Kế toán chi phí sản xuất & tính giá thành sản phẩm ở Công ty Xây dựng số 1 - Pdf 16

LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận vẫn
luôn là mục tiêu cơ bản nhất của các doanh nghiệp, nó chịu sự chi phối đến mọi
hoạt động của doanh nghiệp. Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng luôn tìm và thực thi
những giải pháp nhằm hạ giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm do doanh
nghiệp sản xuất ra. Nhưng để làm được điều này thì không phải là đơn giản mà
nó đòi hỏi các doanh nghiệp bên cạnh việc tìm hướng đi đúng đắn cho mình còn
phải có một chế độ kế toán hợp lý tức phải phù hợp với thực tế, đặc điểm kinh
doanh của doanh nghiệp mình và phải bảo đảm chế độ tài chính kế toán. Việc
hạch toán chi phí để tính ra giá thành sản phẩm quyết định đến kết quả sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp và việc tăng hay giảm chi phí sản xuất ảnh hưởng
trực tiếp đến các chỉ tiêu kinh tế khác.
Thấy rõ được tầm quan trọng trên, cùng với quá trình học tại trường em đã
đi sâu vào nghiên cứu đề tài:
“Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Công ty
xây dựng số 1”
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chuyên đề sẽ kết cấu thành ba
phần như sau:
Phần I: Lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp.
Phần II: Tình hình thực tế kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm ở xí nghiệp 101 - công ty xây dựng số 1.
Phần III: Một số ý kiến nhằm hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm ở công ty xây dựng số 1.
Vì thời gian và trình độ có hạn nên trong quá trình viết chuyên đề, em
không sao tránh khỏi những thiếu sót, em mong thầy, cô góp ý để chuyên đề
được hoàn thiện hơn. Đồng thời, em xin cảm ơn Cô Trần Thu Phong đã giúp em
hoàn thành bản chuyên đề này.
Phần thứ nhất
Lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong
các doanh nghiệp xây lắp.

đoạn, mỗi giai đoạn thi công bao gồm nhiều công việc khác nhau. Khi đi vào
từng công việc cụ thể, do chịu ảnh hưởng lớn của thời tiết khí hậu làm ngừng
quá trình sản xuất và làm giảm tiến độ thi công công trình. Sở dĩ có hiện tượng
này vì phần lớn các công trình đều được thực hiện ở ngoài trời, do vậymà điều
kiện thi công không có tính ổn định, luôn biến động theo địa điểm xây dựng và
theo từng giai đoạn thi công công trình.
Các công trình được ký kết tiến hành thi công đều được dựa trên đơn đặt
hàng, hợp đồng cụ thể của bên giao thầu xây lắp. Cho nên nó phụ thuộc vào nhu
cầu của khách hàng và thiết kế kỹ thuật của công trình đó. Khi có khối lượng
xây lắp hoàn thành, đơn vị xây lắp phải đảm bảo bàn giao đúng tiến độ, đúng
thiết kế kỹ thuật, đảm bảo chất lượng công trình.
2-/ Yêu cầu của công tác quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
xây lắp .
Do đặc thù của xây dựng và của sản phẩm xây dựng, nên việc quản lý về
đầu tư xây dựng cơ bản có khó khăn phức tạp hơn một số ngành khác. Chính vì
thế trong quá trình quản lý đầu tư xây dựng cơ bản phải đáp ứng các yêu cầu
sau:
- Công tác quản lý đầu tư và xây dựng cơ bản phải đảm bảo tạo ra những
sản phẩm, dịch vụ được xã hội và thị trường chấp nhận về giá cả, chất lượng,
đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế trong từng thời kỳ.
- Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất tinh
thần của nhân dân.
- Huy động và sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn đầu tư trong nước
cũng như các nguồn vốn từ nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, khai thác tốt tiềm
năng lao động, tài nguyên đất đai và mọi tiềm lực khác nhằm động viên tất cả
tiềm năng của đất nước phục vụ cho quá trình tăng trưởng, phát triển kinh tế
đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái.
- “Xây dựng theo quy hoạch kiến trúc và thiết kế kỹ thuật được duyệt đảm
bảo bền vững mỹ quan. Thực hiện cạnh tranh trong xây dựng nhằm đáp ứng

