1 2
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu chăm sóc sức khỏe của con người càng
được quan tâm. Vì vậy, việc nghiên cứu các chất mang hoạt tính sinh học cao có
trong các loài cây cỏ đã và đang là vấn đề quan tâm của toàn xã hội. Hiện nay, trên
thế giới và ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu xác định thành phần, cấu
tạo của các chất có trong các loại cây và kết quả đã đưa ra một số chất có khả năng
kháng khuẩn, chống ung thư …góp phần cho sự phát triển của dược học.
Việt Nam là một nước nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nên hệ thực vật vô
cùng đa dạng và phong phú. Trong đó, có nhiều cây dược liệu quý hiếm. Đó là
nguồn tài nguyên sinh học vô cùng quý giá. Vì vậy, từ xưa đến nay, con người đã
khai thác nguồn tài nguyên này để làm thuốc chữa bệnh, dược phẩm, mỹ phẩm,
hương liệu…
Trong đời sống hàng ngày, gừng, riềng, nghệ thuộc họ gừng (Zingiberaceae)
là các loại cây hết sức quen thuộc với mỗi người dân Việt Nam. Chúng là nguồn
cung cấp gia vị trong việc chế biến các món ăn, đồng thời cũng là nguồn cung cấp
dược liệu để chữa bệnh. Chỉ nói riêng loài gừng, đó là loài thực vật thuộc chi
Zingiber, họ Zingiberaceae rất phổ biến ở nước ta.
4.1. Nghiên cứu lý thuyết
Thu thập, tổng hợp các tài liệu, tư liệu, sách báo trong và ngoài nước có liên
quan đến đề tài, trao đổi kinh nghiệm với các chuyên gia, thầy cô giáo và đồng
nghiệp.
4.2. Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp lấy mẫu, thu hái và xử lí mẫu.
- Phương pháp phân hủy mẫu phân tích để khảo sát hàm lượng hữu cơ.
- Phương pháp ngâm chiết mẫu.
- Phương pháp quang phổ hấp phụ nguyên tử để xác định hàm lượng các kim
loại trong củ gừng, phương pháp sắc ký khí – khối phổ liên hợp (GC–MS), phương
pháp sắc ký lỏng – khối phổ liên hợp (LC–MS) nhằm phân tách và xác định thành
phần định tính và định lượng các hoạt chất chính trong các dịch chiết.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
5.1. Ý nghĩa khoa học
Xác định các thông số vật lý, hóa học của các dịch chiết của củ gừng ở
Quảng Nam, tạo cơ sở nghiên cứu cho các đề tài liên quan đến củ gừng nhằm định
hướng cho việc quy hoạch và khai thác sau này.
4
5.2. Ý nghĩa thực tiễn
Góp phần cung cấp các thông tin cơ sở trong việc sử dụng củ gừng bằng
phương pháp truyền thống trong thực tiễn rộng rãi hơn.
6. Bố cục luận văn
- Luận văn gồm 51 trang. Trong đó:
Mở đầu: 3 trang
1.1. Khái quát về chi gừng (Zingiber)
Họ gừng (Zingiberaceae) có nhiều chi và gồm nhiều loài khác nhau. Hầu hết
các cây thuộc họ gừng phân bố chủ yếu ở các nước Đông Nam Á, Trung Quốc, Ấn
Độ, Nhật Bản. Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến đã tổng kết họ gừng gồm 45 chi và
hơn 1300 loài, phân bố ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Riêng ở Việt Nam hiện có
12 chi và 61 loài [1, 2, 14].
Chi gừng (Zingiber) gồm khoảng 100 loài, phân bố chủ yếu ở các khu vực
nhiệt đới châu Á và châu Úc. Trung tâm phong phú và đa dạng nhất của chi gừng là
các nước Đông Nam Á.
