Chuyên đề xã hội học đại cương 2: Thiết chế xã hội và biến đổi xã hội – NHÓM 4
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhận xét chung:
1. Bài làm tốt, phân tích tốt sự thay đổi của hệ giá trị trong thiết chế và
biến đổi xã hội
2. Hạn chế: Mô tả thiết chế xã hội vẫn còn thiếu
Một xã hội muốn tồn tại và phát triển thì phải dựa vào các thiết chế xã
hội nhằm quản lý và kiểm soát các hoạt động xã hội, các cá nhân, các nhóm,
các tổ chức xã hội và toàn thể xã hội nói chung. Chính vì vậy thiết chế có vai
trò hết sức quan trọng trong việc định hướng sự phát triển của mỗi đất nước,
đảm bảo an ninh trật tự cho mỗi quốc gia. Trên cơ sở đó các thiết chế xã hội
sẽ tác động làm biến đổi xã hội, ngược lại sự phát triển của xã hội cũng khiến
cho các thiết chế xã hội phải thay đổi sao cho phù hợp với sự phát triển đó.
Những thiết chế xã hội lạc hậu, không phù hợp không những không có vai trò
nhằm định hướng, quản lý, kiểm soát xã hội, đảm bảo trật tự của xã hội,
ngược lại có khi còn làm cản trở sự phát triển tiến bộ của xã hội.
Trên cơ sở những kiến thức cơ bản của xã hội học đại cương 1 về thiết
chế xã hội, nhóm chúng em đi sâu tìm hiểu về chuyên đề: “ Thiết chế xã hội
và biến đổi xã hội”. Để duy trì, phát triển một xã hội thì cần có rất nhiều thiết
chế xã hội như: thiết chế gia đình, thiết chế giáo dục, thiết chế kinh tế, thiết
chế chính trị, thiết chế tôn giáo,…Tuy nhiên trong phạm vi một bài chuyên đề
nhóm nhỏ, nhóm chúng em chỉ xin đi sâu trình bày về hai loại thiết chế rất
quan trọng đó là thiết chế gia đình và thiết chế kinh tế đối với biến đổi xã hội.
Do thời gian cũng như hiểu biết còn hạn hẹp vì vậy trong bài tìm hiểu
chuyên đề của chúng em sẽ còn nhiều sai sót, chúng em mong nhận được sự
gop ý, sửa chữa của thầy để bài chuyên đề này của chúng em được đầy đủ và
hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
1
Chuyên đề xã hội học đại cương 2: Thiết chế xã hội và biến đổi xã hội – NHÓM 4
NỘI DUNG
• Các thiết chế có xu hướng phụ thuộc vào nhau. Khi có sự thay đổi về
cơ cấu hay khuôn mẫu hành vi của một thiết chế xã hội nào đó thì nó
thường kéo theo sự thay đổi của các thiết chế khác.
• Các thiết chế có xu hướng trở thành tiêu điểm của những vấn đề xã hội
chủ yếu. Bất cứ sự đổ vỡ nào đó của thiết chế xã hội cũng trở thành
những vấn đề xã hội nghiêm trọng.
3. Chức năng của thiết chế xã hội:
Sự tồn tai của mọi xã hội, tính ổn định và phát triển của nó sẽ không
thể có được nếu không có sự quản lý và kiểm soát xã hội. Thiết chế xã hội
thực hiện sự kiểm soát và quản lí để đảm bảo cho cái đúng và ngăn chặn cái
lệch lạc. Vì vậy bất cứ thiết chế xã hội nào cũng có 2 chức năng cơ bản:
• Chức năng quản lý: nhằm khuyến khích, điều chỉnh, điều hòa hành vi
của con người cho phù hợp với quy phạm và chuẩn mực của thiết chế.
• Chức năng kiểm soát: nhằm ngăn chặn, giám sát, thậm chí trừng phạt
những hành vi sai lệch so với các chuẩn mực, đòi hỏi của thiết chế hoặc
không chịu tuân thủ thiết chế.
