Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Công ty xây dựng số 12 -VINACONEX - Pdf 14

Luận văn tốt nghiệp
Lời nói đầu
Trong bất kỳ hoạt động sản suất kinh doanh nào cũng đòi hỏi phải có
hoạt động quản lý, trong đó hạch toán kế toán là một trong những công cụ
hạch toán hữu hiệu nhất không thể thiếu trong hệ thống quản lý kinh tế, tài
chính của các đơn vị cũng như trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Nguyên tắc cơ bản của hạch toán kinh tế là sự tự trang trải chi phí và
cách thu lợi nhuận.Vấn đề đặt ra là làm thế nào để xã hội được định mức chi
phí mà đơn vị cần tự trang trải và làm thế nào để xác định được kết quả kinh
doanh. Điều này chỉ có thể thực hiện được thông qua hạch toán chính xác quá
trình sản xuất kinh doanh tính đúng tính đủ giá thành suất và tính giá thành
sản phẩm. Hoạt động này rất quan trọng đối với tất cả đơn vị sản xuất ra sản
phẩm (Vì vậy, vấn đề hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản kinh doanh là
một vấn đề hết sức quan trọng cho bất kỳ đơn vị sản xuất kinh doanh nào
muốn tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường, trong đó có các đơn vị xây
dựng cơ bản.
Thông qua công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm,
những thông tin và nhận định chính xác sẽ giúp các nhà quản lý, lãnh đạo
Doanh nghiệp phân tích đánh giá được tình hình, thực hiện các định mức chi
phí và dự toán chi phí, tình hình sử dụng tài khoản, vật tư, máy móc thiết bị,
lao động tiền vốn …là tiết kiệm hay lãng phí, có hiệu quả hay không.Từ đó,
đề ra các biện pháp hữu hiệu nhằm hạ thấp chi phí sản suất là cơ sở hạ giá
thành sản phẩm và đưa ra các quyết định quản lý thích hợp cho sự phát triển
sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản trị của các Doanh nghiệp. Chính vì vậy,
việc tổ cức công tác kế toán chi phí sản suất và tính giá thành sản phẩm là yêu
cầu thiết yếu và luôn là vấn đề mang tính thời sự được các Doanh nghiệp
quan tâm chú ý. Công ty xây dựng số 12 là Doanh nghiệp thuộc lĩnh vực xây
dựng, khối lượng sản phẩm xây lắp lớn, đa dạng về chủng loại, hình thức.Vì
1
Luận văn tốt nghiệp
vậy cũng như các doanh nghiệp sản suất khác việc tổ chức công tác kế toán

sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây dựng
Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất độc lập có chức năng tái sản
xuất tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân. Nó tạo nên cơ sở vất chất cho
xã hội, tăng tiềm lực kinh tế và quốc phòng cho đất nước. Vì vậy một bộ phận
lớn của thu nhập kinh tế quốc dân nói chung và tích luỹ nói riêng cùng với
vốn đầu tư tài trợ của nước ngoài được sử dụng trong linh vực xây dựng cơ
bản.
Xây dựng là một ngành sản suất độc lập có đặc thù về mặt kinh tế, tổ
chức quản lý và kỹ thuật chi phối trực tiếp đến việc tổ chức công tác kế toán
nói chung và tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành nói riêng. Các
doanh ngiệp xây dựng cũng có những đặc điểm khác biệt, chính sự khác biệt
này đã có những ảnh hưởng, chi phối nhất định đến việc tổ chức chi chi phí
sản suất và tính giá thành chi phí sản phẩm. Sự chi phối này được thể hiện
như sau:
- Sản suất xây lắp là một loại sản phẩm công nghiệp đặc biệt theo đơn
đặt hàng, sản phẩm xây lắp mang tính chất đơn chiếc riêng lẻ.Mỗi đối tượng
xây lắp đồi hỏi yêu cầu kỹ thuật, kết cấu hình thức ,địa điểm xây dựng thích
hợp cụ thể trên từng thiết kế dự toán của từng đối tượng riêng biệt. Vì vậy,
khi thi công xây lắp các tổ chức phải luôn thay đổi phương thức tổ chức thi
công, biện pháp thi công sao cho phù hợp với đặc điểm của từng loại sản
phẩm xây lắp, đảm bảo cho việc thi công mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất
và sản xuất được liên tục. Mặt khác, do tính chất đơn chiếc riêng lẻ nên chi
3
Luận văn tốt nghiệp
phí bỏ ra để thi công xây dựng các công trình có nội dung và cơ cấu không
đồng nhất như các loại sản phẩm công nghiệp.
- Từ đặc điểm trên, kế toán phải tính đến việc hạch toán chi phí tính giá
thành và tính kết quả thi công cho từng loaị sản phẩm xây lắp riêng biệt từng
công trình, hạng mục công trình hoặc từng nhóm sản phẩm xây lắp nếu chúng
được xây dựng cùng một nhóm thiết kế mẫu và trên cùng một địa điểm nhất