Các cây thuộc chi gừng có đặc điểm thực vật chung là: dạng cây thảo sống
nhiều năm, cao 0,5-1,5m. Thân rễ phân nhánh nhiều, tạo thành ―củ‖ nằm ngang trên
mặt đất. Thịt ―củ‖ nạc, thơm và có vị cay, đắng. Lá mọc so le theo hai phía đối
xứng trên thân, phiến lá hình thuôn, cuống lá rất ngắn hoặc hầu như không có, lá có
mùi thơm nhẹ. Cụm hoa mọc từ thân rễ, các hoa mọc sít nhau và mỗi hoa được bao
bởi một lá bắc sắp xếp như dạng vảy cá từ dưới lên trên, lúc đầu hoa có màu xanh
sau chuyển sang màu vàng, đỏ nhạt hoặc màu đỏ. Cánh hoa hình ống mảnh, màu
trắng, vàng hoặc hồng. Bao phấn thường có dạng hình ống bao lấy vòi nhụy [2].
Ở Việt Nam, Phạm Hoàng Hộ đã thống kê chi gừng gồm 11 loài [8, 11].
1. Gừng ( Zingiber offcinale Roscoe)
2. Gừng lá nhọn ( Zingiber acuminatum Valeton)
3. Gừng Nam bộ ( Zingiber cochinchinnensis Gagn)
4. Gừng Eberhardt ( Zingiber eberhardtii Gagn)
5. Gừng lúa ( Zingiber gramineum B1)
6. Gừng một lá ( Zingiber monophylum Gagn)
7. Gừng boc-da ( Zingiber pellitum Gagn)
8. Gừng tía ( Zingiber montanum )
9. Gừng đỏ ( Zingiber rubens Roxb)
10. Gừng lông hung ( Zingiber rufopilosum Gagn)
mặt đất. Thịt củ thơm hắc, vị cay đắng, màu vàng cam, có mùi nồng. Lá mọc so le
theo hai phía đối xứng trên thân, gần như không cuống. Lá dạng mác hẹp cỡ 19-30 x
2,5-5 cm, đầu lá rất nhọn, hai mặt không lông trừ gân giữa dưới có lông, mọc rất 7
thưa. Lá có mùi thơm nhẹ. Hoa có hình trụ, kích thước 10- 20 x 4-5 cm, mọc từ thân
rễ. Cụm hoa có nhiều lá bắc xếp lợp lên nhau, lá bắc có hình trứng, đầu nhọn, cỡ 3-4
x 2,5 cm. Khi còn non có màu xanh, già chuyển sang màu đỏ. Hoa mọc ở mỗi kẽ lá
bắc, đài hoa dạng ống, trắng ngà.
Gừng dại có nguồn gốc từ Thái Lan, Indonexia, Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ,
Malaysia,… Theo Đỗ Tất Lợi, cây mọc hoang dại ở vùng núi Ba Vì (Hà Tây) và
các tỉnh phía nam. Cây được trồng đại trà bằng thân rễ. Bộ phận dùng là rễ (củ)
tươi hoặc khô thái mỏng để làm thuốc. Thu hái vào đầu tháng 11-12, loại bỏ cây,
thân và lá [12].
1.2. Tình hình nghiên cứu một số loài cây thuộc chi gừng (Zingiber)
1.2.1. Zingiber zerumbet Sm
- Theo Đỗ Tất Lợi, tinh dầu của củ gừng gió có 13% các monoterpen và
nhiều sesquiterpen, trong đó humulen chiếm 27%, monocylic sesquiterpen xeton,
zerumbon 37,5%. Các monoterpen gồm pinen, camphen, limonen, cineol và
campho. Zerumbon, thành phần chính của tinh dầu gừng gió, ức chế sự phát triển
của Micrococcus Pyorgenes var, auereus và Mycobacterium tuberculosis [12].
