1
Câu 1: Trong bài diễn văn khai mạc lớp học lý luận khóa I trường Nguyễn
Ái Quốc ngày 7/9/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Thống nhất giữa lý luận và
thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn không
có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng, lý luận mà không liên hệ với
thực tiễn là lý luận suông”. Đồng chí hãy giải thích luận điểm trên và nói rõ ý
nghĩa của vấn đề này trong đấu tranh, khắc phục bệnh kinh nghiệm và giáo điều ở
cán bộ hiện nay?
Trả lời: Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã để lại nhiều di sản lý luận quý báu, có ý nghĩa to lớn trong giáo dục, rèn luyện cán
bộ, đảng viên cũng như công tác xây dựng Đảng đồng thời góp phần bổ sung, phát triển
sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lê nin. Một trong những luận điểm quan trọng của Bác, có ý
nghĩa giáo dục to lớn đối với cán bộ đảng viên của Đảng đó là: “Thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn
không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng, lý luận mà không liên hệ với
thực tiễn là lý luận suông”.
Luận điểm trên của Bác trước hết khẳng định quan điểm của chủ ngĩa Mác về
thực tiễn và vai trò của nó đối với hoạt động nhận thức.
Mác là người đầu tiên nêu rõ vai trò quyết định của thực tiễn đối với nhận thức.
Đưa phạm trù thực tiễn vào lý luận nhận thức là một bước chuyển biến cách mạng
trong lý luận về nhận thức nói riêng và trong triết học nói chung. Đồng thời khắc phục
sự hạn chế của các trào lưu triết học trước đây, kể cả triết học của Phoiơbắc, xem xét
nhận thức tách rời hoạt động thực tiễn của con người. Khuyết điểm chủ yếu của chủ
nghĩa duy vật trước Mác là thiếu quan điểm thực tiễn, vì thế nó mang tính chất trực
quan. Chủ nghĩa duy tâm đã đề cập đến vai trò tích cực sáng tạo của con người, nhưng
lại chỉ giới hạn tính tích cực sáng tạo đó trong lĩnh vực tinh thần. Chủ nghĩa duy tâm đã
tuyệt đối hóa yếu tố tinh thần, chỉ hiểu thực tiễn như là hoạt động tinh thần, và như vậy,
thực chất là đã gạt bỏ vai trò của thực tiễn.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, thực tiễn là những hoạt động vật
chất cảm tính có mục đích mang tính lịch sử - xã hội của con người, nhằm cải tạo tự
nhiên và xã hội. Thực tiễn biểu hiện dưới nhiều hình thức. Hình thức đầu tiên của hoạt
mọi tri thức của con người đều nảy sinh từ hoạt động thực tiễn. Không có thực tiễn thì
con người sẽ không có nhận thức, không có hiểu biết. Không có những kinh nghiệm
thực tiễn thì không có tri thức lý luận. Hơn nữa, chính trong quá trình hoạt động thực
tiễn là cơ sở phát huy tính tích cực sáng tạo của con người, là cơ sở của sự phát triển trí
tuệ con người. Thực tiễn không ngừng biến đổi và phát triển, luôn đặt ra những vấn đề
mới đòi hỏi nhận thức phải trả lời, đặt ra những nhiệm vụ và phương hướng phát triển
cho nhận thức, đòi hỏi những tri thức mới, những khái quát mới để lý giải những vấn đề
nảy sinh … Đó chính là động lực thúc đẩy nhận thức phát triển. Trong lịch sử, các môn
khoa học nối tiếp nhau ra đời và phát triển trên cơ sở quá trình hoạt động thực tiễn của
loài người, nhằm đáp ứng những nhu cầu do sự phát triển của thực tiễn đề ra.
Thực tiến có vai trò to lớn đối với hoạt động nhận thức của con người, là cơ sở,
động lực của nhận thức.
3
Hoạt động thực tiễn của con người ngay từ đầu đã bị quy định bởi những nhu cầu
thực tiễn. Muốn sống, muốn tồn tại, con người phải sản xuất, cải tạo tự nhiên và xã hội.