Như vậy, có thể thấy rằng chi phí sản xuất của một Doanh nghiệp xây
dựng là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động
vật hoá, các chi phí khác mà Doanh nghiệp đã chia ra để tiến hành các hoạt
động sản xuất trong một thời kỳ. Các chi phí này phát sinh thường xuyên và
gắn liền với quá trình sản xuất, thi công xây lắp.
II. Lý luận chung về chi phí sản xuất và giá thành sản xuất trong doanh
nghiệp xây dựng.
1. Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây dựng.
Hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu của một Doanh nghiệp sản suất
là thực hiện ra những loại sản phẩm nhất định và tiêu thụ những loại sản
phẩm đó trên thị trường nhằm thu lợi nhuận. Để đạt được mục tiêu kinh
doanh trong hoạt động, các doanh nghiệp phải bỏ ra chi phí nhất định.
Trong quá trình sản xuất thi công xây lắp Doanh nghiệp thường xuyên
bỏ ra những chi phí về các loại đối tượng lao động tư liệu lao động và sức lao
động của con người. Đâu là các yếu tố cơ bản để tiến hành các hoạt động sản
suất song sự tham gia của mỗi yếu tố này là khác nhau dẫn đến sự hình thành
những chi phí tương ứng như: Chi phí về khấu hao tài sản cố định, chi phí về
nguyên vật liệu (gọi là chi phí về lao động vật hoá ), chi phí về tiền lương trả
cho người lao động (gọi là hao phí về lao động sống ), chi phí dịch vụ mua
ngoài và các chi phí bằng tiền khác …Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá,
cơ chế này giúp chúng ta có thể biết được số chi phí mà Doanh nghiệp đã chi
trong thời kỳ là bao nhiêu nhằm tính toán các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phục
vụ yêu cầu quản lý.
5
Luận văn tốt nghiệp
2. Các loại chi phí trong doanh nghiệp xây dựng:
Cũng giống như các ngành sản xuất khác, cấu thành của giá thành sản
phẩm xây lắp cũng được quy định bao gồm 3 khoản mục chi phí: Chi phí
NVL trực tíêp, Chi phí nhân công trực tiếp; Chi phí sản suất chung, ngoài ra
trong ngành xây dựng còn có một số loại chi phí đó là chi phí sử dụng máy thi