- Theo nhà thực vật học Nguyễn Quốc Bình, tinh dầu gừng gió ở Tam Đảo
(Vĩnh Phúc,Việt Nam) thu được bằng phương pháp lôi cuốn hơi nước bao gồm các
chất sau: zerumbon (71,95%), tricylen (0,08%),
-pinen (0,82%), camphen
Thành phần hóa học của tinh dầu và dịch chiết thân rễ loài Zingiber rubens
Roxb chưa thấy công bố ở tài liệu nào ở nước ta. Tuy nhiên công trình nghiên cứu
của thế giới cho biết bộ phận thân rễ của Zingiber rubens Roxb được chiết lần lượt
bởi ba dung môi hexan, clorofom và methanol. Các dịch chiết được đem đi phân
tích bằng sắc kí cột với chất hấp phụ là … được dự đoán gồm 5 chất khác nhau.
Chúng là những este với mạch cacbon rất dài. Phần thứ hai có màu trắng, tinh thể
hình kim, nhiệt độ nóng chảy là 205 – 206,5
0
C là hỗn hợp của ba tritecpenoit có
công thức phân tử là C
30
H
50
O. Hai trong ba đồng phân của C
30
H
50
O được xác định
là: -amyrin and bauerenol (D:C-Friedours-7-en-3-ol(3.beta)).Phần chất rắn thứ ba
có màu trắng, hình lập phương, nhiệt độ nóng chảy 171-176
0
C, được xác định là
đường saccarozo [8, 10, 24].
1.2.3. Zingiber spectabile Griff
Tên khác: Gừng tổ ong, xampu.
Tinh dầu của hoa loài Zingiber spectabile Griff ở Braxin có chứa các thành
phần chính sau:
- phellandren (45,3%), α-pinene (13,4%) và
trong đó các cấu tử đã định danh chiếm hàm lượng lớn: α-pinen (3,59%), α-
phallendren (2,84%), myceren (4,58%), β-pinen (0,74%), γ-terpinen (2,49%), 1,8-
cineol (3,87%), citral (5,39%), zingiberen (30,81%) [11, 24]
Zingiber officinal Roscoe ở Trung Quốc chứa 12,25 % protein, 6,0 % chất xơ
và 7,78 % chất béo, ở Thái Lan chứa 6,67% protein, 15% chất xơ và 9,0% chất béo
[30].
Kết quả nghiên cứu của các tác giả Joy PP., Thomas J., Mathew S., và Skaria
công bố thành phần hóa học loài Zingiber officinal Roscoe ở Ấn Độ gồm: α-pinen
0.4%, camphen 1.1%, ß-pinen 0.2%, myrcen 0.1%, limonen 1.2%, 1,8-cineol
1.3%, ß-phellandren 1.3%, p-cymen 0.1%, metyl heptanon 0.1%, nonanal 0.1%,
decanal 0.2%, neral 0.8%, geranial 1.4%, 2 -nonanol 0.2%, linalool 1.3%, bornyl
acetat 0.1%, borneol 2.2%, geraniol 0.1%, α-selinen 1.4%, ß-elemen 1.0%, ß-
zingiberen 35.6%, ß-bisabolen 0.2%, arcurcum 17.0% and ß-farnesen 9.8%. Ngoài
ra trong gừng tươi có chứa 80% nước, 2,3% protein, 1% chất béo và 12,3%
cacbonhydrat [20].
Nhận xét chung: thành phần tinh dầu của nhiều loại gừng đã được nghiên
cứu tương đối kỹ trên thế giới, tuy nhiên việc nghiên cứu thành phần hoá học của
các dịch chiết từ củ gừng trên thế giới và tại Việt Nam thì hầu như rất ít. Chúng tôi
chọn củ gừng Ginger — Zingiber officinale Roscoe để làm đối tượng nghiên cứu 10
của đề tài. Đây là loài gừng phổ biến ở nước ta, có hoạt tính sinh học rất mạnh được
ứng dụng rộng rãi trong dân giang, trong y học nên được chúng tôi đặc biệt quan
tâm. Trên cơ sở các hợp chất đã được định danh và các hoạt tính sinh học đã được
công bố chúng tôi có những định hướng nghiên cứu tiếp theo để khai thác các đặc
tính của cây gừng và làm cơ sở định hướng cho việc nghiên cứu sau này.