Như vậy thiết chế là công cụ định hướng, điều chỉnh, điều hòa, quản lý và
kiểm soát hành vi xã hội của con người. Nhờ có thiết chế, con người có thể có
những hành động phù hợp căn cứ vào chuẩn mực, quy phạm. Đồng thời nó
cũng là công cụ trừng phạt đốt với những hành vi sai lệch, vi phạm chuẩn
mực.
3
Chuyên đề xã hội học đại cương 2: Thiết chế xã hội và biến đổi xã hội – NHÓM 4
II. THIẾT CHẾ GIA ĐÌNH VÀ BIẾN ĐỔI XÃ HỘI:
Gia đình là tế bào của xã hội, một xã hội muốn khỏe mạnh thì mỗi tế
bào của xã hội phải khỏe mạnh. Không chỉ đối với xã hội mà đối với mỗi cá
nhân, gia đình có vai trò hết sức quan trọng. Gia đình không chỉ là nơi sinh ra,
nuôi dưỡng, giáo dục mỗi con người cả về thể chất, trí tuệ và đạo đức mà gia
đình còn là cái nôi cho ra đời những tế bào mới, những gia đình mới. Chính vì
vậy mà môi trường gia đình là môi trường gần gũi và gắn bó với mỗi cá nhân
thành một hệ thống các giá trị, chuẩn mực, các vị thế vai trò phù hợp với từng
thành viên trong gia đình, những giá trị, chuẩn mực đó đó được xã hội chấp
nhận và nhiều gia đình cùng có chung hệ gia trị đó. Từ đó hình thành nên một
thiết chế gia đình chung nhưng cũng rất đặc trưng cho gia đình Việt Nam.
Vậy thiết chế gia đình là hệ thống các giá trị, chuẩn mực, vị thế, vai trò
của các cá nhân trong gia đình, có tình bắt buộc và là định hướng mọi hoạt
động, điều chỉnh hành vi của các thành viên trong gia đình sao cho phù hợp.
4. Thiết chế gia đình tác động tới xã hội:
Sự thay đổi của các thiết chế xã hội từ gia đình truyền thống cho tới hiện
tại đã tác động không nhỏ tới tình hình xã hội của đất nước ta hiện nay. Cùng
với “guồng quay” của biến đổi xã hội, thiết chế xã hội cũng đã có sự thay đổi-
đó được coi như một quy luật tất yếu của sự phát triển. Tuy nhiên không phải
mọi sự thay đổi đều và tiến bộ và đúng đắn. Vậy chúng ta hãy thử xem xét
xem thiết chế gia đình từ truyền thống tới hiện tại thay đổi như thế nào và nó
có tác động gì tới xã hội Việt Nam:
a, Thiết chế gia đình truyền thống:
Trong gia đình truyền thống mà mô hình là “tứ đại đồng đường” cùng
chung sống, có lẽ người ta đã quá quen thuộc với hình ảnh một ông cụ đã
5
Chuyên đề xã hội học đại cương 2: Thiết chế xã hội và biến đổi xã hội – NHÓM 4
bước vào tuổi cao niên, râu tóc bạc phơ vẫn cầm một chiếc gậy trúc, ngồi trên
phản và chỉ dạy những đứa con đã trạc ngoại tứ tuần đang quỳ gối dưới đất.
