Lời mở đầu
Hiện nay, trong nền kinh tế thị trờng mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận vẫn luôn là
mục tiêu cơ bản nhất của các doanh nghiệp, nó chịu sự chi phối đến mọi hoạt động
của doanh nghiệp. Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng luôn tìm và thực thi những giải
pháp nhằm hạ giá thành và nâng cao chất lợng sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất
ra. Nhng để làm đợc điều này thì không phải là đơn giản mà nó đòi hỏi các doanh
nghiệp bên cạnh việc tìm hớng đi đúng đắn cho mình còn phải có một chế độ kế
toán hợp lý tức phải phù hợp với thực tế, đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp
mình và phải bảo đảm chế độ tài chính kế toán. Việc hạch toán chi phí để tính ra
giá thành sản phẩm quyết định đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
và việc tăng hay giảm chi phí sản xuất ảnh hởng trực tiếp đến các chỉ tiêu kinh tế
khác.
Thấy rõ đợc tầm quan trọng trên, cùng với quá trình học tại trờng em đã đi
sâu vào nghiên cứu đề tài:
Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Công ty
xây dựng số 1
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chuyên đề sẽ kết cấu thành ba phần
nh sau:
Phần I: Lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp.
Phần II: Tình hình thực tế kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm ở xí nghiệp 101 - công ty xây dựng số 1.
Phần III: Một số ý kiến nhằm hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm ở công ty xây dựng số 1.
Vì thời gian và trình độ có hạn nên trong quá trình viết chuyên đề, em không
sao tránh khỏi những thiếu sót, em mong thầy, cô góp ý để chuyên đề đợc hoàn
thiện hơn. Đồng thời, em xin cảm ơn Cô Trần Thu Phong đã giúp em hoàn thành
bản chuyên đề này.
Phần thứ nhất
1
Lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá
đoạn thi công bao gồm nhiều công việc khác nhau. Khi đi vào từng công việc cụ
thể, do chịu ảnh hởng lớn của thời tiết khí hậu làm ngừng quá trình sản xuất và
làm giảm tiến độ thi công công trình. Sở dĩ có hiện tợng này vì phần lớn các công
trình đều đợc thực hiện ở ngoài trời, do vậymà điều kiện thi công không có tính ổn
định, luôn biến động theo địa điểm xây dựng và theo từng giai đoạn thi công công
trình.
Các công trình đợc ký kết tiến hành thi công đều đợc dựa trên đơn đặt hàng,
hợp đồng cụ thể của bên giao thầu xây lắp. Cho nên nó phụ thuộc vào nhu cầu của
khách hàng và thiết kế kỹ thuật của công trình đó. Khi có khối lợng xây lắp hoàn
thành, đơn vị xây lắp phải đảm bảo bàn giao đúng tiến độ, đúng thiết kế kỹ thuật,
đảm bảo chất lợng công trình.
2-/ Yêu cầu của công tác quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
xây lắp .
Do đặc thù của xây dựng và của sản phẩm xây dựng, nên việc quản lý về đầu
t xây dựng cơ bản có khó khăn phức tạp hơn một số ngành khác. Chính vì thế
trong quá trình quản lý đầu t xây dựng cơ bản phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Công tác quản lý đầu t và xây dựng cơ bản phải đảm bảo tạo ra những sản
phẩm, dịch vụ đợc xã hội và thị trờng chấp nhận về giá cả, chất lợng, đáp ứng các
mục tiêu phát triển kinh tế trong từng thời kỳ.
- Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, đẩy nhanh tốc độ tăng trởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của
nhân dân.
- Huy động và sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn đầu t trong nớc cũng
nh các nguồn vốn từ nớc ngoài đầu t vào Việt Nam, khai thác tốt tiềm năng lao
động, tài nguyên đất đai và mọi tiềm lực khác nhằm động viên tất cả tiềm năng
của đất nớc phục vụ cho quá trình tăng trởng, phát triển kinh tế đồng thời bảo vệ
môi trờng sinh thái.