CHƢƠNG 2
NGUYÊN LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Nguyên liệu, dụng cụ và hóa chất
2.1.1. Nguyên liệu
`Nguyên liệu thực vật là củ gừng dại được thu hoạch vào tháng 8/2011 huyện
Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Mẫu thực vật này được viện Bảo tàng thiên nhiên Việt
Nam giám định và xác định Tên khoa học: Zingiber officinale Roscoe, Amomum
angustifolium Salisb, Zingiber Linnaeus. Trong y học cổ truyền, Gừng còn được gọi
là sinh khương (thân rễ tươi), và can khương (thân rễ khô). [12, 16].
Hình 2.1. Cây Zingiber officinale Roscoe
Hình 2.2. Củ gừng - Bột gừng
12
2.1.2. Xử lí nguyên liệu
Nguyên liệu được thu nhận ở Điện Bàn, Quảng Nam vào cuối tháng mười.
Quan sát củ gừng mới thu nhận về, có những nhận xét tổng quát như sau: củ gừng
có màu nâu, những củ còn non thì trông tươi hơn, ít nhánh, mềm hơn, trong lõi phân
thành hai phần, lõi trung tâm có màu vàng đậm hơn so với vòng bên ngoài. Những
củ già thì có nhiều nhánh dài hơn, nhiều rễ, cứng hơn, ít tươi hơn, màu sậm hơn. Củ
gừng già có màu đậm hơn so với gừng non. Nguyên liệu thu nhận về còn chứa
nhiều tạp chất như: tạp chất rắn (đá, sỏi, đất ) và tạp chất hữu cơ (xơ, lá khô, thân
cây, rác ). Trong trường hợp này, đơn giản chỉ dùng nước để làm sạch. Đổ nguyên
0,25mm; lớp phim dày 0,25μm). Khí mang Heli (7 psi), thể tích tiêm 1μl, split 10:1,
nhiệt độ buồng tiêm mẫu: 280
o
C. Chương trình nhiệt độ lò: nhiệt độ đầu 80
o
C, giữ ở
0 phút, sau đó tăng lên 290
o
C với tốc độ gia nhiệt 10
o
C/phút, giữ ở nhiệt độ này
trong 20 phút. Điều kiện khối phổ : nguồn ion hoá (EI), năng lượng ion hoá (70eV),
nhiệt độ MS source (230
o
C), nhiệt độ MS Quad (150
o
C), nhiệt độ giao diện sắc ký
khí với detector khối phổ (280
o
C), chế độ quét Fullscan ( Thời gian trễ 0-3 phút;
thời gian quét: 3-50 phút, khoảng khối quét: 35-600amu).
- Các dụng cụ thủy tinh dùng trong quá tình thí nghiệm gồm có: bình tam
giác 100 mL, 250 mL, cốc thủy tinh loại 100 mL, loại 250 mL, pipet, đũa thủy tinh,
lọ đựng mẫu, giá thí nghiệm, bình đựng mức 10 mL, 10 mL, nhãn hóa chất.
2.1.3.2. Hóa chất
Các dung môi: n-hexan, ethyl acetate , methanol.
Hóa chất vô cơ: dung dịch H
2
SO
4
3
, H
2
O
2
.
Ưu điểm: - Không tốn dung môi
- Tốn ít thời gian hơn so với phương pháp ướt 14
Hạn chế: - Ở nhiệt độ cao nhiều chất bay hơi, ví dụ ở 500
0
C lượng Pb,
Cd bay hơi xấp xỉ 20% dẫn đến sai số kết quả lớn.
* Xử lý theo phƣơng pháp ƣớt
Cách này ít được dùng vì không thuận tiện, nó chỉ dùng khi không dùng
phương pháp xử lí khô được. Mẫu được đưa về dạng dung dịch bằng các dung môi
như: H
2
SO
4
đặc, hỗn hợp H
2
SO
4
+ HNO
động thực vật người ta dùng phương pháp tro hóa mẫu [15].