lấp đất đá, nhào trộn vôi vữa, bê tông. Chi phí máy thi công chiếm một tỷ
trọng không nhỏ trong giá thành sản phẩm xây lắp, do vậy cần phải tổ chức
theo dõi riêng và có phương pháp phân bổ hợp lý cho các đối tượng sử dụng.
Chi phí sử dụng máy thi công chiếm một tỷ trọng không nhỏ trong giá
thành xản phẩm xây lắp, do vậy cần phải tổ chức theo dõi riêng và có phương
pháp phân bổ hợp lý cho các đối tượng sử dụng.
Chi phí sử dụng máy thi công là toàn bộ các chi phí vật liệu, nhân công,
các chi phí trực tiếp dùng cho quá trình sử dụng máy phục vụ cho các công
trình xây lắp. Đặc điểm của xây dựng cơ bản là máy thi công luôn gắn liền
với địa điểm xây dựng mà địa điểm xây dựng lại không cố định. Do vậy máy
thi công phải di chuyển theo các địa điểm thi công theo từng thời kỳ. Người ta
chia chi phí sử dụng máy thi công ra làm 2 loại:
+ Chi phí thường xuyên: Chi phí thường xuyên là những chi phí hàng
ngày cần thiết cho việc sử dụng máy thi công. Các chi phí này khi phát sinh
được tính hết một lần vào chi phí sử dụng máy như: Chi phí nhiên liệu dùng
cho máy thi công: Tiền lương, phụ cấp lưu động của công nhân điều khiển
máy, kể cả công nhân phục vụ máy, khấu hao máy thi công, chi phí máy thi
công (đi thuê nếu có ) chi phí sửa chữa thường xuyên máy thi công và các chi
phí khác.
+ Chi phí tạm thời : Chi phí tạm thời là chi phí phát sinh 1 lần tương đối
lớn không định mức hay tính trước được. Các chi phí này khi phát sinh không
tính hết một lần vào chi phí sử dụng máy mà được phân bổ theo thời gian sử
dụng ở công trường như: Chi phí tháo lắp, chạy thử sau khi lắp để sử dụng kể
cả lần lắp sau khi giao trả đặt để máy, chi phí vận chuyển máy thi công đến
7
Luận văn tốt nghiệp
địa điểm xây dựng, chi phí đưa xe, máy về nơi đặt để máy, chi phí di chuyển
máy trong phạm vi công trường …
* Chi phí sản suất chung :
Chi phí sản suất chung là những chi phí phục vụ sản xuất xây lắp ,

vốn trong quá trình sản xuất cũng như các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà
Doanh nghiệp đã thực hiện nhằm đạt được mục đích sản xuất. Đó là có được
khối lượng sản phẩm nhiều nhất với chi phí sản xuất tích kiệm và giá thành
hạ. Đó cũng là một đồi hỏi khách quan khi các Doanh nghiệp thực hiện chế
độ hạch toán kinh tế.
Giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ chi phí sản suất (bao gồm: Chi phí
NVL trực tiếp, Chi phí nhân cônh trực tiếp, Chi phí sử dụng máy thi công
,Chi phí sản xuất chung) tính cho từng công trình, hạng mục công trình khối
lượng xây lắp hoàn thành đến giai đoạn quy ước đã hoàn thành nghiệm thu
bàn giao được chấp nhận thanh toán.
Khác với doanh nghiệp công nghiệp ở Doanh nghiệp xây dựng giá thành
sản phẩm xây lắp có tính chất khác biệt: Mỗi công trình, hạng mục công trình,
hay khối lượng xây lắp sau khi đã hoàn thành đều có giá trị riêng.
4. Các loại giá thành sản phẩm trong Doanh nghiệp xây dựng :
* Giá thành dự toán công tác xây lắp :
Do sản phẩm xây dựng có giá trị lớn, thời gian thi công dài và mang tính
chất đơn chiếc, có kết cấu phức tạp, khối lượng lớn nên công trình và hạng
mục công trình đều có giá trị dự toán riêng phụ thuộc rất lớn vào địa điểm xây
dựng(giá cả vật liệu) cho công trình ở từng địa phương làm ảnh hưởng đến
giá trị của từng dự toán công trình.
Căn cứ vào giá trị dự toán của từng công trình ta có thể xác định được
giá trị dự toán của chúng
Giá thành dự toán của = Giá trị dự toán của công trình + Lãi
9
Luận văn tốt nghiệp
từng công trình
hạng mục công trình
hạng mục công trình định mức
*Giá thành kế hoạch công tác xây lắp :
Giá thành kế hoạch được xây dựng dựa trên những định mức tiên tiến

Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm được coi là khâu
trung tâm của công tác kế toán. ở đây vai trò của người kế toán trong công
việc quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành là rất quan trọng. Việc xác định
đúng đối tượng kế toán tập chi phí sản suất và phương pháp tính giá thành sản
phẩm thích hợp hay tổ chức tập hợp và phân bổ từng loại chi phí sản xuất đã
xác định ... đã góp phần quyết định trong việc xác định chi phí và tính giá
thành sản phẩm.
Các sản phẩm của ngành xây dựng có giá trị lớn, thời gian thi công dài,
nguyên vật liệu dùng cho thi công rất đa dạng và nhiều chủng loại khác nhau
nên việc đánh giá phân bổ chi phí cho cá đôid tượng là rất phức tạp đòi hỏi
người kế toán phải có một nhận thức đúng đắn và một sự hiểu biết sâu trong
công tác xây dựng thì mới có thể hoàn thành công việc một cách tốt nhất.
Việc tập hợp đúng các chi phí sản suất và đánh giá chính xác giá thành
của sản phẩm giúp cho lãnh đạo cơ quan có một cách nhìn chính xác về giá trị
thực của công trình, từ đó có thể xác định được khấu hao nào, những khoản
mục nào của chi phí quá cao hay quá thấp có ảnh hưởng tới công trình. Ngoài
ra, việc tập hợp và tính giá thành sản phẩm công trình chính xác giúp cho việc
xác định công trình thi công thực lãi hay thực lỗ để có thể rút ra những kinh
nghiệm cho các công trình tiếp theo .
(Sơ đồ mối quan hệ giữa CPSX & Giá thành SP)
A: Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ B: Chi phí phát sinh trong kỳ
D:Tổng giá thành sản phẩm C: CPSX dở dang cuối kỳ
Qua sơ đồ ta thấy : AC = AB + BD - CD hay
Tổng giá thành
sản phẩm
=
CPSX
dở dang đầu kỳ
+
CPSX

quản lý trỉnh độ hạch toán của các Doanh nghiệp.
Do đặc điểm của ngành xây dựng cơ bản là sản phẩm đơn chiếc, thời
gian thi công dài mỗi một công trình hạng mục công trình có dự toán riêng và
có đặc điểm riêng biệt ... Vì vậy đối tượng tập hợp (hạch toán)chi phí trong
Doanh nghiệp xây dựng là các hạng mục công trình cùng loại, theo đơn đặt
hàng, đơn vị thi công riêng, theo công trình. Tập hợp chi phí sản xuất theo
đúng đối tượng đã quy định hợp lý có tác dụng phục vụ tốt cho việc tăng
12
Luận văn tốt nghiệp
cường quản lý chi phí sản xuất và phục vụ cho công tác tính giá thành sản
phẩm được kịp thời và đúng đắn.
1.3. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất :
Phương pháp hạch toán chi phí sản suất được sử dụng để tập hợp và
phân bổ chi phí trong thời hạn tập hợp chi phí đã định.
Trong XDCB, kế toán thường sử dụng hai phương pháp chủ yếu để tập
hợp và phân bổ chi phí sản xuất cho các đối tượng tính giá thành có liên quan
đó là: Phương pháp phân bổ trực tiếp và phương pháp phân bổ gián tiếp.
*Phương pháp phân bổ trực tiếp : Phương pháp này đòi hỏi ngay từ khâu
hạch toán ban đầu,các chứng từ kế toán đã phản ánh ghi chép riêng rẽ chi phí
sản xuất cho từng đối tượng tính giá thành liên quan . Phương pháp trực tiếp
áp dụng cho những chi phí sản suất cơ bản hoặc cho những Doanh nghiệp chỉ
có một đối tượng tính giá thành là công trình hoặc hạng mục công trình .
*Phương pháp phân bổ gián tiếp chi phí sản xuất :Phương pháp này được
áp dụng trong trường hợp chi phí sản xuất liên quan đến nhiều đối tượng chi
phí khác nhau. Để phân bổ chi phí, nhiều đối tượng cần xác định được tiêu
thức phân bổ hợp lý.Tiêu thức phân bổ là tiêu thức phải bảo đảm được mối
quan hệ tỷ lệ giữa tổnh chi phí cần phân bổ với tiêu thức phân bổ của các đối
tượng.
Theo phương pháp phân bổ gián tiếp, trước hết ta phải tổng hợp toàn bộ
các chi phí sau đó tiến hành phân bổ cho từng đối tượng cụ thể. Trình tự phân

