Thành Đồ Bàn
Thành Đồ Bàn còn gọi là thành cổ Chà Bàn hoặc thành Hoàng Đế thuộc địa phận
xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn và cách thành phố Qui Nhơn (tỉnh Bình Định) 27 km về
hướng tây bắc.
Lịch sử :
Năm 982 dưới triều đại vua Yangpuku Vijaya (âm Hán-Việt là Ngô Nhật Hoan ?)
thành Đồ Bàn được xây dựng. Đây là kinh đô cuối cùng của vương quốc Chăm Pa và
các vua Chăm đã đóng ở đây từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 15.
Năm 1376, vua Trần Duệ Tông đem 12 vạn quân thủy, bộ đánh thành Đồ Bàn bị
Chế Bồng Nga đánh bại, Trần Duệ Tông tử trận.
Năm 1403, Hồ Hán Thương sai tướng đem 20 vạn quân vây đánh thành Đồ Bàn
ngót hai tháng trời, nhưng bị quân Chiêm Thành phản công quyết liệt liệt, phải rút
quân về nước.
Năm 1471, vua Lê Thánh Tông đem một đoàn thủy, lục quân hùng mạnh sang
đánh Chăm Pa. Sau khi chiếm được, Lê Thánh Tông ra lệnh phá hủy thành Đồ Bàn.
Năm 1776 (có tài liệu là 1778), Nguyễn Nhạc tự xưng là Trung Ương Hoàng Đế,
đóng đô ở đây, nên còn gọi là Hoàng Đế thành; ông cho mở rộng về phía Đông, xây
dựng nhiều công trình lớn.
Năm 1799, thành bị quân nhà Nguyễn chiếm, đổi gọi là thành Bình Định.
Ngày nay, Thành Hoàng đế là một trong những di tích giá trị, quan trọng trong
nghiên cứu lịch sử quân sự và khảo cổ học. ( Thông tin về Thành Hoàng đế ).
Đặc điểm :
Di tích Đồ Bàn hiện nay không còn nguyên vẹn, chỉ còn sót lại các bức tường
thành. Tường thành xây bằng đá ong, có hào, đường lát đá hoa cương. Trong thành
có những di tích cũ của người Chăm như giếng vuông, voi, bên cửa hậu có gò Thập
Tháp.
Đặc biệt có ngôi tháp Cánh Tiên cao gần 20 m, góc tháp có tượng rắn làm
bằng đá trắng, 2 voi đá và nhiều tượng quái vật. Tháp này được đánh giá là tiêu biểu
cho phong cách Bình Định, có niên đại nửa sau thế kỷ 11, đầu thế kỷ 12, nằm trong
giai đoạn lịch sử từ triều Harivarman IV (1074-1081) đến triều Harivarman V (1113-
1139).
1,3m so với mặt ruộng xung quanh, nằm ngay phía sau lưng bờ thành hiện tại do
nhà Nguyễn xây dựng. Hố khai quật được đào có diện tích 84 m2, sâu trên 1m.
Mặc dù không tìm thấy dấu vết kiến trúc xưa, nhưng tại hố, đã đào được tới 8 lớp đất
khác nhau. Trong đó, lớp đất cuối cùng ở bên ngoài được kè một lớp gạch có chiều
rộng khoảng 1,4m, bề dày từ 0,3m đến 0,45m. Gạch dùng để kè là các mảnh gạch
vỡ, đá ong, mảnh ngói. Đào tiếp lớp đất dưới phần gạch kè này, các nhà khảo cổ học
đã thu được nhiều hiện vật của người Chăm.
Do vậy, lớp đất này được xác định là lớp đất của kinh thành Vijaya ngày xưa.
Hẳn nhà Tây Sơn khi xây dựng thành Hoàng Đế, đã cho kè một lớp gạch lên trên lớp
đất của người Chăm để ổn định phần nền; sau đó, đổ thêm đất bên trên để xây dựng
công trình kiến trúc.
Địa danh “nền Hậu cung” nằm cách phía sau “nền Cung” khoảng 40m, là một
vùng đất cao 0,6m so với mặt ruộng xung quanh. Hố khai quật được đào có diện tích
100 m2, sâu khoảng 1,2m. Các nhà khảo cổ học đã phát hiện lớp đất màu đen dưới
cùng là một tầng văn hóa có độ dày 0,65m, với hiện vật thu được chủ yếu là của
người Chăm. Cũng giống như nền Cung, nền Hậu cung cũng được nhà Tây Sơn đắp
thêm một lớp đất dày từ 0,2m đến 0,3m, trên nền cũ của người Chăm để xây dựng
công trình kiến trúc của mình.
Điều đặc biệt, trên phần đất do nhà Tây Sơn đắp thêm, sau khi khai quật, đã
xuất lộ toàn bộ dấu vết móng của một công trình kiến trúc. Dấu vết móng này được
xây bằng tường đá ong, với khoảng 14, 15 viên đá ong; trong đó, viên dài nhất dài
đến 0,9m.