Trong đề tài này, tôi dùng phương pháp tro hóa mẫu bằng phương pháp khô
ướt kết hợp. Mẫu xử lí sơ bộ, có thể phân hủy các chất hữu cơ bằng H
2
SO
4
,
HNO
3
…hoặc thêm H
2
O
2
, KMnO
4
để làm tăng nhanh quá trình phân hủy. Sau đó 15
nung 500-550
0
C trong chén thạch anh hay platin, các chất hữu cơ bị đốt cháy, trong
tro còn lại các chất vô cơ khó bay hơi.
2.2.4. Xác định hàm lượng kim loại bằng phương pháp quang phổ hấp thụ
nguyên tử (AAS)
Nguyên tắc phép đo AAS [19, 20].
* Nguồn đơn sắc
Nguồn đơn sắc là nguồn phát ra chùm bức xạ đơn sắc của nguyên tố cần
phân tích, nguồn này sẽ chiếu vào đám hơi nguyên tử tự do và nó phải thỏa mãn các
điều kiện sau:
- Nguồn phát ra tia bức xạ đơn sắc tạo ra phải là các tia bức xạ nhạy của
nguyên tố cần phân tích. Chùm tia phát xạ phải có cường độ ổn định, lặp lại được
nhiều lần đo khác nhau trong cùng một điều kiện và phải điều chỉnh được để có
cường độ cần thiết cho mỗi phép đo
- Phải tạo ra được chùm tia phát xạ thuần khiết, chỉ bao gồm một số vạch
nhạy của nguyên tố cần phân tích, phổ nền của nó không đáng kể
- Phải có cường độ cao nhưng bền với thời gian.
* Hệ thống nguyên tử hóa mẫu phân tích
Bộ phận nguyên tử hóa mẫu chuyển mẫu cần phân tích từ trạng thái ban đầu
thành dạng hơi của nguyên tử tự do dưới tác dụng của nhiệt độ. Đám hơi của các
nguyên tử tự do này chính là môi trường hấp thụ bức xạ và sinh ra phổ hấp thụ
nguyên tử.
* Hệ quang và detecter
Hệ thống trang thiết bị để thu, phân li chọn lọc một số vạch thích hợp của
nguyên tố cần phân tích và ghi nhớ lại nó.
* Bộ phận xử lí kết quả
Máy quang phổ hấp thụ nguyên tử cho phép điều khiển hai chế độ. Một là
điều khiển trực tiếp bằng cách xử dụng bàn phím gắn trên máy tính. Hai là điều
khiển thông qua phần mềm được cài đặt trong máy vi tính kết nối với máy AAS.
Những ưu điểm và nhược điểm của phép đo AAS
* Ưu điểm
- Độ nhạy và độ chọn lọc cao. Gần 60 nguyên tố hóa học có thể xác định
bằng phương pháp này với độ nhạy từ 1.10
-4
đến 10
-5
thực vật.
2.4. Khảo sát thành phần hóa học bằng phƣơng pháp sắc ký khí ghép
khối phổ (GC-MS)
2.4.1. Phương pháp sắc ký khí (GC)
Sắc ký khí là một trong những phương pháp quan trọng nhất hiện nay để
tách, định lượng, xác định cấu trúc các chất, đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong
nghiên cứu các hợp chất hữu cơ [19, 20]. Pha động trong GC là chất khí nên chất 18
phân tích cũng phải được hóa hơi để đưa vào cột sắc ký, thường hóa hơi dưới
250
0
C. Pha tĩnh có thể là chất rắn được nhồi vào cột hay một màng film mỏng bám
lên trên bề mặt chất mang trơ, hoặc có thể tạo thành một màng mỏng bám lên mặt
trong của thành cột (cột mao quản).