đặt ra, vận dụng các phương pháp tập hợp chi phí và phương pháp tính giá thành
một cách khoa học hợp lý đảm bảo cung cấp một cách đầy đủ, kịp thời và chính
xác các số liệu cần thiết cho công tác quản lý. Cụ thể là:
- Xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phù hợp với tổ chức sản
xuất ở doanh nghiệp, đồng thời xác định đúng đối tượng tính giá thành.
- Phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời toàn bộ chi phí sản xuất thực tế
phát sinh.
- Kiểm tra tình hình thực hiện các định mức chi phí, vật tư nhân công sử
dụng máy thi công... và các dự toán chi phí khác. Phát hiện kịp thời các khoản
chênh lệch so với định mức dự toán các khoản chi phí ngoài kế hoạch, các
khoản thiệt hại mất mát, hư hỏng trong sản xuất để đề ra các biện pháp ngăn
chặn kịp thời.
- Tính toán chính xác, kịp thời giá thành sản phẩm xây lắp các sản phẩm là
lao vụ hoàn thành của doanh nghiệp.
- Kiểm tra việc thực hiện hạ giá thành của doanh nghiệp theo từng công
trình, hạng mục công trình, từng loại sản phẩm lao vụ... vạch ra khả năng và các
mức hạ giá thành một cách hợp lý có hiệu quả.
- Xác định đúng đắn, bàn giao thanh toán kịp thời khối lượng công tác xây
lắp hoàn thành. Định kỳ kiểm tra và đánh giá khối lượng thi công dở dang theo
nguyên tắc quy định.
- Đánh giá đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của từng công
trình, hạng mục công trình, từng bộ phận thi công, tổ đội sản xuất... trong từng
thời kỳ nhất định. Kịp thời lập các báo cáo kế toán về chi phí sản xuất và tính
giá thành công tác xây lắp. Cung cấp chính xác, nhanh chóng các thông tin hữu
dụng về chi phí sản xuất và giá thành phục vụ cho yêu cầu quản lý của lãnh đạo
xí nghiệp.
4-/ Vai trò - ý nghĩa của công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm xây lắp trong doanh nghiệp xây dựng hiện nay.
4.1- Vai trò.
Hạch toán kinh tế thúc đẩy tiết kiệm thời gian lao động, động viên các

G
xl
= C + V + m
Trong đó:
G
xl
: Giá trị sản phẩm xây lắp.
C : Là toàn bộ giá trị tư liệu sản xuất tiêu hao trong quá trình tạo ra
sản phẩm xây lắp như: khấu hao tài sản cố định, chi phí nguyên vật liệu... được
gọi là lao động vật hóa.
V : là chi phí tiền lương, tiền công phải trả cho người lao động tham
gia quá trình xây lắp tạo ra sản phẩm xây dựng, nó được gọi là hao phí lao động
cần thiết.
m : Là giá trị mới do lao động sống tạo ra trong quá trình xây lắp tạo
ra sản phẩm xây dựng.
Về mặt lượng chi phí xây lắp phụ thuộc hai yếu tố.
- Khối lượng lao động và tư liệu sản xuất đã bỏ ra trong quá trình xây lắp ở
một thời kỳ nhất định.
- Giá cả tư liệu sản xuất đã tiêu hao trong quá trình sản xuất xây lắp và tiên
lượng của một đơn vị lao động đã hao phí.
Trong điều kiện giá cả thường xuyên biến động thì việc tính toán đánh
giá chính xác chi phí sản xuất chẳng những là yếu tố khách quan mà còn là
yêu cầu hết sức quan trọng trong việc cung cấp thông tin cần thiết cho nhu
cầu quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp, nhất là trong điều kiện hiện nay,
doanh nghiệp phải tự chủ hoạt động sản xuất kinh doanh, kinh doanh phải có
lãi và bảo toàn được vốn.
1.2- Phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp.
Trong doanh nghiệp xây lắp, các chi phí sản xuất bao gồm loại có nội dung
kinh tế và công dụng khác nhau. Yêu cầu quản lý đối với từng loại chi phí cũng
khác nhau. Việc quản lý sản xuất, tài chính, quản lý chi phí sản xuất không

