Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Ban Quản lý Dự án Thuỷ điện Trung Sơn (TSHPMB), Dự
án Phát triển Thuỷ điện
1
ĐỢT CÔNG TÁC THỨ 2
BAN CHUYÊN GIA MÔI TRƢỜNG VÀ XÃ HỘI
(POE)
BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN THUỶ ĐIỆN TRUNG SƠN
(TSHPMB)
BÁO CÁO DỰ THẢO
Các thành viên của Ban Chuyên gia (POE)
Juan A. Schnack (Trƣởng nhóm)
Lê Thị Mộng Phƣợng (Thành viên trong nƣớc)
Nguyễn Duy Thắng (Thành viên trong nƣớc) Tháng 5/2010
Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Ban Quản lý Dự án Thuỷ điện Trung Sơn (TSHPMB), Dự
án Phát triển Thuỷ điện
12
5. RELEVANT ISSUES
13
5.1 Capacity Building, Institutional Strengthening and Technical
Assistance
14
5.2 Social and Environmental Integration
15
5.3 Implementation of Environmental Management Plans (EMP) in
Expected Time
16
Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Ban Quản lý Dự án Thuỷ điện Trung Sơn (TSHPMB), Dự
án Phát triển Thuỷ điện
3
5.4 Definition of Responsibilities of Supervision and Monitoring
17
5.5 Divulgation and Public Consultation as a Continuous Process
18
5.6 The Role of Mass Organizations
19
5.7 Adoption of Long Term Agricultural Options
20
5.8 Activities must be Planned During the Entire Life of the Project
21
5.9. Implementation of Inter-Institutional Plans
21
5.10 Further Issues
22
6. FINAL REMARKS
POE Panel of Experts
PPC Provincial People Committee
RLDP Resettlement Livelihood and Ethnic Minority Development Plan
RP Resettlement Plan
RPF Resettlement Policy Framework
SEO (Workplace) Safety and Environmental Officer
SES (Workplace) Safety and Environmental Supervisor
Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Ban Quản lý Dự án Thuỷ điện Trung Sơn (TSHPMB), Dự
án Phát triển Thuỷ điện
5
SESIA Supplementary Environmental and Social Impact Assessment
TSHPMB Trung Son Hydropower Management Board
WB World Bank
Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Ban Quản lý Dự án Thuỷ điện Trung Sơn (TSHPMB), Dự
án Phát triển Thuỷ điện
6
TÓM TẮT
Trong suốt đợt công tác thứ hai, tất cả các thành viên của Ban chuyên gia họp ở
Việt Nam và cùng thực hiện các hoạt động từ ngày 26/02/2010 đến 08/03/2010,
khi trưởng nhóm, Mr.Juan A. Schnack đến Hà Nội. Tuy nhiên, đợt công tác đã
được hoàn thành trong khoảng thời gian lâu hơn: các thành viên trong nước của
Ban chuyên gia, bà Lê Thị Mộng Phương và Ông Nguyễn Duy Thắng cùng tham
gia đợt tham vấn lần 3 dựa trên thông tin được công bố từ 28/12/2009 đến
05/01/2009 và tham gia các chuyến đi hiện trường từ ngày 19 đến 22/01/2010.
Ban chuyên gia thực hiện các hoạt động chính, bao gồm:
Trưởng nhóm chuyên gia làm việc với đội trưởng đội công tác, ông Richard
Spencer, Ngân hàng Thế giới (27/02/2010) và ông Ngô Việt Hải, Trưởng ban
Quản lý Dự án Thuỷ điện Trung Sơn (TSHPMB) (01/03/2010),
ràng, mục tiêu của TSHPP được làm rõ, và thể hiện sự cống hiến và chuyên môn
cao về tất cả các vấn đề liên quan. Các chính sách an toàn của Ngân hàng Thế
giới được bao gồm khi cần thiết (ví dụ RP, Ngân hàng Thế giới OP 4.12, EMDP,
World Bank OP 4.10). Các thiếu sót giữa Khung chính sách pháp lý Việt Nam và
Khung chính sách an toàn của Ngân hàng Thế giới và các vấn đề liên quan khác
đã được giải thích một cách rõ ràng bởi các tư vấn trong nước của Ban PoE (Phụ
lục I). Đối với các tác động cộng dồn, các nội dung đó từ dự án chính nó đã được
tham chiếu một cách hợp lý và các tác động cộng dồn ở mức độ lớn hơn đều xét
đến tất cả các hoạt động khác của khu vực dự án đã được lên kế hoạch hợp lý để
thực hiện vào cuối năm đầu tiên của giai đoạn thi công. Theo đó, Ban
QLDATĐTS sẽ phát triển các nghiên cứu cụ thể để đánh giá các tác động cộng
dồn của TSHPMB liên quan đến các dự án và các hoạt động khác bởi vì nó đã
được mô tả trong EMP.