Chính nhu cầu sản xuất vật chất, cải tạo xã hội buộc con người phải tìm hiểu, khám
phá, nhận thức thế giới xung quanh. Bằng hoạt động thực tiễn, con người tác động vào
thế giới khách quan, làm cho thế giới khách quan phải bộc lộ những thuộc tính, những
tính chất, những quy luật để con người nhận thức. Chính thực tiễn đã cung cấp cho
nhận thức của con người những hiểu biết về thế giới. Như vậy, mọi tri thức của con
người, xét đến cùng đều bắt nguồn từ thực tiễn.
Thực tiễn còn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển của nhận
thức, vì thế nó luôn thúc đẩy sự ra đời của các ngành khoa học mới. Thực tiễn có tác
dụng rèn luyện các giác quan của con người, làm cho chúng phát triển tinh tế hơn, hoàn
thiện hơn. Trên cơ sở đó giúp nhận thức của con người đạt hiệu quả hơn. Hoạt động
thực tiễn còn là cơ sở để chế tạo ra các công cụ, phương tiện, máy móc mới hỗ trợ con
người trong quá trình nhận thức. Chính nhu cầu chế tạo và cải tiến công cụ sản xuất
cũng như công cụ, máy móc hỗ trợ con người nhận thức đã thúc đẩy nhận thức, tư duy
phát triển.
Thực tiễn là mục đích của nhận thức. Nhận thức của con người là nhằm phục vụ
3
. Vì vậy, xem xét thực tiễn trong không gian càng rộng, trong thời gian càng dài,
trong chỉnh thể thì càng rõ, đâu là chân lý, đâu là sai lầm. Cũng vì vậy, những tri thức
đã đạt được trước kia và đã được thực tiễn kiểm nghiệm vẫn phải thường xuyên được
kiểm tra bởi thực tiễn mới để được bổ sung, hoàn thiện hơn. Cho nên, chủ nghĩa Mác -
Lênin yêu cầu: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn phải là quan điểm thứ nhất và cơ
bản cảu lý luận về nhận thức”
4
.
Thực tiễn có vai trò to lớn, song không vì thế mà xem nhẹ vai trò của lý luận
khoa học.
Lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ những kinh nghiệm thực
tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, tính quy luật của các sự vật, hiện tượng
trong thế giới khách quan.
Kinh nghiệm và lý luận đều là những tri thức, những hiểu biết của con người về
sự vật, hiện tượng nhưng ở những trình độ khác nhau. Kinh nghiệm được nảy sinh trực
tiếp từ cuộc sống và thực tiễn. Nó không chỉ là kết quả của hoạt động trực quan cảm
tính, mà còn có sự tham gia của yếu tố lý tính. Kinh nghiệm do đó đã mang tính trừu
tượng và khái quát, song mới là bước đầu và còn hạn chế. Nó chỉ mới đem lại sự hiểu
biết về các mặt riêng lẻ, về các mối liên hệ bên ngoài của sự vật, hiện tượng.
Còn lý luận là những tri thức được khái quát từ những kinh nghiệm thực tiễn, “là
sự tổng kết kinh nghiệm của loài người” (Hồ Chí Minh) thông qua sự trừu tượng hóa và
khái quát hóa của tư duy. Bằng sức mạnh của sự trừu tượng hóa và khái quát hóa, lý
luận đem lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, tính tất nhiên, tính quy luật của sự vật,
hiện tượng.
Kinh nghiệm và lý luận đều có vai trò to lớn đối với thực tiễn. Kinh nghiệm do
sự hạn chế của nó nên phạm vi vận dụng (cả thời gian, cả không gian) hẹp hơn, đồng
thời hiệu quả thường không cao. Còn lý luận thể hiện tính chân lý sâu sắc hơn, chính
xác hơn, hệ thống hơn, nghĩa là có tính bản chất sâu sắc hơn, do đó phạm vi vận dụng
rộng hơn và có hiệu quả cao hơn.
Do đó, để đáp ứng nhu cầu thực tiễn của đất nước phải đẩy mạnh công tác
nghiên cứu lý luận, đồng thời phải tăng cường công tác giáo dục lý luận trên cơ sở đổi
mới nội dung, chương trình đào tạo, đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập lý luận.
Vấn đề nghiên cứu này còn có ý nghĩa to lớn trong đấu tranh, khắc phục bệnh
kinh nghiệm và bệnh giáo điều ở một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay.