thông tin và quản trị trong doanh nghiệp để phân tích tình hình thực hiện dự toán
chi phí lập dự toán chi phí sản xuất kinh doanh cho kỳ sau.
1.2.2 Phân loại chi phí sản xuất sản xuất kinh doanh theo mục đích công
dụng của chi phí.
Theo cách phân loại này, căn cứ vào mục đích công dụng của chi phí trong
quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp xây lắp được chia thành:
- Chi phí sản xuất chế tạo sản phẩm xây lắp là toàn bộ chi phí liên quan đến
việc xây lắp, chế tạo sản phẩm cũng như các chi phí liên quan đến hoạt động
quản lý và phục vụ sản xuất trong phạm vi các phân xưởng, bộ phận tổ đội sản
xuất, chi phí sản xuất. Chi phí sản xuất chế tạo sản phẩm xây lắp được chia
thành chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp.
+ Chi phí trực tiếp là những chi phí có liên quan trực tiếp đến việc chế tạo
sản phẩm xây lắp bao gồm chi phí vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp
và chi phí sử dụng máy thi công.
* Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (đã tính đến hiện trường xây lắp)
của các vật liệu chính vật liệu phụ vật kết cấu vật liệu luân chuyển (ván khuôn cốp
pha giàn giáo) bán thành phẩm... cần thiết để tạo nên sản phẩm xây lắp.
* Chi phí nhân công trực tiếp gồm tiền lương cơ bản, các khoản
phụ cấp lương không ổn định hoặc không thống nhất trong các vùng tỉnh thành
phố nếu chưa được tính tới trong đơn giá xây dựng cơ bản sẽ được hình thành
một khoản riêng trong dự toán công trình trong giá thành kế hoạch, giá trị thực
tế của công trình vào khoản mục chi phí nhân công. Với khoản chi phí tiền
lương của công nhân điều khiển máy thi công được tính trong đơn giá xây dựng
cơ bản cũng tính vào chi phí nhân công trực tiếp. Chi phí tiền lương của cán bộ
quản lý công trình (bộ phận gián tiếp) được tính vào chi phí sản xuất chung mà
không tính vào chi phí nhân công trực tiếp.
* Chi phí sản xuất chung bao gồm tiền lương cơ bản,các chế độ bảo
hiểm xã hội,bảo hiểm y tế,KPCĐ cho nhân viên quản lý phân xưởng,các khoản
chi phí khác bằng tiền mặt hoặc vật liệu,công cụ dụng cụ cho phân xưởng cũng

phí sản xuất bao gồm chi phí vật liệu chi phí nhân công chi phí sử dụng máy thi
công chi phí trực tiếp khác... tính cho từng công trình, hạng mục công trình hay
khối lượng xây lắp hoàn thành đến giai đoạn quy ước đã hoàn thành nghiệm thu
bàn giao và được chấp nhận thanh toán ở doanh nghiệp xây dựng giá thành mang
tính chất cá biệt. Nên mỗi công trình, hạng mục công trình hay khối lượng xây lắp
sau khi hoàn thành đều có một giá thành riêng.
Biết được giá bán trước khi có sản phẩm hoàn thành, trước khi biết được
giá thành thực tế. Do vậy giá trị thực tế của công trình đó quyết định tới lỗ lãi
của doanh nghiệp. Tuy vậy trong điều kiện hiện nay, để đa dạng hóa hoạt động
sản xuất kinh doanh được sự cho phép của Nhà nước, một số doanh nghiệp đã
chủ động xây dựng một số công trình (chủ yếu là công trình dân dụng như nhà
ở, văn phòng, cửa hàng), sau đó bán lại cho đối tượng có nhu cầu sử dụng với
giá cả hợp lý thì giá thành sản phẩm xây lắp cũng là một yếu tố quan trọng để
xác định giá bán.
2.2- Bản chất chức năng của giá thành sản phẩm.
Các chi phí sản xuất chế tạo sản phẩm luôn được biểu hiện ở mặt định tính
và mặt định lượng. Mục đích bỏ ra chi phí của doanh nghiệp là tạo nên giá trị sử
dụng nhất định để đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của xã hội. Trong điều kiện nền
kinh tế thị trường các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp xây lắp nói riêng
luôn quan tâm tới hiệu quả của chi phí bỏ ra để với chi phí bỏ ra ít nhất, thu
được giá trị sử dụng lớn nhất và luôn tìm mọi biện pháp để hạ thấp chi phí nhằm
mục đích thu lợi nhuận tối đa. Trong hệ thống các chỉ tiêu kinh tế phục vụ công
tác quản lý giá thành sản phẩm là chỉ tiêu đáp ứng được nội dung thông tin trên.
Giá thành sản phẩm luôn chứa đựng hai mặt khác nhau vốn có bên trong của
nó là chi phí sản xuất đã chi ra và lượng giá trị sử dụng thu hồi được cấu thành
trong khối lượng sản phẩm công việc lao vụ xây dựng cơ bản đã hoàn thành. Như
vậy bản chất của giá thành sản phẩm là sự chuyển dịch giá trị của các yếu tố chi phí
vào sản phẩm xây lắp công việc lao vụ nhất định đã hoàn thành.
Giá thành sản phẩm có hai chức năng chủ yếu: chức năng thước đo bù đắp
chi phí và chức năng lập giá.