- Xây dựng theo quy hoạch kiến trúc và thiết kế kỹ thuật đợc duyệt đảm bảo
bền vững mỹ quan. Thực hiện cạnh tranh trong xây dựng nhằm đáp ứng công nghệ
tiên tiến bảo đảm chất lợng và thời hạn xây dựng với chi phí hợp lý và thực hiện
đặt ra, vận dụng các phơng pháp tập hợp chi phí và phơng pháp tính giá thành một
cách khoa học hợp lý đảm bảo cung cấp một cách đầy đủ, kịp thời và chính xác
các số liệu cần thiết cho công tác quản lý. Cụ thể là:
4
- Xác định đúng đối tợng tập hợp chi phí sản xuất phù hợp với tổ chức sản
xuất ở doanh nghiệp, đồng thời xác định đúng đối tợng tính giá thành.
- Phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời toàn bộ chi phí sản xuất thực tế
phát sinh.
- Kiểm tra tình hình thực hiện các định mức chi phí, vật t nhân công sử
dụng máy thi công... và các dự toán chi phí khác. Phát hiện kịp thời các khoản
chênh lệch so với định mức dự toán các khoản chi phí ngoài kế hoạch, các
khoản thiệt hại mất mát, h hỏng trong sản xuất để đề ra các biện pháp ngăn
chặn kịp thời.
- Tính toán chính xác, kịp thời giá thành sản phẩm xây lắp các sản phẩm là
lao vụ hoàn thành của doanh nghiệp.
- Kiểm tra việc thực hiện hạ giá thành của doanh nghiệp theo từng công trình,
hạng mục công trình, từng loại sản phẩm lao vụ... vạch ra khả năng và các mức hạ
giá thành một cách hợp lý có hiệu quả.
- Xác định đúng đắn, bàn giao thanh toán kịp thời khối lợng công tác xây lắp
hoàn thành. Định kỳ kiểm tra và đánh giá khối lợng thi công dở dang theo nguyên
tắc quy định.
- Đánh giá đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của từng công
trình, hạng mục công trình, từng bộ phận thi công, tổ đội sản xuất... trong từng
thời kỳ nhất định. Kịp thời lập các báo cáo kế toán về chi phí sản xuất và tính giá
thành công tác xây lắp. Cung cấp chính xác, nhanh chóng các thông tin hữu dụng
về chi phí sản xuất và giá thành phục vụ cho yêu cầu quản lý của lãnh đạo xí
nghiệp.
4-/ Vai trò - ý nghĩa của công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm xây lắp trong doanh nghiệp xây dựng hiện nay.
4.1- Vai trò.
trong một thời kỳ nhất định, đợc biểu hiện bằng tiền.
Giá trị của sản phẩm xây lắp đợc biểu hiện.
G
xl
= C + V + m
Trong đó:
G
xl
: Giá trị sản phẩm xây lắp.
C : Là toàn bộ giá trị t liệu sản xuất tiêu hao trong quá trình tạo ra sản
phẩm xây lắp nh: khấu hao tài sản cố định, chi phí nguyên vật liệu... đợc gọi là lao
động vật hóa.
V : là chi phí tiền lơng, tiền công phải trả cho ngời lao động tham gia
quá trình xây lắp tạo ra sản phẩm xây dựng, nó đợc gọi là hao phí lao động cần
thiết.
m : Là giá trị mới do lao động sống tạo ra trong quá trình xây lắp tạo ra
sản phẩm xây dựng.
Về mặt lợng chi phí xây lắp phụ thuộc hai yếu tố.
- Khối lợng lao động và t liệu sản xuất đã bỏ ra trong quá trình xây lắp ở một
thời kỳ nhất định.
- Giá cả t liệu sản xuất đã tiêu hao trong quá trình sản xuất xây lắp và tiên l-
ợng của một đơn vị lao động đã hao phí.
Trong điều kiện giá cả thờng xuyên biến động thì việc tính toán đánh giá
chính xác chi phí sản xuất chẳng những là yếu tố khách quan mà còn là yêu cầu
hết sức quan trọng trong việc cung cấp thông tin cần thiết cho nhu cầu quản lý
của lãnh đạo doanh nghiệp, nhất là trong điều kiện hiện nay, doanh nghiệp phải
7
tự chủ hoạt động sản xuất kinh doanh, kinh doanh phải có lãi và bảo toàn đợc
vốn.