Sắc ký khí được dùng để chia tách các hỗn hợp của hóa chất ra các phần
riêng lẻ, mỗi phần có một giá trị riêng biệt. Trong sắc ký khí (GC) chia tách xuất
hiện khi mẫu bơm vào pha động, pha động là một khí trơ. Pha động mang hỗn hợp
mẫu đi qua pha tĩnh, pha tĩnh được sử dụng là các hóa chất, hóa chất này có độ nhạy
và hấp thụ thành phần hỗn hợp trong mẫu.
Thành phần hỗn hợp trong pha động tương tác với pha tĩnh, mỗi hợp chất
trong hỗn hợp tương tác với một tỷ lệ khác nhau, hợp chất tương tác nhanh sẽ thoát
ra khỏi cột trước và hợp chất tương tác chậm sẽ ra khỏi cột sau. Đó là đặc trưng cơ
bản của pha động và pha tĩnh, hơn nữa quá trình chia tách có thể xảy ra bởi sự thay
đổi nhiệt độ của pha tĩnh hoặc là áp suất của pha động.
Trong khi các thiết bị chạy, máy sẽ đưa ra các biểu đồ, được gọi là sắc ký đồ.
nghiên cứu và phân tích kết hợp. Thiết bị GC/MS được cấu tạo thành 2 phần: phần
sắc ký khí (GC) dùng để phân tích hỗn hợp các chất và tìm ra chất cần phân tích,
phần khối phổ (MS) mô tả các hợp phần riêng lẻ bằng cách mô tả số khối. Bằng sự
kết hợp 2 kỹ thuật này, các nhà hoá học có thể đánh giá, phân tích định tính và định
lượng và có cách giải quyết đối với một số hóa chất. Ngày nay, người ta ứng dụng
kỹ thuật GC/MS rất nhiều và sử dụng rộng rãi trong các nghành như y học, môi
trường, nông sản, kiểm nghiệm thực phẩm…
Sắc ký khí ghép khối phổ (GC-MS)có thể phân tích các hỗn hợp hóa chất
phức tạp như không khí, nước…Nếu trong mẫu có một chất lạ xuất hiện, khối phổ
có thể nhận dạng cấu trúc hóa học độc nhất của nó (giống như việc lấy dấu vân tay).
Cấu trúc của chất này sau đó được so sánh với một thư viện cấu trúc các chất đã 20
biết. Nếu không tìm ra được chất tương ứng trong thư viện thì nhà nghiên cứu, có
thể dựa trên cấu trúc mới tìm được để phát triển các ý tưởng về cấu trúc hóa học.
Nói cách khác, nhà nghiên cứu thu được 1 dữ liệu mới và có thể đóng góp vào thư
viện cấu trúc nói trên, sau khi tiến hành thêm các biện pháp để xác định chính xác
loại hợp chất mới này.
Khi GC kết hợp với MS, nó sẽ trở thành 1 máy phân tích đa năng, các nhà
nghiên cứu hóa học có thể hòa tan hỗn hợp các hợp chất hữu cơ, tách chiết và bơm
vào máy để nhận dạng chúng, hơn nữa các nhà nghiên cứu cũng xác định nồng độ
của mỗi thành phần hóa chất.
2.5. Khảo sát thành phần hóa học bằng phƣơng pháp sắc ký lỏng – khối
phổ (LC-MS)
2.5.1. Phương pháp sắc ký lỏng
- Pha động ở trạng thái lỏng có thể là hợp chất hữu cơ hoặc là hỗn hợp hợp
nhanh sẽ cho thông tin xác định cấu trúc từ những lượng tách ra được như phương
pháp sắc ký lỏng.
Việc liên kết hai kĩ thuật đó đã tạo ra một công cụ mạnh mẽ để tách biệt và
nhận biết các hợp phần của các hỗn hợp tự nhiên và tổng hợp. Nhờ có sự liên kết
chặc chẽ này người ta có thể thu được phổ khối lượng đủ chấp nhận đối với tất cả
các hợp phần mà sắc ký lỏng tách được, kể cả những hợp phần với khối lượng chỉ
cỡ picrogam và có mặt trong vài giây.