toán đến hạng mục, Công trình nào thì hạng mục công trình đó, đó chính là
đối tượng tính giá thành.
- Dựa vào phương thức thanh toán giữa hai bên (bên chủ công trình &
bên thi công):
Thanh toán 1 lần hay thanh toán nhiều lần .ở đây, giữa hai bên dã có sự
thoả thuận về thời gian thanh toán , có nghĩa là cứ đến một thời điểm nhất
định nào đó thì bên A sẽ thành toán cho bên B và giá trị cuả công trình tại
thời điểm đó chính là đối tượng tính giá thành.
14
Luận văn tốt nghiệp
Từ căn cứ trên ta xác định được đối tượng tính giá thành trong doanh
nghiệp xây lắp là sản phẩm hoàn chỉnh và sản phẩm hoàn thành theo giai
đoạn quy ước.
- Sản phẩm hoàn chỉnh (theo đơn đặt hàng), Là các công trình, hạng mục
công trình đã xây lắp xong đến giai đoạn cuối cùng của toàn bộ quy trình
công nghệ và chuẩn bị bàn giao cho đơn vị sử dụng. Giá thành sản phẩm hoàn
chỉnh là thước đo bù đắp chi phí đã bỏ ra nhưng không đáp ứng yêu cầu quản
lý kịp thời chỉ tính được khi công trình , hạng mục công trình đã hoàn thành.
- Sản phẩm hoàn thành theo giai đoạn quy ước : Là các đối tượng xây lắp
chưa kết thúc toàn bộ công tác quy định trong thiết kế kỹ thuật mà chỉ kết thúc
việc thi công đến một giai đoạn nhất định. Giá thành sản phẩm theo giai đoạn
quy ước phục vụ kịp thời cho việc kiểm tra tình hình sử dụng các loại chi phí.
2.3. Phương pháp tính giá thành sản phẩm trong Doanh nghiệp xây lắp.
Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong các DN xây dựng hiện
nay và sản suất xây dựng mang tính chất đơn chiếc, đối tượng tập hợp chi phí
sản xuất phù hợp với đối tượng tính giá thành. Hơn nữa, phương pháp này
cho phép cung cấp kịp thời số liệu, giá thành mọi kỳ báo cáo và cách tính toán
lại dẽ dàng.
Theo phương pháp này, tập hợp chi tiết tất cả các chi phí sản xuất trực
tiếp cho một công trình hạng mục công trình, từ khi khơỉ công đến khi hoàn

tính giá thành cho một hạng mục công trình, nếu các hạng mục công trình đều
có các dự toán khán nhau cùng thi công trên cùng một địa điểm do một công
truờng đảm nhận thì kế toán có thể căn cứ vào chi phí sản xuất của cả nhóm
và hệ số kinh tế đã quy định cho từng công trình. Để tính giá thành thực tế
cho hạng mục công trình đó phải tiến hành phân bổ theo những tiêu chuẩn
thích hợp với hệ số kinh tế kỹ thuật quy định cho từng hạng mục công trình.
Hệ số phân bổ được xác định như sau:
100.