1.2- Phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp.
chi phí tiếp khách.
Phân loại chi phí theo tiêu thức này giúp ta biết đợc kết cấu, tỷ trọng của từng
loại chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh phục vụ cho yêu cầu thông tin và
quản trị trong doanh nghiệp để phân tích tình hình thực hiện dự toán chi phí lập dự
toán chi phí sản xuất kinh doanh cho kỳ sau.
1.2.2 Phân loại chi phí sản xuất sản xuất kinh doanh theo mục đích công
dụng của chi phí.
Theo cách phân loại này, căn cứ vào mục đích công dụng của chi phí trong
quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp xây lắp đợc chia thành:
- Chi phí sản xuất chế tạo sản phẩm xây lắp là toàn bộ chi phí liên quan đến
việc xây lắp, chế tạo sản phẩm cũng nh các chi phí liên quan đến hoạt động quản
lý và phục vụ sản xuất trong phạm vi các phân xởng, bộ phận tổ đội sản xuất, chi
phí sản xuất. Chi phí sản xuất chế tạo sản phẩm xây lắp đợc chia thành chi phí trực
tiếp và chi phí gián tiếp.
+ Chi phí trực tiếp là những chi phí có liên quan trực tiếp đến việc chế tạo sản
phẩm xây lắp bao gồm chi phí vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi
phí sử dụng máy thi công.
* Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (đã tính đến hiện trờng xây lắp) của
các vật liệu chính vật liệu phụ vật kết cấu vật liệu luân chuyển (ván khuôn cốp pha
giàn giáo) bán thành phẩm... cần thiết để tạo nên sản phẩm xây lắp.
* Chi phí nhân công trực tiếp gồm tiền lơng cơ bản, các khoản phụ
cấp lơng không ổn định hoặc không thống nhất trong các vùng tỉnh thành phố nếu
cha đợc tính tới trong đơn giá xây dựng cơ bản sẽ đợc hình thành một khoản riêng
trong dự toán công trình trong giá thành kế hoạch, giá trị thực tế của công trình
vào khoản mục chi phí nhân công. Với khoản chi phí tiền lơng của công nhân
điều khiển máy thi công đợc tính trong đơn giá xây dựng cơ bản cũng tính vào chi
phí nhân công trực tiếp. Chi phí tiền lơng của cán bộ quản lý công trình (bộ phận
gián tiếp) đợc tính vào chi phí sản xuất chung mà không tính vào chi phí nhân
công trực tiếp.
Để xây dựng một công trình hay hoàn thành một lao vụ... thì doanh nghiệp xây
dựng phải đầu t vào quá trình sản xuất thi công một lợng chi phí nhất định, những
10
chi phí sản xuất mà doanh nghiệp phải bỏ ra trong quá trình thi công sẽ tham gia
cấu thành quá trình đó. Vậy giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ chi phí sản xuất
bao gồm chi phí vật liệu chi phí nhân công chi phí sử dụng máy thi công chi phí trực
tiếp khác... tính cho từng công trình, hạng mục công trình hay khối lợng xây lắp
hoàn thành đến giai đoạn quy ớc đã hoàn thành nghiệm thu bàn giao và đợc chấp
nhận thanh toán ở doanh nghiệp xây dựng giá thành mang tính chất cá biệt. Nên
mỗi công trình, hạng mục công trình hay khối lợng xây lắp sau khi hoàn thành đều
có một giá thành riêng.
Biết đợc giá bán trớc khi có sản phẩm hoàn thành, trớc khi biết đợc giá thành
thực tế. Do vậy giá trị thực tế của công trình đó quyết định tới lỗ lãi của doanh
nghiệp. Tuy vậy trong điều kiện hiện nay, để đa dạng hóa hoạt động sản xuất kinh
doanh đợc sự cho phép của Nhà nớc, một số doanh nghiệp đã chủ động xây dựng
một số công trình (chủ yếu là công trình dân dụng nh nhà ở, văn phòng, cửa hàng),
sau đó bán lại cho đối tợng có nhu cầu sử dụng với giá cả hợp lý thì giá thành sản
phẩm xây lắp cũng là một yếu tố quan trọng để xác định giá bán.