Ở hệ thống LC-MS người ta phải áp dụng những kĩ thuật đặc biệt để loại
những dung môi phân cực dùng cho sắc ký lỏng trước khi chuyển sang máy phổ
khối lượng. toàn bộ quá trình vận hành và ghi kết quả đều được tự động điều khiển
bởi computer.
Hình 2.4. Sơ đồ thiết bị sắc ký lỏng ghép khối phổ
22
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Quy trình nghiên cứu
Đo phổ LC-MS
Ngâm trong dung
môi ethyl acetate
Đo phổ GC-MS
Dịch chiết
n-hexane
Cặn còn lại
Ngâm trong
dung môi
n-hexane
Xác định
hàm lượng kim loại
Thu nguyên liệu
Nguyên liệu
đã xử lí 23
- Lấy 30g bột củ gừng khô ngâm kiệt bằng dung môi n- hexane ở nhiệt độ
phòng từ 04/1/2012 đến 06/01/2012. Sau đó, đem đi lọc để thu được dịch chiết với
n-hexane, tiếp tục ngâm kiệt bã rắn với dung môi n-hexane thêm 2 lần và lọc để thu
dịch chiết.
- Bã rắn tiếp tục ngâm kiệt với dung môi ethyl acetate ở nhiệt độ phòng từ
ngày 12/1/2012 đến ngày 14/01/2012. Sau đó, đem đi lọc để thu được dịch chiết với
ethyl acetate. Tiếp tục ngâm kiệt bã rắn với dung môi ethyl acetate thêm 2 lần và lọc
để thu dịch chiết ethyl acetate. Tương tự, bã rắn tiếp tục được ngâm kiệt 3 lần với
dung môi methanol và lọc, thu dịch chiết với methanol.
Độ ẩm W(%) được xác định theo công thức:
W % =
100.
01
21
mm
mm
Trong đó :
m
o
: Khối lượng cốc sứ (g ).
m
1
: Khối lượng mẫu và cốc trước khi sấy (g ).
m
2
: Khối lượng mẫu và cốc sau khi sấy (g).
W(%) : Độ ẩm của mỗi mẫu.
W
TB
(%) : Độ ẩm trung bình.
Kết quả khảo sát độ ẩm gừng tươi trình bày trên bảng 3.1
Bảng 3.1. Kết quả khảo sát độ ẩm của củ gừng
Nhận xét: Hàm lượng nước trong củ gừng dại chiếm tỉ lệ cao, độ ẩm lên đến
71,323%. Tuy nhiên giá trị này có thể khác nhau tùy thuộc vào mùa thu hái, điều
kiện trồng và cách chăm sóc cây. Vì vậy, giá trị độ ẩm chỉ mang tính chất tương
đối.
3.2.2. Xác định hàm lượng tro trong củ gừng
Tro toàn phần: Là khối lượng cặn còn lại sau khi nung cháy hoàn toàn một
mẫu thử trong điều kiện nhất định.
Dụng cụ: cốc sứ, bình hút ẩm, cân phân tích, lò nung.
Tiến hành:
- Các mẫu sau khi được xác định độ ẩm tiếp tục được đem đi tro hóa. Đem
mẫu đi than hóa trên bếp điện và cho vào tủ nung ở 200
0
C trong khoảng 2h, tiếp tục 25
nâng nhiệt độ lên 450
0
C tro hóa mẫu trong thời gian 8h cho đến khi toàn bộ biến
thành tro màu trắng xám.
Hàm lượng được tính bằng công thức:
% tro =
100.
01
03
mm
1
(g)
m
2
(g)
m
3
(g)
% tro
% tro
TB
1
30,208
35,278
31,695
30,418
4,142
4,199
2
30,120
35,182
31,579
30,329
4,129
3
30,097
35,323
31,554