=
dt
G
C
H
Trong đó : ∑C : Tổng chi phí thực tế của cả công trình.
∑ Gdt : Tổng dự toán của tất cả các hạng mục công trình.
Khi đó từng hạng mục công trình = Gdti * H
(Gdti: Dự toán của hạng mục công trình thứ i)
2.4. Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng.
Phương pháp này áp dụng trong trường hợp Doanh nghiệp nhận thầu xây
lắp theo đơn đặt hàng và khi đó,đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối
tượng tính giá thành là những đơn đặt hàng.
Theo phương pháp này,hàng tháng chi phí ssản xuất phát sinh được tập
hợp theo từng đơn đặt hàng và khi nào hoành thành công trình thì chi phí sản
xuất tập hợp được cuãn chính là giá thành thực tế của đơn đặt hàng. Những
đơn đặt hàng chưa sản xuất song thì toàn bộ chi phí tập hợp được theo đơn đặt
hàng đều là chi phí sản xuất của khối lượng xây lắp dở dang.
Trong thực tế phương pháp này được áp dụng với các loại sửa chữa nhà
cửa hoặc công tác xây lắp bên ngoài.

do thay đổi
định mức
±
Chênh lệch
do thoát ly
định mức
Ngoài 4 phương pháp trên, trong Doanh nghiệp xây dựng còn sử dụng
phương pháp tính giá thành theo hệ số, phương pháp kết hợp ...
17
Luận văn tốt nghiệp
IV. Phương pháp tập hợp chi phí sản suất trong doanh nghiệp xây dựng thực
hiện kế toán hạch toán chi phí sản suất theo phương pháp kê khai thường
xuyên .
1. Phương pháp hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Chi phí NVL trực tiếp bao gồm những chi phí về nguyên vật liệu chính, nửa
thành phẩm mua ngoài, vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng trực tiếp cho việc sản
xuất, chế tạo sản phẩm xây lắp hoặc thực hiên các lao vụ dịch vụ... Chi phí NVL
trực tiếp thường được xây dựng định mức chi phí và tổ chức quản lý theo định
mức.
Các chi phí phát sinh tuy là các chi phí trực tiếp nhưng có thể liên quan
đến 1 hay nhiều đối tượng tập hợp chi phí khác nhau. Do đó, để tập hợp chi
phí nguyên vật liệu trực tiếp vào đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có 2
phương pháp:
- Phương pháp tập hợp trực tiếp
- Phương pháp tập hợp gián tiếp .
Đối với những chi phí NVL trực tiếp chỉ liên quan tới từng đối tượng tập
hợp chi phí thì dùng phương pháp trực tiếp, trong trường hợp chi phí NVL
trực tiếp có liên quan tới nhiều đối tượng khác nhau không thể tập hợp trực
tiếp cho từng đối tượng thì phải lựa chọn tiêu thức phân bổ hợp lý và tiến
hành phân bổ cho các đối tượng có liên quan theo công thức sau:

đưa vào sử dụng
-
Trị giá còn lại
cuối kỳ
chưa sử dụng
-
Trị giá
phế liệu
thu hồi
* Để tập hợp và phân bổ NVL, vật liệu trực tiếp kế toán sử dụng tài
khoản 621.
- Chi phí NVL vật liệu trực tiếp.Tài khoản này không có số dư và được
mở chi tiết theo từng đối tượng tập hợp chi phí (phân xưởng, bộ phận sản
xuất, nhóm sản phẩm...)
Bên Nợ: Giá trị NVL xuất dùng trực tiếp cho chế tạo sản phẩm hay
thực hiện lao vụ dịch vụ
Bên có: - Giá trị vật liệu xuất dùng không hết.
- Kết chuyển chi phí vật liệu trực tiếp.
* Hạch toán chi phí nguyên, vật liệu dược tiến hành như sau:
- Xuất kho NVL sử dụng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm hay thực
hiện lao vụ dịch vụ :
Nợ TK 621:(Chi tiết theo từng đối tượng)
Có TK152: Giá thực tế xuất dùng theo từng loại .
- Nhận vật liệu không nhập kho mà xuất dùng trực tiếp cho sản xuất sản
phẩm hay thực hiện lao, vụ dịch vụ, căn cứ giá trị thực tế xuất dùng:
Nợ TK 621:(Chi tiết theo từng đối tượng )
Nợ TK 133(133.1): Thuế VAT được khấu trừ (với vật liệu mua ngoài
và doanh nghiệp tính thuế VAT theo phuaoang pháp khấu trừ)
Có TK 331,111,112: Vật liệu mua ngoài.
Có TK 411: Nhận cấp phát nhận liên Doanh .

