTKT.
1.2.Phúc lợi xã hội trong TTKT.
5
TTKT để nâng cao đời sống nhân dân & PLXH là mục tiêu
mà chính phủ một số nước theo đuổi nhưng vấn đề là liệu TTKT
có đạt được mục tiêu đó không.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, các nước đang phát triển
đều nhấn mạnh tầm quan trọng của TTKT, coi đó là điều kện thiết
yếu cho sự PTKT. Do vậy, sau một thời gian ở nhiều nước tốc độ

nghèo, sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội. Trong khi sự BBĐ là
vấn đề của thu nhập tương đối thì sự nghèo khổ có nghĩa là các gia
đình nghèo đói theo ý nghĩa tuỵêt đối. Người ta hiểu người nghèo
khổ tuyệt đối là những người không đảm bảo được mức sống tối
thiểu, bên cạnh đó nghèo khổ tương đối được xét trong tương quan
xã hội, phụ thuộc địa điểm cư dân sinh sống & phương thức tiêu
thụ phổ biến nơi đó. Cả nghèo khổ tương đối & nghèo khổ tuyệt
đối đều là hình thức biểu hiện sự BBĐ trong phân phối thu nhập.
2) Mối quan hệ giữa TTKT với nâng cao đời sống nhân dân &
PLXH.
Chính sách TTKT & chính sách PLXH ngoài những mục tiêu
riêng còn có những mục tiêu chung là : nhằm phát triển con người,
đảm bảo công bằng về quyền lợi & nghĩa vụ công dân, thúc đẩy sự
phát triển của xã hội. TTKT là điều kiện cần trước tiên để cải
thiện chính sách PLXH, khắc phục tình trạng đói nghèo của một
quốc gia. Trong các xã hội TBCN, TTKT rất chậm vì vậy tình
trạng đói nghèo rất phổ biến. PLXH tất yếu phải dựa trên PTKT,
PTKT tạo ra cơ sở vật chất để giải quyyết vấn đề PLXH. Kinh tế
phát triển sẽ nâng cao đời sống từng cá nhân & toàn xã hội, tạo
điều kiện cho cá nhân tích cực tham gia vào các hoạt động PLXH.
Kinh tế phát triển, nhà nước sẽ có nhiều nguồn thu để thực hiện
các chương trình PLXH. Do đó, PTKT là điều kiện & tiền đề để
phát triển &đa dạng hoá các hoạt động PLXH. Chính phủ các nước
7
thường dành một tỉ lệ nhất định của GNP để chi cho PLXH nên thu
nhập quốc dân càng lớn thì khả năng ngân sách chi cho PLXH
càng lớn. Nói cách khác, sự quan tâm & mức chi phí dành cho
PLXH tỉ lệ thuận với PTKT.
TTKT là một trong những nhân tố quyết định nhất để đảm
bảo phát triển & hoàn thiện các chế độ về PLXH. TTKT ngày càng