phản ánh trình độ quản lý giá thành của xí nghiệp.
= -
(tính cho từng công trình, hạng mục công trình)
2.3.3 Giá thành thực tế.
Biểu hiện bằng tiền của tất cả các chi phí thực tế (chi phí nguyên vật liệu
trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản
xuất chung) mà doanh nghiệp xây lắp đã bỏ ra để hoàn thành một đối tượng xây
lắp nhất định. Nó được xác định theo số liệu kế toán cung cấp. Giá thành thực tế
không chỉ bao gồm những chi phí trong định mức mà còn bao gồm những chi
phí thực tế phát sinh không nằm trong kế hoạch dự toán như: thiệt hại phá đi làm
lại thiệt hại về ngừng sản xuất những mất mát hao hụt vật tư ... do nguyên nhân
chủ quan của bản thân xí nghiệp.
Giữa ba loại giá thành trên có mối quan hệ về mặt số lượng thể hiện như sau:
Giá thành dự toán > giá thành kế hoạch > giá thành thực tế.
Việc so sánh các loại giá thành này được thể hiện trên cùng một đối tượng
tính giá thành (từng công trình, hạng mục công trình hoặc khối lượng xây lắp
hoàn thành nhất định).
Xuất phát từ đặc điểm của sản phẩm xây dựng, để đáp ứng yêu cầu của
công tác quản lý về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong xí nghiệp xây
dựng. Giá thành công tác xây lắp hoàn chỉnh và giá thành của những công trình
hạng mục công trình đã hoàn thành bàn giao được chủ đầu tư nghiệm thu và
chấp nhận thanh toán. Chỉ tiêu này cho phép đánh giá một cách chính xác và
toàn diện hiệu quả sản xuất, thi công trọn vẹn cho một công trình, hạng mục
công trình.
Để đáp ứng yêu cầu quản lý và chỉ đạo sản xuất kịp thời đòi hỏi phải xác
định được giá thành khối lượng xây lắp quy ước (Nếu quy định thanh toán khối
lượng hoàn thành theo giai đoạn quy ước).
Khối lượng xây lắp hoàn thành quy ước là khối lượng hoàn thành đến một
giai đoạn nhất định và phải thỏa mãn các điều kiện sau:
- Phải nằm trong thiết kế và đảm bảo chất lượng kỹ thuật.

Theo thông tư số 23 BXDNKT ngày 15 tháng 12 năm 1994 của Bộ Xây
dựng thì dự toán xây lắp gồm các khoản mục: chi phí vật liệu, chi phí nhân
công, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí chung, thuế và lãi.
Vì vậy khi xác định đối tượng tập hợp chi phí ở từng doanh nghiệp cần căn
cứ vào tính chất sản xuất, loại hình sản xuất địa điểm phát sinh quy trình công
nghệ sản xuất sản phẩm đặc điểm tổ chức sản xuất...
Căn cứ vào yêu cầu tính giá thành, yêu cầu quản lý, khả năng trình độ quản
lý, trình độ hạch toán của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp xây lắp, do đặc
điểm về sản phẩm, về tổ chức sản xuất và quá trình sản xuất nên đối tượng tập
hợp chi phí sản xuất thường được xác định từng công trình, hạng mục công trình
hay theo từng đơn đặt hàng. Việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
xây lắp đúng và phù hợp có ý nghĩa rất to lớn trong việc tổ chức hạch toán ban
đầu đến tổ chức tổng hợp số liệu ghi chép trên tài khoản, sổ chi tiết.
1.2- Đối tượng tính giá thành.
Đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm, công việc lao vụ... do doanh
nghiệp xây lắp sản xuất ra đòi hỏi phải tính được giá thành và giá thành đơn vị.
Xác định đối tượng tính giá thành trong doanh nghiệp xây lắp là công trình hạng
mục công trình, khối lượng xây lắp hoàn thành bàn giao các sản phẩm lao vụ
khác đã hoàn thành (nếu có).
1.3- Phân biệt đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng giá thành
sản phẩm xây lắp.
Đối tượng tập hợp chi phí là căn cứ để mở các tài khoản, sổ chi tiết, tổ chức
ghi chép ban đầu tập hợp chi phí sản xuất chi tiết theo từng công trình hạng mục
công trình. Còn việc xác định đối tượng tính giá thành trong doanh nghiệp xây
lắp lại là căn cứ để kế toán lập các bảng biểu chi tiết tính giá thành sản phẩm và
tổ chức công tác giá thành theo đối tượng tính giá thành.
Trên đây là đặc điểm khác nhau song giữa hai đối tượng này có mối quan
hệ mật thiết với nhau. Về bản chất chúng đều là phạm vi giới hạn để tập hợp chi
phí số liệu chi phí sản xuất đã tập hợp trong kỳ là cơ sở để tính giá thành sản
phẩm xây lắp hoàn thành. Trong doanh nghiệp xây lắp đối tượng tập hợp chi phí