Cho thấy rằng tất cả các báo cáo dự thảo đã được xem xét một cách thấu đáo và
tất cả các hiệu chỉnh và sửa đổi đã được bao gồm sau khi được đồng ý hoàn toàn,
họ đã trình bày phiên bản cuối cùng để đệ trình phê duyệt lần cuối. Sau đó, ban
chuyên gia xét thấy là không cần thiết để thực hiện thêm các xem xét và các cuộc
họp để bổ sung các thay đổi vào các báo cáo dự thảo này, các báo cáo dự thảo đó
sẽ được chuyển cho Ban QL và WB để xem xét và phê duyệt lần cuối. Việc này
sẽ đóng góp việc hoàn thiện tiến độ trình bày dự án cho Ban Ngân hàng Thế giới
vào tháng 7/2010 và để thúc đẩy một cách tích cực toàn bộ tiến độ thời gian dự
kiến.
Dựa trên các tài liệu chính được xem xét, bao gồm SESIA, EMP, và RLDP, cũng
như vòng tham vấn thứ 3, Ban POE đề xuất ưu tiên trong suốt quá trình phát triển
các giai đoạn khác nhau của Dự án TĐTS, về các vấn đề sau:
- Nâng cao Năng lực, tăng cường thể chế và Hỗ trợ kỹ thuật
- Tổng hợp môi trường và xã hội
- Thực hiện EMP trong thời gian dự kiến
- Xác định các trách nhiệm giám sát và quan trắc
WB và các tư vấn, và công việc ở hiện trường (đi thăm công trường đập và
đường vào) (Schnack & Phuong, 2008).
Báo cáo dự thảo lần hai (Schnack, Phuong & Thang, 2009) bao gồm các tài liệu
được xem xét bổ sung.
Báo cáo thứ 3 bao gồm phản hồi giữa tư vấn do Ban QLDATĐTS thuê và POE
bao gồm thực hiện hơn một trăm phản hồi của TSHPMB đối với các ý kiến của
POE về tất cả các tài liệu và các báo cáo dự thảo và các tư vấn quốc tế (Tháng
6/2009) đã được làm rõ vào cuối năm 2009.
Trong suốt đợt công tác thứ 2, tất cả các thành viên của PoE gặp nhau ở Việt
Nam và cùng thực hiện các hoạt động từ 26/02/2010 đến 08/3/2010. Thời gian
này ông trưởng nhóm, Juan A. Schnack ở Hà Nội. Tuy nhiên, đợt công tác đã
được thực hiện trong thời gian lâu hơn, có các tư vấn trong nước, thành viên của
PoE, Ms. Lê Thị Mộng Phượng và Ông Nguyễn Duy Thắng tham gia vòng tham
vấn thứ 3 dựa trên hoạt động công bố thông tin được thực hiện từ ngày
28,/12/2009 và 05/01/2010 và các chuyến đi thăm công trường trong suốt giai
đoạn từ 19/1 đến 2/2 năm 2010.
Bên dưới trình bày tóm tắt các ý kiến của POE, liên quan đến các báo cáo dự
thảo được công bố: Đánh giá tác động Môi trường và Xã hội bổ sung - SESIA-,
Kế hoạch Quản lý Môi trường (EMP) và Chương trình Sinh kế Tái định cư và
Phát triển Dân tộc Thiểu số - RLDP-, và các kết luận của vòng tham vấn thứ ba.
Báo cáo dự thảo của đợt công tác thứ 2 bao gồm các nội dung và đề xuất chính
của ban chuyên gia nhằm hỗ trợ Ban QLDATĐTS hoàn thiện thành công giai
đoạn chuẩn bị của dự án, và bắt đầu sớm việc thực hiện theo dự kiến.
Các hoạt động chính mà ban chuyên gia thực hiện bao gồm:
Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Ban Quản lý Dự án Thuỷ điện Trung Sơn (TSHPMB), Dự
án Phát triển Thuỷ điện
10
Buổi họp riêng của trưởng nhóm PoE với Đội trưởng đội công tác, Mr.
Richard Spencer, World Bank (February 27, 2010)
Á) (05/3/2010).
Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Ban Quản lý Dự án Thuỷ điện Trung Sơn (TSHPMB), Dự
án Phát triển Thuỷ điện
11
Như đã nói ở trên, Ban chuyên gia đã xem xét một số lượng lớn các tài liệu trong
suốt hai năm qua (2008-2010) như là một nguồn thông tin cơ bản được sử dụng
như các báo cáo tổng hợp, tên là SESIA, EMP, và RLDP. Với vai trò như một
người cố vấn, không cần thiết chấp nhận các ý kiến chi tiết đối với mỗi vấn đề
được xử lý của các báo cáo này.