nhất để đảm bảo phát triển & hoàn thiện các chế độ PLXH. Những
chính sách PLXH hợp lý sẽ góp phần thúc đẩy TTKT.
II. Sự lựa chọn giữa TTKT với nâng cao đời sống & PLXH
trong quá trình PTKT của nước ta.
TTKT là giải pháp cơ bản để có sự phát triển và giải quyết
các vấn đề CBXH song không phải TTKT lúc nào cũng gắn liền
với sự phát triển bền vững, sự công bằng xã hội. Ngay ở các nước
có tốc độ TTKT nhanh như Hàn Quốc, THái Lan, Trung Quốc
trong thời kì gần đây cho thấy thực tế đang phải đương đầu với
những mâu thuẫn khó khăn phức tạp: mức độ chênh lệch giàu
nghèo - hệ quả của sự phân tầng xã hội gay gắt, sự gia tăng các tệ
nạn xã hội cũng như những xung đột mất ổn định trong đời sống
xã hội đang diễn ra.
Cho đến nay có nhiều ý kiến khác nhau về việc giải quyết
mối quan hệ giữa TTKT&PLXH. Tuỳ vào điều kiện thực tế của
từng nước mà lựa chọn đường lối phát triển riêng cho phù hợp
nhằm nâng cao hiệu quả.
1) Quan niệm nhấn mạnh vào tăng trưởng.
Những người theo quan điểm này cho rằng tăng thu nhập là
quan trọng nhất, nó như đầu tầu kéo theo việc giải quyết các vấn
đề về cơ cấu kinh tế và xã hội. Những năm 50, 60 của thế kỉ 20,
rất nhiều nước đang phát triển chủ trương thúc đẩy TTKT trước,
9
để các vấn đề về PLXH giải quyết sau, thực tế cho thấy họ cũng
đạt được tốc độ TTKT cao, không ngừng tăng thu nhập cho nền
kinh tế. Song cũng có những hạn chế:
- Sự tăng trưởng quá mức nhanh chóng vì những động cơ có
lợi ích cục bộ trước mắt đã đưa đến sư khai thác bừa bãi không chỉ
ở phạm vi quốc gia mà còn trên phạm vi quốc tế, khiến các nguồn
tài nguyên bị kiệt quệ và môi trường sinh thái bị phá huỷ nặng nề.

bền vững để phù hợp với mục tiêu kinh tế vĩ mô, theo quan điểm
này tuy tốc độ tăng trưởng có hạn chế nhưng các vấn đề xã hội
được quan tâm giải quyết. Thực hiện CBXH cùng với TTKT gồm
một số nội dung như tái phân phối với TTKT do ngân hàng thế
giới khởi xướng & nhu cầu cơ bản. Quan điểm của ngân hàng thế
giới là chính sách của chính phủ cần ảnh hưởng đến mô hình phát
triển sao cho tầng lớp có thu nhập thấp có cải thiện thu nhập &
nhận được sự hỗ trợ cần thiết để phát huy năng lực của họ. Ở góc
độ khác, tiếp cận nhu cầu cơ bản là nhấn mạnh việc cung cấp các
dịch vụ công cộng cùng với những hàng hoá và dịch vụ cơ bản
như: lương thực, thực phẩm, nước, chăm sóc sức khoẻ, giáo dục
cho những người nghèo. Tuy nhiên, chiến lược này thực chất là
chiến lược thứ hai nhưng được bổ sung các biện pháp “chữa cháy”
hướng vào thành phần dân nghèo ở các nước đang phát triển do
các tổ chức quốc tế khởi xướng. Tính chất nửa vời hay chưa triệt
để chính là hạn chế của quan điểm này.
Tóm lại TTKT là một trong ngững yếu tố đảm bảo thực hiện
PLXH, chính sách PLXH hợp lý sẽ góp phần thúc đẩy TTKT.
“TTKTđi đôi với giải quyết các vấn đề PLXH” là quan điểm được
nhiều người ủnh hộ nhất hiện nay. Đây là một vấn đề phức tạp,
khó khăn trong quá trình vận hành chính sách kinh tế xã hội nhưng
cũng là một việc làm cần thiết để tăng trưởng bền vững, ổn định &
11
phát triển xxã hội của mỗi quốc gia, ở Việt Nam hiện nay Đảng &
Nhà nước thực hiện chủ trương theo quan điểm này, do một số hạn
chế về điều kiện kinh tế, xã hội nên có những vấn đề cần khắc
phục dần và cần khẳng định đây là chủ trương đúng đắn, cần thiết
để xaay dựng một xã hội giàu có, công bằng & văn minh.
III. Quan điểm của Đảng & Nhà nước ta.
Ở nước ta ngay từ những ngày đầu tiên bước vào thời kỳ xây