2.2- Bản chất chức năng của giá thành sản phẩm.
Các chi phí sản xuất chế tạo sản phẩm luôn đợc biểu hiện ở mặt định tính và
mặt định lợng. Mục đích bỏ ra chi phí của doanh nghiệp là tạo nên giá trị sử dụng
nhất định để đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của xã hội. Trong điều kiện nền kinh tế thị
trờng các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp xây lắp nói riêng luôn quan tâm
tới hiệu quả của chi phí bỏ ra để với chi phí bỏ ra ít nhất, thu đợc giá trị sử dụng
lớn nhất và luôn tìm mọi biện pháp để hạ thấp chi phí nhằm mục đích thu lợi
nhuận tối đa. Trong hệ thống các chỉ tiêu kinh tế phục vụ công tác quản lý giá
thành sản phẩm là chỉ tiêu đáp ứng đợc nội dung thông tin trên.
Giá thành sản phẩm luôn chứa đựng hai mặt khác nhau vốn có bên trong của nó
là chi phí sản xuất đã chi ra và lợng giá trị sử dụng thu hồi đợc cấu thành trong khối l-
ợng sản phẩm công việc lao vụ xây dựng cơ bản đã hoàn thành. Nh vậy bản chất của
chính là giá nhận thầu của đơn vị xây lắp đối với đơn vị chủ thầu đầu t.
2.3.2 Giá thành kế hoạch.
Dựa trên những định mức tiên tiến của nội bộ xí nghiệp, giá thành kế hoạch
là cơ sở để phấn đấu hạ giá thành công tác xây lắp trong giai đoạn kế hoạch. Nó
phản ánh trình độ quản lý giá thành của xí nghiệp.
= -
12
(tính cho từng công trình, hạng mục công trình)
2.3.3 Giá thành thực tế.
Biểu hiện bằng tiền của tất cả các chi phí thực tế (chi phí nguyên vật liệu trực
tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất
chung) mà doanh nghiệp xây lắp đã bỏ ra để hoàn thành một đối tợng xây lắp nhất
định. Nó đợc xác định theo số liệu kế toán cung cấp. Giá thành thực tế không chỉ
bao gồm những chi phí trong định mức mà còn bao gồm những chi phí thực tế
phát sinh không nằm trong kế hoạch dự toán nh: thiệt hại phá đi làm lại thiệt hại
về ngừng sản xuất những mất mát hao hụt vật t ... do nguyên nhân chủ quan của
bản thân xí nghiệp.
Giữa ba loại giá thành trên có mối quan hệ về mặt số lợng thể hiện nh sau:
Giá thành dự toán > giá thành kế hoạch > giá thành thực tế.
Việc so sánh các loại giá thành này đợc thể hiện trên cùng một đối tợng tính
giá thành (từng công trình, hạng mục công trình hoặc khối lợng xây lắp hoàn
thành nhất định).
Xuất phát từ đặc điểm của sản phẩm xây dựng, để đáp ứng yêu cầu của công
tác quản lý về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong xí nghiệp xây dựng.
Giá thành công tác xây lắp hoàn chỉnh và giá thành của những công trình hạng
mục công trình đã hoàn thành bàn giao đợc chủ đầu t nghiệm thu và chấp nhận
thanh toán. Chỉ tiêu này cho phép đánh giá một cách chính xác và toàn diện hiệu
quả sản xuất, thi công trọn vẹn cho một công trình, hạng mục công trình.
Để đáp ứng yêu cầu quản lý và chỉ đạo sản xuất kịp thời đòi hỏi phải xác
định đợc giá thành khối lợng xây lắp quy ớc (Nếu quy định thanh toán khối lợng
phẩm trong doanh nghiệp xây lắp.
1-/ Đối tợng kế toán tập hợp chi phí và đối tợng tính giá thành sản phẩm công
tác xây lắp.
1.1- Đối tợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây
lắp:
Theo thông t số 23 BXDNKT ngày 15 tháng 12 năm 1994 của Bộ Xây dựng
thì dự toán xây lắp gồm các khoản mục: chi phí vật liệu, chi phí nhân công, chi phí
sử dụng máy thi công, chi phí chung, thuế và lãi.