Việc xem xét tất cả các tài liệu và các báo cáo dự thảo do Ban QLDATDTS cung
cấp cần Ban chuyên gia cung cấp ý kiến liên quan đến hầu hết tất cả các vấn đề
và các hoạt động được phát triển hoặc lược bỏ. Vì thế, đối với đợt công tác thứ
hai, báo cáo dự thảo này sẽ tuân thủ mục đích này, tập trung vào SESIA, EMP,
RLDP và vòng tham vấn thứ 3, và các hoạt động thực hiện trong suốt đợt công
tác (các buổi họp, hội thảo, vv). Nội dung này đã được thoả thuận có phần giới
thiệu nêu trong báo cáo dự thảo lần hai của PoE, đã nhấn mạnh rằng tất cả các
báo cáo và tài liệu cá nhân đã được xem xét mặc dầu nhằm để tổng hợp chúng để
phân tích sâu hơn và muốn đưa ra quan điểm nổi bật mà không chỉ đơn thuần là
tóm tắt các phần. Hơn thế nữa, mục đích chính là để nhấn mạnh các hạng mục
liên quan nhằm để được phân tích sâu hơn (Schnack, Phượng và Thắng 2009).
Tuy nhiên, đối với tình hình hiện tại của dự án, theo kế hoạch dự kiến đối với
mỗi mốc thực hiện và dự kiến của họ để thuyết phục là để nhấn mạnh hơn để đưa
ra các đề xuất thực hiện nhiệm vụ trong các giai đoạn khác nhau của việc thực
hiện dự án, từ khi bắt đầu thi công đường (2010) đến khi hoàn thành công trình
(ca. 2017).
2. BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƢỜNG CỦ
Trong quá trình lập báo cáo dự thảo lần hai (Schnack, Phuong & Thang, 2009),
trưởng nhóm POE có cơ hội thảo luận với Mr. García Lozano qua trực tuyến về
“báo cáo Tổng hợp Đánh giá Môi trường” chưa hoàn thành (Chi & García
cuối năm vào năm thi công đầu tiên. Theo đó, TSHPMB sẽ phát triển các nghiên
cứu cụ thể nhằm đánh giá các tác động cộng dồn của Dự án liên quan tới các dự
án và các hoạt động khác bởi vì nó đã được mô tả chi tiết trong EMP (Báo cáo
cuối cùng, tháng 5/2010, báo cáo chính: trang 86, Phụ lục I, trang 137-141).
3.1.2 Ghi chú
Một số ví dụ về các biện pháp giảm thiểu được đề xuất khi tham chiếu tới các tác
động tích cực. Có cần giảm thiểu các tác động tích cực không? Sẽ hợp lý hơn nếu
tận dụng các lợi ích hoặc sử dụng hợp lý thay vì giảm thiểu. Bởi vì đây chỉ là vấn
đề mang tính hệ thống về mặt khái niệm, câu hỏi trên không điều chỉnh bất kỳ
thay đổi nào trong báo cáo.
Khôi phục quần thể cá đối với các loài quan trọng bằng cách thúc đẩy việc nuôi
cá ở trong hồ là một biện pháp giảm thiểu đề xuất đang còn thảo luận. Người ta
lập luận rằng việc ưu tiên các loài thích nghi với nước chảy có thể điều chỉnh để
thích nghi với loại nước tĩnh. Tuy nhiên, phương thức tiếp cận thích ứng đề xuất
có thể giúp đưa ra các quyết định đối với bất kỳ chương trình nghề cá cụ thể nào
trong thời gian cho phép.
3.2 Kế hoạch quản lý môi trƣờng (EMP)
3.2.1 Đánh giá chung
Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Ban Quản lý Dự án Thuỷ điện Trung Sơn (TSHPMB), Dự
án Phát triển Thuỷ điện
13
Báo cáo dự thảo EMP đạt chất lượng cao. Mục tiêu và các đặc điểm chính đã
được xác định một cách rõ ràng. Các nguồn thông tin được nêu đầy đủ và chính
trong phần cuối của báo cáo. Phần tóm tắt và mô tả các tác động chính, các kế
hoạch và chương trình quản lý được giải thích rõ ràng và được phân tích chặt
chẻ. Các biện pháp giảm thiểu và khung thể chế được xử lý phù hợp.
3.2.2 Chú ý
Tác động xói mòn ở hạ lưu hầu hết đều đề cập đến các đồ vật tạo tác văn hoá/lịch
sử. Điều này có thể hiểu được bởi vì thực tế cho thấy rằng các điểm di tích lịch