quyết các vấn đề phát triển xã hội lành mạnh bởi vì phát triển kinh
tế là điều kiện phát triển xã hội, song bản thân nó không phải là
cứu cánh, không có mục đích tự thân. Chủ trương kết hợp của
Đảng ta nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất & tinh thần của nhân
dân theo mục tiêu nhân đạo, tiến bộ & công bằng, phù hợp với bản
chất & chế độ chính trị, xã hội, bản sắc dân tộc & yêu cầu của thời
đại. Nhà nước đã đề ra các chính sách kinh tế, PLXH nhằm mục
tiêu ổn định & phát triển xã hội trong đó nhiệm vụ trung tâm là
hướng vào nâng cao dân sinh, dân trí, dân chủ đảm bảo mọi người
sống trong ấm no, hạnh phúc, nhân ái bình đẳng & công bằng.
Đồng thời chú ý đến đối tượng đặc biệt luôn cần giúp đõ của xã
hội.
Thực tiễn phát triển của đất nước đã & đang chứng minh tính
khoa học đúng đắn quan điểm của Đảng ta trong 15 năm lãnh đạo
công cuộc đổi mới: TTKT gắn liền với tiến bộ & CBXH ngay từ
đầu & trong suốt quá trình phát triển. Tuy nhiên, do một số hạn
chế về điều kiện kinh tế, xã hội nên có những vấn đề phải khắc
phục dần & cần khẳng định lại đây là chủ trương đúng đắn, cần
thiết để xây dựng một xã hội giàu có văn minh.
13
Chương II.
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TTKT & PLXH Ở VIỆT NAM
I. Đánh giá thực trạng.
1)Thành tựu về TTKT.
Việt Nam sau mấy chục năm chiến tranh, bước vào thời kì
xây dựng lại đất nước đã đạt được nhiều thành quả trong TTKT:
Thời kì 1976-1985 TTKT chỉ đạt 2%
Thời kì 1986-1990 đạt
Thời kì 1991-1995 đã đạt 8,2%.
Thời kì 1996-1997 đạt trên 9%.

doanh, liên kết với nước ngoài. Nhiều khu vực công nghiệp mũi
nhọn được hình thành, lĩnh vực thương mại, dịch vụ ngày càng mở
rộng. Một số công trình đầu tư trước đây đã bắt đầu phát huy tác
dụng. Năm 1991 mức độ tăng trưởng công nghiệp đạt 9% đến
những năm tiếp theo liên tục trên 13%, năm 1997 là 13,3%, năm
1999 tuy có nhiều khó khăn về thị trường vẫn đạt trên 10%, trong
đó khu vực công nghiệp nhà nước đạt 4,9%, ngoài quốc doanh
8,5%, khu vực có vốn FDI tăng 19,4%. Đặc biệt một số lĩnh vực có
tăng tăng trưởng cao như:
- Khai thác dầu thô tăng 20%.
- Chế biến thuỷ sản 13%.
- Đường mật 33,4%.
- Phân hoá học 19,2%.
- Máy biến thế 19,5%.
- Thép 11,0%.
- Sản xuất sứ vệ sinh 45,3%.
15
Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế nước ta còn chưa cân đối,
đồng bộ, còn nhiều biểu hiện chưa bền vững. Kết quả TTKT của
toàn bộ nền kinh tế trong đó có phân chia theo khu vực, tốc độ lạm
phát, tăng dân số cả Việt Nam hơn 10 năm đổi mới:
Bảng 1:
Năm GDP N,L,Th.S CNXD DVụ Dân số Lạm phát
1986 2,33 2,39 10,28 -2,83 2,06 774,7
1987 3,64 -0,52 9,15 5,25 2,19 223,1
1988 5,98 3,94 5,29 9,09 2,04 393,8
1989 4,69 6,77 -2,81 7,61 1,64 34.7
1990 5,1 1,57 2,87 10,81 2,25 67.1
1991 5,96 2,17 9,04 8,26 2,33 67,5
1992 8,65 7,08 14,03 6,98 2,41 17,5

+ Từ năm 1998 đến nay : thời kỳ này chịu tác động mạnh của
khủng hoảng tài chính khu vực ở Châu Á nên tốc độ TTKT cả
nước & từng khu vực đều suy giảm mạnh trong lúc lạm phát lại
tăng lên một cách đáng kể.
Nhìn toàn cục nền kinh tế Việt Nam thời kì đổi mới tuy chưa
dài nhưng vẫn có thể coi là một thời kì “hoàng kim” tạo ra cơ sở
vật chất cho phép cải thiện một bước tình trạng đời sống nhân dân.