14
Vì vậy khi xác định đối tợng tập hợp chi phí ở từng doanh nghiệp cần căn cứ
vào tính chất sản xuất, loại hình sản xuất địa điểm phát sinh quy trình công nghệ
sản xuất sản phẩm đặc điểm tổ chức sản xuất...
Căn cứ vào yêu cầu tính giá thành, yêu cầu quản lý, khả năng trình độ quản
lý, trình độ hạch toán của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp xây lắp, do đặc
điểm về sản phẩm, về tổ chức sản xuất và quá trình sản xuất nên đối tợng tập hợp
chi phí sản xuất thờng đợc xác định từng công trình, hạng mục công trình hay theo
từng đơn đặt hàng. Việc xác định đối tợng tập hợp chi phí sản xuất xây lắp đúng
và phù hợp có ý nghĩa rất to lớn trong việc tổ chức hạch toán ban đầu đến tổ chức
tổng hợp số liệu ghi chép trên tài khoản, sổ chi tiết.
1.2- Đối tợng tính giá thành.
Đối tợng tính giá thành là các loại sản phẩm, công việc lao vụ... do doanh
nghiệp xây lắp sản xuất ra đòi hỏi phải tính đợc giá thành và giá thành đơn vị. Xác
định đối tợng tính giá thành trong doanh nghiệp xây lắp là công trình hạng mục
công trình, khối lợng xây lắp hoàn thành bàn giao các sản phẩm lao vụ khác đã
hoàn thành (nếu có).
1.3- Phân biệt đối tợng tập hợp chi phí sản xuất và đối tợng giá thành sản
phẩm xây lắp.
Đối tợng tập hợp chi phí là căn cứ để mở các tài khoản, sổ chi tiết, tổ chức
ghi chép ban đầu tập hợp chi phí sản xuất chi tiết theo từng công trình hạng mục
công trình. Còn việc xác định đối tợng tính giá thành trong doanh nghiệp xây lắp
C - Tổng chi phí cần phân bổ.
T - Tổng đại lợng của tiêu thức phân bổ.
Mức chi phí phân bổ cho từng đối tợng: Ci = H x Ti
Trong đó: Ci - Chi phí sản xuất phân bổ cho đối tợng i
Ti - Đại lợng của tiêu chuẩn phân bổ của đối tợng i
Trờng hợp đối tợng tập hợp chi phí sản xuất là đội thi công hay công trờng
thì chi phí sản xuất phải tập hợp theo đội thi công hay công trờng. Cuối kỳ tổng số
chi phí tập hợp đợc phải đợc phân bổ cho từng công trình, HMCT để tính giá thành
sản phẩm riêng.
2.2 - Trình tự kế toán chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp.
2.2.1 - Kế toán chi phí vật liệu trực tiếp.
16
Chi phí nguyên liệu, vật liệu cho công trình gồm nhiều loại khác nhau nh: giá
trị thực tế của vật liệu chính (gạch, vôi, đá, cát, xi măng...), vật liệu phụ nh sơn,
công cụ dụng cụ... Trong giá thành sản phẩm, chi phí vật liệu chiếm tỷ trọng lớn
nhất.
Giá trị vật liệu đợc hạch toán vào khoản mục này, ngoài giá trị thực tế, ngời
bán cung cấp còn có cả chi phí thu mua, vận chuyển từ nơi mua tới nơi nhập kho
hay xuất thẳng tới công trình.
Vật liệu sử dụng cho xây dựng công trình (HMCT) nào thì phải tính trực tiếp
cho công trình (HMCT) đó trên cơ sở chứng từ gốc, theo giá thực tế vật liệu và
theo số lợng thực tế vật liệu đã sử dụng.
Trờng hợp vật liệu xuất dùng có liên quan đến nhiều đối tợng kế toán tập hợp
chi phí sản xuất thì không thể hạch toán trực tiếp vào các đối tợng sử dụng thì phải áp
dụng phơng pháp phân bổ gián tiếp để phân bổ chi phí cho các đối tợng có liên quan.
Tiêu thức phân bổ có thể là định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp hoặc số giờ
máy chạy hay theo khối lợng sản phẩm, công việc đã hoàn thành.