Hình ảnh đó cũng phán ánh một phần nào chuẩn mực trong gia đình truyền
thống. Mọi quyết đinh, quyền lực trong nhà đều thuộc về người đàn ông lớn
tuổi nhất. Mọi người trong gia đình đều phải có nghĩa vụ tuân theo. Tính từ
quan niệm về hiếu đễ, tam tòng mà quan hệ trong gia đình thường là trên bảo
dưới nghe, mang tính pháo chế, ít có sự bàn bạc và thương lượng trong gia
đình, đặc biệt việc hỏi ý kiến của người phụ nữ lại càng hiếm gặp. Chính từ
quan niệm “trọng nam khinh nữ” này kéo theo nhiều hệ quả đối với đời sống
xã hội
thể chia sẻ cả việc nuôi dạy và giáo dục con cái. Trong gia đình truyền thống,
ông bà, cha mẹ rất coi trọng giáo dục đạo đức, truyền thống của gia đình cho
con cái, ngoài ra mọi việc của con cái đều cho cha mẹ quyết định, từ chuyện
học hành, quan hệ bạn bè cho tới hôn nhân. Vì vậy hôn nhân trong gia đình
truyền thống thường là “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Để giữ đúng đạo hiếu
thì con cái phải làm đúng theo ý cha mẹ, nếu không bị coi là bất hiếu. Điều
này vừa có điểm tích cực nhưng cũng có điểm tiêu cực của nó:
• Hôn nhân trong gia đình truyền thống thường là hôn nhân
không có tình yêu hoặc chưa có. Tuy nhiên vợ chồng thường
sống với nhau bằng đạo nghĩa, không chỉ là đạo nghĩa vợ
chồng mà còn là đạo nghĩa đối với cha mẹ, tình làng nghĩa
xóm vì vậy mà hôn nhân thường gắn bó và bền chặt, ít xảy ra
biến động. Người phụ nữ trong gia đình thường hết mực chăm
lo con cái, chu đạo với bố mẹ chồng, phục vụ nhà chồng. Vì
vậy quan hệ mẹ chồng nàng dâu dù có nhiều mâu thuẫn song
lại ít có xích mích, tranh cãi.
• Bố mẹ hết sức chăm lo, chăm sóc con cái, tính quản lí chặt
chẽ vì vậy mọi sự biến đổi của trẻ đểu được cha mẹ dễ dàng
nhận ra, nếu có sự sai lệch trong hành vi đều được kịp thời
chấn chỉnh, uốn nắn.
7
Chuyên đề xã hội học đại cương 2: Thiết chế xã hội và biến đổi xã hội – NHÓM 4
• Tuy nhiên kiểu giáo dục trên bảo dưới nghe này cũng làm hạn
chế khả năng phát triển tự duy tự nhiên, phát triển sáng tạo
của trẻ em. Cha mẹ ít có sự tao đổi tâm tình cùng con cái để
hiểu con cái mà thường là dùng đòn roi, giáo lý ra để dạy bảo.
Giá trị đạo đức luân lấy chuẩn mực của nho giáo làm thước đo: đối với
nam là : nhân, nghĩa, lễ, chí, tín còn đối với phụ nữ là tam tòng, tứ đức.
Những giá trị đó trở thành thước đo đối với mỗi cá nhân trong gia đình, mọi
người trong gia đình đều phải tuân theo và hướng vào đó để hoàn thiện nhân
nhau. Chính vì vậy sở thích, quan điểm, đồng hồ sinh học của mỗi
người cũng khác nhau cho phù hợp với hoàn cảnh công việc. Đặc biệt
sự phát triển của công nghệ làm cho giới trẻ ngày nay phát triển hết sức
nhanh chóng, có xu hướng hoạt động quan niệm khác hẳn với ông bà,
thậm chí cả cha mẹ. Vì vậy nếu sống theo mô hình truyền thống sẽ nảy
sinh nhiều mâu thuẫn khó có thể giải quyết được, làm rạn nứt tình cảm
gia đình. Vì vậy xu hướng gia đình hạt nhân có vẻ phù hợp hơn với xu
thế phát triển của xã hội. Tuy nhiên, cùng với mô hình gia đình hạt
nhân, nhiều thiết chế gia đình cũng đã biến đổi:
• Trong gia đình, vợ và chồng bình đẳng hơn trong mọi việc. Nếu trước
đây người chồng là trụ cột của gia đình, là người làm ra kinh tế chính
trong gia đình, phụ nữ chỉ có ở nhà lo nội chợ và nuôi dạy con cái thì
trong gia đình hiện đại, người vợ cũng đi làm và kiếm ra tiền, đóng góp
vào kinh tế gia đình, vì vậy họ cũng có tiếng nói hơn trong gia đình.