Bảng 2: GDP bình quân đầu người một số nước Châu Á
Năm Nhật H.Quốc Đ.Loan Xingapo T.Quốc Philippin V.Nam
17
1980 20077 1918 5085 10459 193 919 130
1985 23313 2683 5717 14094 290 758 188
1990 28402 4119 8703 19054 398 849 206
1996 31379 5994 11667 27342 704 882 294
1997 31605 6268 12297 28883 758 908 313
1998 31547 6163 12727 29294 802 912 336

Nguồn : Các số liệu về GGP từ IMF,
niên giám tài chính quốc tế 96,97,98.

Các số liệu cho thấy Việt Nam đã có cải thiện một bước trong
GDP thực tế bình quân đầu người .
2) Thực trạng đời sống , PLXH cho nhân dân.
Hơn 15 năm qua cùng với những thành tựu về TTKT, nước ta
cũng đạt được những thành tựu đáng kể trong ổn định xã hội, nâng cao
đời sống cho nhân dân đặc biệt trong lĩnh vực xoá đói giảm nghèo, giải
quyết việc làm.
2.1. Thực trạng về thu nhập , chi tiêu của dân cư .
Tình hình phân phối thu nhập : Cũng như nhiều nước đang phát


Nước Tăng trưởng thu
nhập(%năm)
Hệ số Gini (TB
từ 1980-nay)
Đông á 6,2 0,36
Hàn Quốc 8,2 0,29
Trung Quốc 7,8 0,28
Đài Loan 6,1 0,32
Việt Nam 6,1 0,34
Xingapo 6,4 0,37
Thái Lan 6,6 0,43
Indonexia 5,4 0,3
Malaixa 5,5 0,41
19
Philippin -1,4 0,47
ấn Độ 3,0 0,33
Bangladet 2,0 0,35
Mỹ Latinh -0,2 0,52
Nguồn : Chương trình thảo luận về xoá đói giảm nghèo 9- 1997.
Rõ ràng Việt Nam thuộc vào nhóm các nước vừa có tốc độ TTKT
cao, lại vừa có độ chênh lệch thẩp trong phân phối thu nhập ( hệ số Gini
< 0,4).
Tuy nhiên, tình hình phân phối thu nhập biểu hiện qua chỉ số tập
trung Gini cho thấy nạn đói nghèo giảm đi nhiều nhưng mức chênh lệch
giữa những người có thu nhập cao nhất với những người có thu nhập
thấp nhất lại có xu hướng tăng lên khá nhanh, theo báo cáo của bộ
thương binh xã hội, khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa nhóm 5%
cao nhất với nhóm 5% thấp nhất khoảmg 20 lần.
Nước ta với hơn 75% dân số sống ở nông thôn, là một nước nông

Bảng 6:
Chỉ tiêu Chung cả nước Thành thị Nông thôn
Phân phối thu nhập
(1000 VNĐ)
3073 7105 2409
Hệ số GINI 0,354 0,348 0,275

Tóm lại :