kỳ tổng số chi phí tập hợp được phải được phân bổ cho từng công trình, HMCT
để tính giá thành sản phẩm riêng.
2.2 - Trình tự kế toán chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp.
2.2.1 - Kế toán chi phí vật liệu trực tiếp.
Chi phí nguyên liệu, vật liệu cho công trình gồm nhiều loại khác nhau như:
giá trị thực tế của vật liệu chính (gạch, vôi, đá, cát, xi măng...), vật liệu phụ như
sơn, công cụ dụng cụ... Trong giá thành sản phẩm, chi phí vật liệu chiếm tỷ
trọng lớn nhất.
Giá trị vật liệu được hạch toán vào khoản mục này, ngoài giá trị thực tế,
người bán cung cấp còn có cả chi phí thu mua, vận chuyển từ nơi mua tới nơi
nhập kho hay xuất thẳng tới công trình.
Vật liệu sử dụng cho xây dựng công trình (HMCT) nào thì phải tính trực
tiếp cho công trình (HMCT) đó trên cơ sở chứng từ gốc, theo giá thực tế vật liệu
và theo số lượng thực tế vật liệu đã sử dụng.
Trường hợp vật liệu xuất dùng có liên quan đến nhiều đối tượng kế toán tập
hợp chi phí sản xuất thì không thể hạch toán trực tiếp vào các đối tượng sử dụng thì
phải áp dụng phương pháp phân bổ gián tiếp để phân bổ chi phí cho các đối tượng
có liên quan. Tiêu thức phân bổ có thể là định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
hoặc số giờ máy chạy hay theo khối lượng sản phẩm, công việc đã hoàn thành.
Tổng chi
phí VLTT
cần phân
bổ trong kì
=
Giá trị
NVLTT còn
lại đầu kì
+
Giá trị
NVLTT xuất

Về nguyên tắc, chi phí NCTT cũng được tập hợp giống như đối với chi phí
NVLTT.
Trường hợp cần phân bổ gián tiếp thì tiêu thức phân bổ có thể là tiền công,
giờ công định mức hoặc giờ công thực tế.
152, 153 621 154
142
(2a) (2b)
(1) (4)
(3)
SƠ ĐỒ 2 - KẾ TOÁN CHI PHÍ NHÂN CÔNG TRỰC TIẾP.
(1) - Tiền lương phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất.
(2) - Các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ.
(3) - Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp để tính giá thành.
2.2.3 - Kế toán chi phí sử dụng máy thi công
Tài khoản 623 dùng để tập hợp và phân bỏ chi phí sử dụng xe, máy thi
công phục vụ trực tiếp cho hoạt động xây, lắp công trình.
Tài khoản này chỉ sử dụng để hạch toán chi phí sử dụng xe, máy thi công
đối với trường hợp doanh nghiệp xây lắp thực hiện xây, lắp công trình theo
phương thức thi công hỗn hợp vừa thủ công vừa kết hợp bằng máy.
Trường hợp doanh nghiệp thực hiện xây lắp công trình hoàn toàn theo
phương pháp bằng máy không sử dụng tài khoản 623 - chi phí sử dụng máy thi
công mà doanh nghiệp hạch toán các chi phí xây lắp trực tiếp vào các TK 621,
622, 627.
Không hạch toán vào TK 623 khoản trích về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
tế, kinh phí công đoàn tính trên lương phải trả công nhân sử dụng máy thi công.
338 (2 - 4)
334 622 154
(3)(1)
(2)
SƠ ĐỒ HẠCH TOÁN CHI PHÍ SỬ DỤNG MÁY THI CÔNG