Trong mọi việc của gia đình, thường vợ và chồng đều có sự bàn bạc để
đi đến sự thống nhất rồi mới đưa ra quyết định.
• Việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình được các gia đình chú trọng hơn,
tỉ lệ sinh con thấp, mỗi gia đình chỉ có từ một đến 2 con. Theo một
9
Chuyên đề xã hội học đại cương 2: Thiết chế xã hội và biến đổi xã hội – NHÓM 4
nghiên cứu năm 2006 thì ti lệ người đồng ý khá thấp ( 18,6% người
cao tuổi, 6,6% độ tuổi từ 18-60 và 2,8% vị thành niên). Theo số liệu lấy
từ vietnamplus.vn thì 4 tháng đầu năm 2009 công tác kế hoạch hóa gia
đình đã được triển khai hiệu quả vớ số ca đặt vòng tránh thai hơn
576.670, tăng 17,4% so với cùng kỳ năm ngoái; số ca triệt sản là hơn
10.100 ca, tăng 25%. Như vậy từ nhận thức thay đổi của người dân, đặc
biệt tuyên truyền sâu rộng về kế hoạch hóa gia đình đã làm cho tỉ lệ
sinh tự nhiên có xu hướng giảm: Năm 2000 là 1,36% đến năm 2009
còn 1,2%.
• Phụ nữ trong gia đình hiện đại tham gia tích cực hơn vào các hoạt động
và gắn kết giữa các thành viên trong gia đình. Trong nhiều gia đình
buổi sáng người ta phải chia tay nhau để dành thời gian cho công việc
để rồi chỉ xum họp vào buổi tối bên máy thu hình, trong khoảng xa rời
tổ ấm đó (vợ chồng vì công việc ở công sở ;con cái ở trường bán trú-
nhất là trong các gia đình trẻ) mỗi người đã sống một thế giới khác hẳn
nhau. Vậy thì, khi gặp lại nhau, sự mệt mỏi và căng thẳng khiến họ còn
điều gì chung để chia sẻ ? Sự lo toan cho gia đình đi tới chỗ mờ nhạt
dần.
• Tính khép kín giữa các thành viên trong gia đình và gia đình với hàng
xóm láng giềng. Đây là một thực trạng phổ biến hầu hết các gia đình ở
đô thị. Cha mẹ đi làm cả ngày nên không có nhiều thời gian quan tâm,
chia sẻ với con cái. Từ đó đã tạo ra một bức tường ngăn cách trong gia
đình, con cái không biết bố mẹ làm gì? Bố mẹ không hiểu con mình
nghĩ gì, cần gì, làm gì hàng ngày v v. Mối quan hệ hàng xóm, láng
giềng khép kín: “nhà nào biết nhà nấy”, “mạnh ai người ấy thắng”.
• Tính kiểm soát yếu: Sự kiểm soát của gia đình đối với các thành viên ở
mức độ yếu vì sống trong môi trường hiện đại, các cá nhân có nhiều cơ
hội trau dồi khả năng, nhận thức, trình độ…đảm bảo tính công bằng,
dân chủ. Tuy nhiên chính xu hướng này đã làm cho các thành viên
11
Chuyên đề xã hội học đại cương 2: Thiết chế xã hội và biến đổi xã hội – NHÓM 4
trong gia đình không con nhiều tình cố kết như trong gia đình truyền
thống, thời gian các thành viên trong gia đình dành cho nhau ít hơn,
nhưng bữa cơm gia đình cũng thưa dần: buổi trưa thì con cái thì ăn bán
trú ở trường, bố mẹ thì ăn ở cơ quan đến buổi chiều thì có khi bố mẹ
bận việc mà vắng mặt. Nhiều gia đình bận đến mức con cái cả tuần mới
gặp bố mẹ 1 lần và hầu hết toàn ăn cơm với người giúp việc. Theo một
nghiên cứu khi điều tra 943 ông bố bà mẹ thì kết quả thu được là: 15%
trong số họ dành cho con cái một ngày tư 5-10 phút, 18% dành cho 15
phút để hỏi han đến việc học hành của con cái, một khoảng thời gian
Thiết chế kinh tế thị trường là hoạt động theo quy luật cung cầu. Bất kỳ nền
kinh tế thị trường nào cũng chịu sự điều tiết của nhà nước, ví dụ thuế quan
sao cho có lợi cho nền kinh tế của mình.