Tri thức kinh nghiệm là những tri thức được chủ thể thu nhận trực tiếp trong quá
trình hoạt động thực tiễn. Tri thức kinh nghiệm hết sức quan trọng trong quá trình nhận
thức và cải tạo thế giới. Nó giúp cho con người kịp thời điều chỉnh hoạt động của mình,
6
giúp cho con người có được những quyết định nhanh chóng và đáng tin cậy trong một
phạm vi nhất định, trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định.
Tuy nhiên, nhìn chung những tri thức kinh nghiệm thường chỉ mới là sự khái
quát ban đầu và trong một phạm vi hẹp, thường chỉ mới là sự phản ánh sự vật trong
những hoàn cảnh cụ thể, cục bộ riêng biệt, và trong nhiều trường hợp, tri thức kinh
nghiệm chỉ mới phản ánh được cái bề ngoài, cái ngẫu nhiên. Chính vì vậy, tri thức kinh
nghiệm chưa đi sâu vào bản chất và quy luật của sự vật, chưa tạo thành một hệ thống tri
thức chặt chẽ. Và cũng vì vậy, phạm vi áp dụng cũng như tính hướng dẫn, chỉ đạo của
tri thức kinh nghiệm thường bị hạn chế trong một phạm vi hẹp.
Ở trình độ tri thức lý luận, tư duy đã vượt ra ngoài giới hạn của những tri thức
kinh nghiệm. Lý luận là sự tổng kết, là sự khái quát những kinh nghiệm thực tiễn bằng
hệ thống những khái niệm, phạm trù, những nguyên lý và quy luật phản ánh sự vận
động và phát triển cuiar sự vật mà ta nghiên cứu.
Tri thức lý luận có tính trừu tượng và khái quát cao; nó đem lại sự hiểu biết sâu
sắc về bản chất và quy luật của sự vật; nó có tính hệ thống chặt chẽ. Chính vì vậy,
phạm vi áp dụng cũng như tính hướng dẫn, chỉ đạo của tri thức lý luận có một phạm vi
rộng lớn hơn rất nhiều so với tri thức kinh nghiệm. Chỉ có những tri thức lý luận mới
làm cho hoạt động của con người trở nên chủ động, tránh được tình trạng mò mẫm, tự
phát.
Tuy tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận có một số đặc điểm khác nhau,
nhưng giữa chúng lại có mối quan hệ chặt chẽ. Nói đến mối quan hệ giữa trình độ kinh
cần phải biết tổng kết, rút kinh nghiệm, bổ sung phát triển lý luận. Khăc phục bệnh coi
khinh lý luận, xem thường lý luận, tuyệt đối hóa kinh nghiệm đều dẫn đến sai lầm,
không đem lại hiệu quả trong hoạt động thực tiễn ở đơn vị.
Câu 2: Nêu quan điểm triết học của Lê Nin về vật chât, ý thức ? quan hệ
biện chứng giữa vật chất và ý thức là cơ sở lý luận ?
Trả lời: Vật chất và YT là phạm trù cơ bản của triết học, làm sáng tỏ mối quan
hệ VC và YT chính là góp phần làm sáng tỏ vấn đề cơ bản của triết học, là chìa khoa để
đi nghiên cứu các vấn đề khác của triết học đồng thời là cơ sở phương pháp luận trong
nhận thức và cải tạo thực tiễn.
Trong lịch sử, khi đề cập đến mối quan hệ giữa VC và YT, cái nào có trước, cái
nào có sau, cái nào quyết định cái nào… đã có không ít ý kiến khác nhau, thậm chí đối
lập nhau. Chỉ đến khi CNDV Mác xít ra đời, mối quan hệ này mới được làm sáng tỏ.
Theo quan điểm DVBC, "Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách
quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép
lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác".
Còn, "Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới quan". Theo C.Mác, ý thức
"chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải
biến đi trong đó" .
8
Ý thức của con người là sự phản ánh trong bộ não con người một cách tích cực
chủ động và sáng tạo đối với thế giới khách quan để có hình ảnh của các sự vật hiện
tượng giúp con người có tri thức, sự hiểu biết và tình cảm đối với thế giới trên cơ sở
của hoạt động thực tiễn (lao động đấu tranh ).
Trong mối quan hệ giữa VC và YT thì vật chất có trước, ý thức có sau. Vật chất
sinh ra ý thức, ý thức là chức năng của óc người - dạng vật chất có tổ chức cao nhất của
thế giới vật chất. Không thể có ý thức trước khi có con người hay ý thức nằm ngoài con
người, độc lập với con người. Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất vào óc con người.