tính cho từng CT, HMCT
Ghi chú:
Trường hợp thi công ho n à
to n bà ằng máy, hạch toán to n à
bộ chi phí sử dụng máy v o à
TK 154 - chi phí sản xuất kinh
doanh.
Khoản trích BHXH, BHYT,
KPCĐ trên lương của công
nhân sử dụng máy không hạch
toán v o TK 623.à
SƠ ĐỒ 3 - KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT CHUNG
(1) - Chi phí nhân viên
(2) - Chi phí vật liệu, CCDC
(3) - Chi phí khấu hao TSCĐ, dịch vụ bên ngoài.
(4) - Chi phí khác bằng tiền
(5) - Kết chuyển hoặc phân bổ chi phí sản xuất chung để tính giá thành.
3-/ Đánh giá sản phẩm làm dở trong doanh nghiệp xây lắp
Sản phẩm làm dở trong doanh nghiệp xây lắp là các công trình, hạng mục
công trình dở dang chưa hoàn thành hay khối lượng công tác xây lắp trong kỳ
chưa được bên chủ đầu tư nghiệm thu, chấp nhận thanh toán.
Đánh giá sản phẩm làm dở là tính toán, xác định phần chi phí sản xuất
trong kỳ cho khối lượng sản phẩm làm dở cuối kỳ theo nguyên tắc nhất định.
Muốn đánh giá sản phẩm làm dở một cách chính xác, trước hết phải tổ chức
kiểm kê chính xác khối lượng công tác xây lắp hoàn thành theo quy ước ở từng
giai đoạn thi công để xác định khối lượng công tác xây lắp dở dang, phát hiện
tổn thất trong quá trình thi công.
Chất lượng công tác kiểm kê khối lượng xây lắp dở dang có ảnh hưởng đến
tính chính xác của việc đánh giá sản phẩm làm dở và tính giá thành. Do đặc
điểm của sản phẩm của sản phẩm xây lắp có kết cấu phức tạp nên việc xác định

phẩm dở cuối kỳ là toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh từ khi thi công cho đến
thời điểm kiểm kê đánh giá.
4-/ Phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp.
Phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp là phương pháp sử dụng số
liệu về chi phí xây lắp để tính ra tổng giá thành và giá thành đơn vị thực tế của
sản phẩm xây lắp. Phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp là phương pháp
sử dụng số liệu về chi phí xây lắp để tính ra tổng giá thành và giá thành đơn vị
thực tế của sản phẩm xây lắp đã hoàn thành theo các yếu tố hoặc các khoản mục
giá thành trong kỳ tính giá thành đã được xác định. Trong đó, kỳ tính giá thành
xây lắp là thời kỳ bộ phận kế toán giá thành cần phải tính giá thành cho các công
trình hạng mục công trình.
Tuỳ theo đặc điểm của từng đối tượng tính giá thành mà kế toán phải lựa
chọn sử dụng một hoặc kết hợp nhiều phương pháp thích hợp để tính giá thành
cho một hay nhiều đối tượng và ngược lại. Trong các doanh nghiệp xây lắp
thường áp dụng các phương pháp tính giá thành sau.
4.1- Phương pháp giản đơn (phương pháp tính giá thành trực tiếp)
Phương pháp này là phương pháp tính giá thành được phổ biến rộng rãi
trong các doanh nghiệp xây lắp hiện nay, vì sản xuất thi công mang tính đơn
chiếc, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phù hợp với đối tượng tính. Hơn nữa,
việc áp dụng phương pháp này cho phép cung cấp kịp thời số liệu giá thành cho
mỗi kỳ báo cáo và cách tính đơn giản dễ thực hiện.
Theo phương pháp này, tập hợp tất cả các chi phí sản xuất phát sinh trực tiếp
cho một công trình hoặc hạng mục công trình từ khi khởi công đến khi hoàn thành
chính là giá thành thực tế của công trình hạng mục công trình đó. Có thể căn cứ
vào chi phí sản xuất của cả nhóm và hệ số kinh tế kỹ thuật cho từng công trình
hạng mục công trình nhằm tính giá thành thực tế cho hạng mục công trình đó.
Trong trường hợp công trình hạng mục công trình chưa hoàn thành mà có
khối lượng xây lắp hoàn thành bàn giao thì cần phải tính giá thành thực tế.
= + -
=


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status