2) Chức Năng Của Thiết Chế Kinh Tế.
Thiết chế kinh tế có chức năng đảm bảo quá trình sản xuất, phân phối
lợi ích và các dịch vụ.
Trong quá trình hoạt kinh tế thì cần phải thực hiện và trải qua quá trình
sản xuất, phân phối lợi ích các dịch vụ. Để đảm bảo được các quá trình này
và hiệu quả thì xã hội đưa ra các thiết chế kinh tế. Thiết chế kinh tế , đưa ra
các chuẩn mực giá trị, vai trò trong xã hội vận động xung quanh nhu cầu cơ
bản đã đặt ra.
Ở thiết chế kinh tế nói riêng và thiết chế kinh tế nói chung thì nó đều
thực hiện sự kiểm soát và quản lý để cho đảm bảo cái đúng và ngăn chặn cái
lệch lạc.
13
Chuyên đề xã hội học đại cương 2: Thiết chế xã hội và biến đổi xã hội – NHÓM 4
-Thiết chế kinh tế có chức năng quản lý : Nhằm khuyến khích, điều
chỉnh, điều hành vi của con người cho phù hợp với quy phạm và chuẩn mực
của thiết chế : Trong nền kinh tế thị trường , khuyến khích phát triển nền
kinh tế bền vững, ảnh hường nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã
hội.
-Thiết chế kinh tế có chức năng kiểm soát: nhằm ngăn chặn, giám sát,
thậm chí chừng phạt những hành vi sai lệch so với các chuẩn mực, đòi hỏi
thiết chế hoặc hoặc không chịu tuân thủ thiết chế. Trong nền kinh tế tập
chung, thì hoạt động kinh tế do sự quản lý của nhà nước, không được hoạt
động kinh tế tư nhân, nếu ai vi phạm thì sẽ bị sẻ phạt.
→ thiết chế kinh tế là công cụ để định hướng, điều chỉnh, điều hòa,
quản lý và kiểm soát hành vi hoạt động kinh tế xã hội. nhờ có thiết chế kinh tế
mà con người có những hoạt động phù hợp căn cứ vào chuẩn mực, quy phạm
của từng hình thái kinh tế. Đồng thời nó cũng là công cụ trừng phạt đối với
có ngành nông nghiệp tăng trưởng chút ít, các ngành phi công nghiệp không
được chú trọng, đời sống của nhân dân gặp vô vàn khó khăn. Lúc này Đảng
nhà nước tiếp tục định hướng và phát triển nền kinh tế theo định hướng
CNXH với nhiệm vụ cơ bản là xây dựng một bước cơ sở vật chất _kinh tế
của CNXH bước đầu hình thành cơ cấu kinh tế mới trên cả nước mà bộ phận
chủ yếu là cơ cấu công _ nông nghiệp và cải thiện một bước đời sông vật
chất và văn hóa tinh thần.