Thế giới vật chất là nguồn gốc khách quan của ý thức.
Theo đó, tồn tại vật chất trong hoạt động thực tiễn trong xã hội của loài người
(sản xuất, đấu tranh ) quyết định đến nội dung hoạt động tư duy của loài người cũng
Để cải tạo tự nhiên xã hội đòi hỏi con người phải có tri thức, nhận thức đúng và
nếu đề ra chủ trương chính sách hợp lý phù hợp quy luật thì sẽ thúc đẩy hoạt động thực
tiễn đi nhanh hơn, đời sống phát triển. Ngược lại trong một giai đoạn nào đó nếu chúng
ta đề ra những chủ trương chính sách xa thực tế hay làm trái quy luật thfi sẽ làm kinh tế
xã hội sa sút cản trở sự phát triển và tiến bộ xã hội.
Biểu hiện của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong đời sống xã hội là quan
hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, trong đó tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội
và ý thức xã hội có tính độc lập tương đối tác động trở lại tồn tại xã hội. Ngoài ra, mối
quan hệ giữa vật chất và ý thức còn là cơ sở để xem xét các mối quan hệ khác nhau:
chủ thể và khách thể, lý luận và thực tiễn, điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan
v.v
Nghiên cứu, làm sáng tỏ quan điểm của Lê nin về mối quan hệ VC và YT có ý
nghĩa to lớn cả về lý luận và thực tiễn. Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định trong
mối quan hệ giữa vật chất và ý thức thì: Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là
nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức, song ý thức có thể tác động trở lại vật chất
thông qua hoạt động thực tiễn của con người; vì vậy, con người phải tôn trọng khách
quan, đồng thời phát huy tính năng động chủ quan của mình.
Vật chất quyết định ý thức, ý thức là sự phản ánh vật chất, cho nên trong nhận
thức phải bảo đảm nguyên tắc “tính khách quan của sự xem xét” và trong hoạt động
thực tiễn phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo các quy luật
khách quan, biết tạo điều kiện và phương tiện vật chất tổ chức lực lượng thực hiện biến
khả năng thành hiện thực. Tôn trọng khách quan là tôn trọng tính khách quan của vật
chất, của các quy luật tự nhiên và xã hội. Điều này đòi hỏi trong hoạt động nhận thức
và hoạt động thực tiễn con người phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy thực tế
khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình. V.I. Lênin dã nhiều lần nhấn
mạnh không được lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách, không được lấy tình
cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược và sách lược cách mạng. Nếu chỉ xuất phát từ ý
muốn chủ quan, nếu lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực thì sẽ
10
mắc phải bệnh chủ quan duy ý chí. (Nguyên nhân: ảnh hưởng của tâm lý sản xuất nhỏ;
ra phương hướng hoạt động phù hợp. Tiếp theo, con người với ý thức của mình xác
định các biện pháp để thực hiện tổ chức các hoạt động thực tiễn.
Cần phải chống lại bệnh chủ quan duy ý chí cũng như thái độ thụ động, chờ đợi
vào điều kiện vật chất, hoàn cảnh khách quan Bằng sự nỗ lực và ý chí mạnh mẽ của
11
mình, con người có thể thực hiện được mục tiêu đề ra. Ở đây ý thức, tư tưởng có thể
quyết định làm cho con người hoạt động đúng và thành công khi phản ánh đúng đắn,
sâu sắc thế giới khách quan, vì đó là cơ sở quan trọng cho việc xác định mục tiêu,
phương hướng và biện pháp chính xác. Ngược lại, ý thức, tư tưởng có thể làm cho con
người hoạt động sai và thất bại khi con người phản ánh sai thế giới khách quan. Vì vậy,
phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, cần phải phát huy tính năng động
sáng tạo của ý thức, cần phải khái quát, tổng kết hoạt động thực tiễn để thường xuyên
nâng cao năng lực nhận thức, năng lực chỉ đạo thực tiễn, phát huy vai trò nhân tố con
người để tác động cải tạo thế giới khách quan; đồng thời phải khắc phục bệnh bảo thủ
trì trệ, thái độ tiêu cực, thụ động, ngồi chờ, ỷ lại vào hoàn cảnh, vào điều kiện vật chất
trong quá trình đổi mới hiện nay.