Trong thời kì đổi mới vừa qua nền kinh tế đã đạt mức
tăng trưởng khá cao làm thay đổi hẳn diện mạo nền kinh tế so với giai
đoạn suy thoái & khủng hoảng kinh tế của thời kì cơ chế kế hoạch hoá
tập trung quan liêu bao cấp. Nhờ kinh tế tăng trưởng mà đòi sống nhân
dân nói chung được cải thiện rõ rệt, tuy rằng vẫn còn là một trong
những nước có mức thu nhập tính theo đầu người thấp nhất thế giới &
mức độ chênh lệch tính theo hệ số GINI tương đối thấp.
15 năm qua cùng với thành tựu về TTKT, nước ta cũng đạt được
thành tựu đáng kể trong việc ổn định xã hội, nâng cao đời sống cho
nhân dân đặc biệt trong lĩnh vực xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc
làm.
2.2 Thực trạng các vấn đề về PLXH.
Cho đến nay các vấn đề về PLXH ở nước ta đã từng bước được
cải thiện: Trình độ dân trí, chất lượng nguồn nhân lực & tính năng động
trong xã hội được nâng lên, đã hoàn thành về cơ bản mục tiêu xoá mù
21
chữ & phổ cập giáo dục tiểu học trong cả nước, đời sống nhân dân được
cải thiện.
Bước vào thập kỉ 90, Việt Nam vẫn là một nước nghèo. Năm 1992
tỉ lệ đói nghèo ở mức 30,1%, năm 1995 vẫn còn ở mức 20% (số liệu của
tổng cục thống kê). Năm 92 từ 3,8 triệu hộ với hơn20 triệu người đói

ngành trong số 579 ngành cần đào tạo sau đại học, năm 1999 cả nước có
hơn 9000 tiến sĩ & phó tiến sĩ, hơn 900000 có trình độ đại học, cao
đẳng, gần 4 triệu cán bộ trung học chuyên ngiệp 174 trường học dạy
nghề chính qui, hơn 500 trung tâm dạy nghề, trung tâm giáo dục kĩ
thuật tổng hợp, 200 trường dạy nghề dân lập, tư thục, 15 triệu đại học
dân lập với hơn 50000 sinh viên, chiếm 6,5% tổng số sinh viên cả nước.
Trong vòng hơn 10 năm (86-98) số sinh viên trường đại học tăng 6,6
lần. Hàng năm theo ước tính có khoảng 50 vạn sinh viên đại học, cao
đẳng, 10 vạn học sinh THCN & 40 vạn học sinh học nghề ra trường,
mỗi năm cung cấp cho xã hội khoảng 1 triệu lao động qua đào tạo.
Nhu cầu về giáo dục được phản ánh qua chỉ số : tỉ lệ biết chữ của
người trưởng thành, tỉ lệ nhập học số năm học bình quân, chi tiêu cho
giáo dục như thế nào.
Bảng 7: Chỉ số giáo dục năm 1997.
Tỉ lệ biết

chữ (%)
Chỉ số về chi
tiêu công
Tỉ lệ nhập học ròng (%)
Tiểu học Trung học
Việt Nam 91,9 2,7 99,9 55,1
Hàn Quốc 97,2 3,7 99,9 99,9
Trung
Quốc
92,4 2,9 91,3 69
Xingapo 91,4 3,0 91,4 75,6
Thái Lan 94,7 4,1 88 47,6
Malaixia 85,7 5,2 99,9 69,9


nữ, nhà nước đảm bảo công bằng xã hội trong việc chăm sóc sức khoẻ,
ưu đãi đối với người nghèo, người dân tộc miền núi, vùng sâu vùng xa.
Các chính sách của nhà nước đã có hiệu quả thực sự đối với người dân
24
ở các nơi, nâng cao chất lượng cuộc sống đảm bảo sức khoẻ hiện tại và
vững chắc trong tương lai.


Phúc lợi xã hội về dinh dưỡng.
Mức sống của người dân thường được phản ánh qua mức Kalo
bình quân cung cấp cho một người trong một ngày. Lượng kalo này
được đảm bảo bằng mức thu nhập trong đó yếu tố cơ bản nhất là việc
cung cấp lương thực.

Bảng 8: Sản xuất lương thực năm 95.
Năm 1995 1996 1997 1998
Sản lượng
lương thực
(Tr.tấn)
27,6 29,2 30,6 31,85
Lương thực
BQĐN
(kg/ng/năm
)
372,5 387,0 398,0 408,0
Nguồn: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Nhờ thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước đã phần nào
nâng cao đời sống vật chất của nhân dân về số lượng cũng như chất
lượng: đã giảm tỉ lệ những hộ gia đình nghèo có thu nhập thấp, không
có đủ lương thực để ăn xuống một cách đáng kể, chất lượng bữa ăn của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status