từ 1975 -1986 Việt nam đã theo cơ chế kế hoạch hóa tập chung kiểu Liên Xô
15
Chuyên đề xã hội học đại cương 2: Thiết chế xã hội và biến đổi xã hội – NHÓM 4
cho cả Miền Bắc và Miền Nam trong đó hệ thống kinh tế quản lý cao độ. Khu
vục nông nghiệp rộng lớn bị tập thể hóa thành các Hợp Tác Xã sản xuất và
phân phối . Giá xuất xưởng và thương mại nông sản xác định theo phương
thức hành chính, tem phiếu, lương thực, hợp thành một phần tiền lương của
công nhân viên chức chỉ dùng được trong các cửa hàng nhà nước, thương mại
giữa các tỉnh bị hạn chế, hơn nữa về chợ cấp đầu vào và tiêu thụ đầu ra, các
doanh nghiệp nhà nước, phải thực hiện theo những chỉ thị của trung ương,
Tóm lại, chính sách của nền kinh tế tập chung được thể hiện như sau:
+ Nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh chính giữa
trên hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết áp đặt từ trên xuống dưới. Các doanh
nghiệp hoạt động trên cơ sở các quy định của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền, và các chỉ tiêu pháp lệnh được giao. Nhà nước giao chỉ tiêu kế hoạch
cấp phát vốn vật tư cho doanh nghiệp, doanh nghiệp nộp sản phẩm cho nhà
nước, hoạt động sản xuất bị lỗ được nhà nước đền bù, lãi thì nhà nước thu.
+Cơ quan hành chính can thiệp vào hoạt động sản xuất, xây dựng, của
các doanh nghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về vật liệu và pháp lí
đối với các quy định cua mình những thiệt hại về vật chất do các quyết định
không đúng gây ra thì ngân sách nhà nước phải gánh chịu. Các doanh nghiệp
không có quyền tự chủ sản xuất kinh doanh, không bị ràng buộc trách nhiệm
sản xuất .
17
Chuyên đề xã hội học đại cương 2: Thiết chế xã hội và biến đổi xã hội – NHÓM 4
+khách hàng là thượng đế .
+Sản xuất và bán hàng hóa theo nhu cầu thị trường.
+Cạnh tranh.
+Tiền tệ hóa các quan hệ kinh tế .
4. Thiết chế kinh tế và sự thay đổi của xã hội.
- Giai đoạn 1975 – 1986 đất nước ta áp dụng nền kinh tế hoạch hóa tập
trung, một đặc điểm của nền kinh tế theo chủ nghĩa cộng sản. Nhưng thực tế
xã hội chưa đủ để chúng ta bứt phá theo kế hoạch này, tư tưởng của chúng ta
còn nóng vội, giáo điều thể hiện qua việc đề ra phương châm tiến nhanh, tiến
mạnh, tiến vững chắc lên CNXH, đề ra các mục tiêu, chỉ tiêu quá cao, không
tính đến khả năng thực hiện và điều kiện của đất nước sau thống nhất, dẫn tới
kinh tế của Việt Nam mất cân đối hơn, kinh tế quốc doanh luôn thua lỗ nặng,
không phát huy tác dụng, kinh tế tư nhân và cá thể bị ngăn cấm triệt để, sản
xuất chậm phát triển, thu nhập quốc dân năng suất thấp, đời sống nhân dân
gặp nhiều khó khăn, xã hội nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực.Nền kinh tế
thời kì này kém phát triển nó kéo theo hàng loạt các vấn đề khác, giáo dục
không được chú trọng, đặc biệt là giáo dục trong gia đình( vẫn mang tính áp
đặt, mệnh lệnh từ cao xuống thấp) các nghành y tế không đảm bảo, cách quản
lý của nhà nước cồng kềnh nhiều giai đoạn.
Nhìn lại cách quản lý và phân phối sản phẩm thời kì này cũng có nhiều
bất cập, nó làm cho người dân ỉ lại, không có tính chủ động, tích cực, luôn
phải phụ thuộc vào nhà nước, không có trách nhiệm trong công việc.