Tổng chi
phí VLTT
cần phân
Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản tiền phải trả, phải thanh toán cho
công nhân trực tiếp sản xuất, thi công nh tiền lơng, tiền công các khoản phụ cấp,
tiền BHXH, BHYT, KPCĐ...
Việc hạch toán tiền lơng của công nhân trong doanh nghiệp thì dựa trên bảng
chấm công theo dõi cho từng tổ sản xuất, cho từng đội xây dựng. Bảng chấm công
cho biết ngày làm việc thực tế, số ngày ngừng nghỉ của từng ngời, sau khi đã đợc
kiểm tra, xác nhận ở các đội sản xuất, các phòng ban, bảng chấm công đợc chuyển
lên cho phòng lao động tiền lơng ghi chép, theo dõi. Sau đó, chuyển về cho phòng kế
toán làm căn cứ tính lơng và phân bổ tiền lơng.
Về nguyên tắc, chi phí NCTT cũng đợc tập hợp giống nh đối với chi phí
NVLTT.
Trờng hợp cần phân bổ gián tiếp thì tiêu thức phân bổ có thể là tiền công, giờ
công định mức hoặc giờ công thực tế.
18
152, 153 621 154
142
(2a) (2b)
(1) (4)
(3)
Sơ đồ 2 - Kế toán chi phí nhân công trực tiếp.
(1) - Tiền lơng phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất.
(2) - Các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ.
(3) - Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp để tính giá thành.
2.2.3 - Kế toán chi phí sử dụng máy thi công
Tài khoản 623 dùng để tập hợp và phân bỏ chi phí sử dụng xe, máy thi công
phục vụ trực tiếp cho hoạt động xây, lắp công trình.
Tài khoản này chỉ sử dụng để hạch toán chi phí sử dụng xe, máy thi công đối
với trờng hợp doanh nghiệp xây lắp thực hiện xây, lắp công trình theo phơng thức
thi công hỗn hợp vừa thủ công vừa kết hợp bằng máy.
Trờng hợp doanh nghiệp thực hiện xây lắp công trình hoàn toàn theo phơng
khiển máy
Khi xuất, mua vật liệu phụ
cho máy thi công
Chi phí khấu hao máy thi công
Chi phí dịch vụ mua ngoài Chi
phí bằng tiền khác
Thuế GTGT được khấu trừ (nếu có)
Căn cứ vào bảng phân bổ chi
phí sử dụng máy thi công tính
cho từng CT, HMCT
Ghi chú:
Trường hợp thi công hoàn
toàn bằng máy, hạch toán toàn
bộ chi phí sử dụng máy vào TK
154 - chi phí sản xuất kinh
doanh.
Khoản trích BHXH, BHYT,
KPCĐ trên lương của công nhân
sử dụng máy không hạch toán
vào TK 623.
Sơ đồ 3 - Kế toán chi phí sản xuất chung
(1) - Chi phí nhân viên
(2) - Chi phí vật liệu, CCDC
(3) - Chi phí khấu hao TSCĐ, dịch vụ bên ngoài.
(4) - Chi phí khác bằng tiền
(5) - Kết chuyển hoặc phân bổ chi phí sản xuất chung để tính giá thành.
3-/ Đánh giá sản phẩm làm dở trong doanh nghiệp xây lắp
Sản phẩm làm dở trong doanh nghiệp xây lắp là các công trình, hạng mục
công trình dở dang cha hoàn thành hay khối lợng công tác xây lắp trong kỳ cha đ-
ợc bên chủ đầu t nghiệm thu, chấp nhận thanh toán.
công tác lắp đặt máy móc thiết bị. Nó đợc xác định theo công thức sau:
= x
3.3- Phơng pháp đánh giá theo giá trị dự toán
Theo phơng pháp này, chi phí thực tế khối lợng xây lắp dở dang cuối kỳ đợc
xác định theo công thức sau:
=
Ngoài ra đối với một số công việc sửa chữa, hoàn thiện hoặc xây dựng các
công trình có giá trị nhỏ thời gian thi công ngắn theo hợp đồng, đợc bên chủ đầu t
thanh toán sau khi hoàn thành toàn bộ công việc. Lúc này giá trị sản phẩm dở cuối
kỳ là toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh từ khi thi công cho đến thời điểm kiểm kê
đánh giá.