20
Luận văn tốt nghiệp
Để tập hợp và phân bổ chi phí nhân công trực tiếp, kế toán sử dụng TK
622-Chi phí nhân công trực tiếp. TK này không có số dư và được mở chi tiết
theo từng đối tượng tập hợp chi phí dư TK 621.
Bên Nợ : Chi phí nhân công trực tiếp.
Bên Có : Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp.
* Phương pháp hạch toán:
- Tính ra tổng số tiền công tiền lương và phụ cấp phải trả cho công nhân
trực tiêp sản xuất hay thực hiện lao vụ dịch vụ trong kỳ:
Nợ TK 622: (Chi tiết theo đối tượng )
Có TK 334:Tổng số tiền lương và phụ cấp phải trả cho công
nhân trực tiếp
- Trích BHXH, BHYT và kinh phí công đoàn theo tỷ lệ quy định (phần
tính vào chi phí 19%)
Nợ TK622:(Chi tiết theo đối tượng )
Có TK338 (TK338.2;TK338.3;TK338.4)
- Tiền lương trích trước vào chi phí và các khoản tiền lương trích trước
khác :
Nợ TK 622
Có TK 335
- Cuối kỳ kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào tài khoản tính giá
thành theo từng đối tượng :
Nợ TK 154
Có TK 622
21
Luận văn tốt nghiệp
Sơ đồ 2:Sơ đồ hạch toán tổng hợp chi phí nhân công trực tiếp
TK 334 TK662 TK 154
Lương chính ,lương phụ Kết chuyển chi phí nhân

Hệ số tính đổi cho
Từng loại máy
=
Đơn giá kế hoạch 1 cá máy của loại máy tính đổi
Đơn giá 1 ca máy thấp nhất trong các loại máy
22
Luận văn tốt nghiệp
Số ca máy tiêu chuẩn
của từng loại máy
=
Số ca máy hoạt động
thực thực tế của loại máy
đó
*
Hệ số tính đổi
của loại máy
đó
Đơn giá một ca máy
=
Tổng chi phí sử dụng máy phát sinh
Tổng các máy tiểu chuẩn của các loại máy
Đơn giá một ca máy
tiêu chuẩn
=
Đơn giá một ca
máy tiêu chuẩn
*
Số ca máy tiêu chuẩn phục
vụ cho từng đối tượng
Sơ đồ 3: Sơ đồ kế toán tập hợp chi phí máy thi công

định có 6 tài khoản cấp 2:
TK627.1 Chi phí nhân viên
TK627.2 Chi phí vật liệu
TK627.3 Chi phí dụng cụ sản xuất
TK627.4 Chi phí khấu hao TSCĐ
TK627.7 Chi phí dịnh vụ mua ngoài
TK627.8 Chi phí bằng tiền khác.
Tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý của từng ngành, từng DN có thể mở thêm một
số TK cấp II khác để phản ánh nội dung chi phí hoặc yếu tố chi phí thích hợp.
24
Luận văn tốt nghiệp
Sơ đồ 4:Sơ đồ hạch toán tổng hợp chi phí sản xuất chung
TK334,338 TK627 TK154
Chi phí nhân viên và các khoản Kết chuyển CPSX
Trích theo lương của CNXSTT đã tập hợp và phân bổ
TK 152 cho các đối tượng có
Chi phí vật liệu liên quan
TK 153
Chi phí công cụ dụng cụ
TK 142(142.1)
TK214
Chi phí khấu hao TSCĐ
TK 311
Chi phí dịch vụ mua ngoài
TK111,112,141 TK133
Chi phí bằng tiền khác
5. Phương pháp tổng hợp chi phí sản xuất, kiểm kê và đánh giá sản
phẩm dở dang.
5.1. Tập hợp chi phí sản xuất toàn Doanh nghiệp.
Chi phí sản xuất sau khi tập hợp riêng từng khoản mục như đã nêu ở trên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status