VD: Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, lao động tập trung chịu sự
quản lí của hợp tác xã, mọi nhười cùng làm chung. Khi nào có kẻng thì đi
làm, hết giờ được về, người làm ít cũng như người làm nhiều, năng suất lao
18
Chuyên đề xã hội học đại cương 2: Thiết chế xã hội và biến đổi xã hội – NHÓM 4
động thấp.Vì không phải công việc của cá nhân mình nên thường dẫn tới tình
giai đoạn ở nước ta sẽ thấy rõ sự phát triển:
BẢNG SO SÁNH TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG GDP TRUNG BÌNH NĂM
1970 - 1990 1990 - 2003 1970 - 2003
2.4% 7.4% 4.3%
Nguồn: Cục thống kê liên hợp quốc
Bảng so sánh trên đã cho thấy tốc độ tăng trưởng GDP của nước ta
trước và sau đổi mới có sự chênh lệch đáng kể.
Sự phát triển về mặt kinh tế nó sẽ kéo theo các yếu tố khác trong xã hội
cũng phát triển theo: giáo dục được đẩy mạnh phát triển, vấn đề y tế và sức
khỏe người dân được chú trọng, chính trị được đảm bảo và văn hóa cũng có
sự thay đổi đáng kể.
Sự phát triển về kinh tế và xã hội đã cho chúng ta thấy rõ, khi xã hội thay
đổi nó sẽ đòi hỏi thiết chế thay đổi, đồng thời thiết chế tác động đến xã hội
làm xã hội thay đổi.
Khi nói về sự biến đổi xã hội sau năm 1986 chúng ta cũng không thể bỏ qua
khu vực nông thôn.Vậy khu vực nông thôn họ đã thay đổi như thế nào?
• Sự thay đổi ở khu vực nông thôn
20
Chuyên đề xã hội học đại cương 2: Thiết chế xã hội và biến đổi xã hội – NHÓM 4
Trong gia đình nông thôn chuẩn mực con được hình thành trong mối quan
hệ với một hệ thống phức tạp các nhân tố kinh tế - xã hội cùng sự tương tác
lẫn nhau của chung. Do những biến đổi về kinh tế - xã hội ở nông thôn nước
ta sau khoán sản phẩm (1981) và đặc biệt là khoán hộ (1988), chuẩn mực số
con trong gia đình nông dân đang có biểu hiện khác trước đây.
Sau sự thay đổi về đặc trưng kinh tế, quan hệ sản xuất ở nông thôn đã
có những chuyển biến quan trọng. Hộ xã viên được trở thành đơn vị sản xuất
cơ bản ở nông thôn. Các hội viên được quyền sở hữu trâu bò, máy móc, nông
cụ và được khoán ruộng đất lâu dài, mức khoán ổn định. Họ được quyền chủ
phúc lợi xã hội…
22
Chuyên đề xã hội học đại cương 2: Thiết chế xã hội và biến đổi xã hội – NHÓM 4
KÊT LUẬN
Thiết chế gia đình và thiết chế kinh tế chỉ là hai trong số rất nhiều thiết
chế trong xã hội Việt Nam. Vì vậy có một cái nhìn tổng quát về vai trò của
thiết chế xã hội và sự thay đổi các thiết chế xã hội ảnh hưởng như thế nào tới
đời sống xã hội Việt Nam thì cần có một bài khóa luận chuyên sâu về vấn đề
này.
Trong phạm vi của một chuyền đề với quy mô nhóm nhỏ, chúng em chỉ
đi sâu vào thiết chế gia đình nhằm so sánh, đưa ra sự biến đổi trong thiết chế
gia đình Việt Nam từ truyền thống tới hiện đại và sự thay đổi đó có ảnh
hưởng như thế nào tới xã hội Việt Nam. Và thiết chế kinh tế với việc thay đổi
thiết chế từ trước và sau đổi mới để thấy được những mặt tích cực và tiêu cực
của thiết chế kinh tế này.
Bài chuyên đề này của chúng em còn hết sức sơ sài và nhiều thiết sót.
Chúng em mong sẽ nhận được sự góp ý của thầy để nó trở thành một tài liệu
có ích trong việc học tập và nghiên cứu của chúng em say này.
23