4-/ Phơng pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp.
Phơng pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp là phơng pháp sử dụng số liệu về
chi phí xây lắp để tính ra tổng giá thành và giá thành đơn vị thực tế của sản phẩm
xây lắp. Phơng pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp là phơng pháp sử dụng số
liệu về chi phí xây lắp để tính ra tổng giá thành và giá thành đơn vị thực tế của sản
phẩm xây lắp đã hoàn thành theo các yếu tố hoặc các khoản mục giá thành trong
kỳ tính giá thành đã đợc xác định. Trong đó, kỳ tính giá thành xây lắp là thời kỳ
22
bộ phận kế toán giá thành cần phải tính giá thành cho các công trình hạng mục
công trình.
Tuỳ theo đặc điểm của từng đối tợng tính giá thành mà kế toán phải lựa chọn
sử dụng một hoặc kết hợp nhiều phơng pháp thích hợp để tính giá thành cho một
hay nhiều đối tợng và ngợc lại. Trong các doanh nghiệp xây lắp thờng áp dụng các
phơng pháp tính giá thành sau.
4.1- Phơng pháp giản đơn (phơng pháp tính giá thành trực tiếp)
Phơng pháp này là phơng pháp tính giá thành đợc phổ biến rộng rãi trong các
doanh nghiệp xây lắp hiện nay, vì sản xuất thi công mang tính đơn chiếc, đối tợng
tập hợp chi phí sản xuất phù hợp với đối tợng tính. Hơn nữa, việc áp dụng phơng
pháp này cho phép cung cấp kịp thời số liệu giá thành cho mỗi kỳ báo cáo và cách
: là tổng dự toán của tất cả các hạng mục công trình.
4.2- Phơng pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng
Phơng pháp này áp dụng đối với doanh nghiệp nhận thầu xây lắp theo đơn
đặt hàng. Đối tợng tập hợp chi phí sản xuất là từng đơn đặt hàng. Kỳ tính giá
thành không phù hợp với kỳ báo cáo mà là khi đơn đặt hàng hoàn thành. Đối tợng
tính giá thành là đơn đặt hàng hoàn thành.
Theo phơng pháp này, hàng tháng chi phí sản xuất phát sinh đợc tập hợp theo
từng đơn đặt hàng và khi hoàn thành công trình hạng mục công trình thì chi phí
sản xuất theo đơn đặt hàng tập hợp đợc cũng chính là giá thành thực tế của đơn đặt
hàng đó.
Nếu đơn đặt hàng gồm nhiều hạng mục công trình, công trình đơn nguyên
khác nhau thì phải tính toán xác định số chi phí của từng hạng mục công trình,
công trình đơn nguyên liên quan tới đơn đặt hàng. Những chi phí trực tiếp đợc tập
hợp thẳng vào hạng mục công trình, công trình đơn nguyên chúng cần phải phân
bổ theo tiêu thức thích hợp.
4.3- Phơng pháp tính giá thành theo định mức.
Gồm ba bớc:
Bớc 1: Tính giá thành định mức của sản phẩm xây lắp
Giá thành định mức của sản phẩm xây lắp đợc căn cứ vào định mức kinh tế
kỹ thuật hiện hành để tính. Tuỳ thuộc vào từng trờng hợp cụ thể mà tính giá thành
định mức. Nó bao gồm giá thành định mức của các bộ phận chi tiết cấu thành lên
sản phẩm xây lắp hoặc giá thành sản phẩm của từng giai đoạn công trình hạng
mục công trình có thể tính luôn cho sản phẩm xây lắp.
Bớc 2: Xác định số chênh lệch do thay đổi định mức.
Vì giá thành định mức xây lắp tính theo định mức hiện hành nên khi thay đổi
định mức, cần phải tính toán lại định mức mới. Việc thay đổi định mức chỉ cần
tính toán số chênh lệch do thay đổi định mức chỉ cần tính đối với số sản phẩm làm
24
dở đầu kỳ vì chi phí tính cho sản phẩm làm dở đầu kỳ (cuối kỳ trớc) là theo định
mức cũ.